Thuyết Minh Về Yên Bái ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Yên Bái Hay

Thuyết Minh Về Yên Bái ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Yên Bái Hay ✅ Chia Sẻ Tuyển Tập Văn Mẫu Đặc Sắc Viết Về Nét Đẹp Của Vùng Đất Tây Bắc Tổ Quốc.

Bài Viết Giới Thiệu Về Yên Bái – Mẫu 1

Bài viết giới thiệu về Yên Bái sẽ đưa bạn đọc khám phá về vùng đất vùng trung du miền núi Tây Bắc với những nét đặc trưng riêng có qua những ý văn thuyết minh hay.

Nằm ở cửa ngõ miền Tây Bắc của Tổ quốc, Yên Bái là tỉnh miền núi, có vị trí phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và phía Tây giáp tỉnh Sơn La.

Với vị trí địa lý nằm trên trung điểm của một trong những tuyến hành lang kinh tế chủ lực Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, có hệ thống giao thông tương đối đa dạng đã tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi để Yên Bái tăng cường hội nhập và giao lưu kinh tế thương mại, phát triển văn hóa xã hội… không chỉ với các tỉnh trong vùng, các trung tâm kinh tế lớn trong cả nước mà còn cả trong giao lưu kinh tế quốc tế, đặc biệt là với các tỉnh phía Tây Nam của Trung Quốc và các nước trong khối ASEAN.

Yên Bái là một tỉnh miền núi, có phong cảnh thiên nhiên đa dạng, môi trường sinh thái trong lành với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng là tiềm năng cho việc đầu tư xây dựng các điểm du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học. Khu du lịch danh thắng hồ Thác Bà có diện tích trên 19.000 ha, với trên 1.300 hòn đảo lớn, nhỏ được bao bọc bởi dãy núi hùng vĩ và nhiều hang động kỳ thú như: động Thủy Tiên, động Xuân Long, hang Bạch Xà, núi Cao Biền, núi Chàng Rể và được gọi là “Vịnh Hạ Long trên núi”. Nơi đây có tiềm năng phát triển các loại hình du lịch sinh thái với quy mô lớn.

Khu vực Miền Tây (huyện Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ) có cánh đồng Mường Lò – vựa lúa lớn thứ hai vùng Tây Bắc. Các danh lam thắng cảnh và điểm du lịch độc đáo như Suối Giàng nằm trên độ cao gần 1.400m – nơi có chè San Tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi, suối nước nóng Bản Bon – nguồn nước nóng thiên nhiên tinh khiết.

Cùng với đó là lùng ruộng bậc thang Mù Cang Chải với 2.300 ha đã được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt và được báo chí Mỹ ca ngợi là có vẻ đẹp ngoạn mục, tinh tế nhất trên thế giới; khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu huyện Văn Yên; hồ Đầm Vân Hội thuộc huyện Trấn Yên; khu bảo tồn loài và sinh cảnh xã Chế Tạo, huyện Mù Cang Chải… rất thích hợp với việc phát triển các khu nghỉ sinh thái, hệ thống các nhà nghỉ đơn lập kiến trúc vùng cao, các khu sinh cảnh…

Bên cạnh đó, Yên Bái còn có nhiều di tích văn hóa, lịch sử lâu đời phục vụ cho du lịch văn hóa – tâm linh như: Đền Đông Cuông, Đền Nhược Sơn, Khu chùa – Đền Hắc Y – Đại Cại, Đền Thác Bà, Động Hương Thảo, Chùa Ngọc Am… cùng với văn hóa ẩm thực của các dân tộc và kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú như múa xòe, múa khèn, hát giao duyên… là yếu tố thu hút khách du lịch trong nước ngoài nước.

Cùng với văn mẫu thuyết minh về Yên Bái, SCR.VN tặng bạn 💧 Giới Thiệu Về Một Danh Lam Thắng Cảnh 💧 17 Bài Văn Hay

Thuyết Minh Về Tỉnh Yên Bái Hay Nhất – Mẫu 2

Văn mẫu thuyết minh về tỉnh Yên Bái hay nhất sẽ mang đến cho các em học sinh những gợi ý thú vị để bắt đầu bài viết của bản thân.

Tỉnh Yên Bái có nhiều lợi thế về danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các sản phẩm du lịch độc đáo. Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái đang tạo nên những điểm nhấn trong diện mạo du lịch của miền Bắc.

Vùng đất này chứa đựng các giá trị văn hóa tinh thần phong phú, đa dạng, được xác lập trong lịch sử lâu đời cùng với tín ngưỡng bản địa, phản ánh qua các di chỉ tiêu biểu nền văn hóa Đông Sơn, cùng nhiều công trình kiến trúc tâm linh, đình, chùa cổ nổi tiếng được xây dựng và phát triển qua nhiều thế hệ người dân như: đền Đông Cuông, Tuần Quán, Nhược Sơn, chùa Bách Lẫm, Ngọc Am…

Tỉnh Yên Bái có dòng sông Hồng bồi đắp phù sa, tạo lên những cánh đồng bằng phẳng đan xen cùng núi non vươn sát bờ sông tạo thành những khung cảnh thiên nhiên ngoạn mục. Từ lợi thế thiên nhiên với trí tuệ và bàn tay con người tạo dựng, những khát vọng về sự yên ấm thơ mộng được đặt cho các tên làng, trở thành dấu ấn không phai nhạt như Châu Quế, Yên Hưng, Lan Đình, Cổ Phúc, Yên Lương, Âu Lâu, Bình Phương, Linh Thông, Minh Quân, Nga Quán…

Thiên nhiên ban tặng Yên Bái một phong cảnh non nước hữu tình với nhiều cảnh quan đẹp như ruộng bậc thang Mù Cang Chải, chè Suối Giàng, hay khu du lịch Hồ Thác Bà… Những ai đã từng đặt chân đến vùng đất Yên Bái đều cảm thấy sức hấp dẫn qua những trải nghiệm ấn tượng nơi mảnh đất đa sắc màu văn hóa này.

Mù Cang Chải là một huyện nhỏ ở phía tây tỉnh Yên Bái, nằm dưới chân dãy núi Hoàng Liên Sơn ở độ cao trên 1.000 mét so với mực nước biển. Để đến được huyện này phải qua đèo Khau Phạ, một trong những con đèo ngoạn mục nhất của núi rừng Tây Bắc. Cảnh đẹp nơi đây là những thửa ruộng bậc thang nằm trên các sườn núi, lớp nọ gối tiếp lớp kia trên diện tích khoảng 2.200 ha. Năm 2007, 500 ha diện tích ruộng bậc thang thuộc 3 xã La Pán Tẩn, Chế Cu Nha, Dế Xu Phình đã được xếp hạng là di tích quốc gia như là một trong những danh thắng độc đáo bậc nhất tại Việt Nam.

Ai đã đến huyện Văn Chấn, Yên Bái chắc hẳn đều mong muốn ít nhất được một lần đặt chân đến vùng chè Shan tuyết Suối Giàng, để thưởng thức thứ chè nổi tiếng của người Mông, mà đồng bào các dân tộc nơi đây vẫn thường nhắc đến như một niềm tự hào. Từ những năm 1960, các nhà nghiên cứu chè ở Việt Nam và thế giới đã xác định có khoảng 80.000 cây chè Shan Tuyết có tuổi đời trên 200 năm, nhiều cây lên tới 300 năm tuổi ở rừng chè Suối Giàng. Rừng chè cổ bao phủ khoảng 293 ha là một điểm đến độc đáo của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

Tỉnh Yên Bái có 30 dân tộc anh em cùng chung sống, đoàn kết, gắn bó, có nền văn hoá đa sắc tộc, hình thành nền văn minh sông Hồng rực rỡ. Từ bao đời nay, điệu xòe Thái trở thành một đặc trưng văn hóa, là “tài sản chung” của nhiều dân tộc ở Tây Bắc. Điệu xòe luôn xuất hiện trong các lễ hội, những ngày vui của bản làng, điệu xòe mang lời chào, mời gọi du khách gần xa. Đó là tiếng lòng của bà con gửi gắm trong điệu múa quyến rũ giữa non ngàn Tây Bắc. Múa xòe biểu hiện sự đoàn kết thân thiện gắn bó, có tính tập thể, dân chủ cao nên người Thái đều biết múa xòe và yêu thích nghệ thuật xòe.

Vòng xòe Thái lớn nhất được nhiều người biết đến và được ghi nhận kỷ lục là màn biểu diễn Đại xòe đón Bằng công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia “Xòe Thái – Mường Lò, Nghĩa Lộ” năm 2013 với sự tham gia của 2033 người, trong đó có 2013 người tập luyện 6 điệu xòe cổ và 20 người tham gia dàn nhạc cụ dân tộc. Đến nay, nghệ thuật xòe Thái đã lan tỏa rộng rãi tới nhiều vùng miền trên cả nước.

Các làng văn hóa được tạo dựng, chính là nơi giữ gìn cảnh quan môi trường thiên nhiên và bảo tồn các giá trị văn hóa dân gian được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đó là những lễ hội truyền thống của cộng đồng các dân tộc Yên Bái như Lễ hội cấp sắc của người Dao ở Đại Sơn; Lễ hội xuống đồng của đồng bào Mường ở Quy Mông; Lễ hội cầu cơm mới đền Đông Cuông; Lễ hội Hoa Ban Mường Lò; Lễ hội đền mẫu Thác Bà… Các lễ hội này không chỉ chứa đựng các giá trị phi vật thể mà còn là kết tinh truyền thống văn hóa của cộng đồng các dân tộc trên mảnh đất Yên Bái.

Cùng các di sản, di tích trên, tỉnh Yên Bái còn lưu giữ nhiều địa danh lịch sử, văn hóa khác như: Di tích lịch sử Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái; Chiến khu Vần, huyện Trấn Yên; Khu ủy Tây Bắc, xã Phù Nham (Văn Chấn) – “Địa chỉ đỏ” kháng chiến chống Pháp; Di tích lịch sử khảo cổ học Hắc Y (Lục Yên); Đèo Lũng Lô (Văn Chấn) – con đường huyết mạch góp phần làm lên chiến thắng Điện Biên Phủ; Khu bảo tồn loài sinh cảnh Chế Tạo (Mù Cang Chải); các hồ nước lớn có phong cảnh kỳ vĩ, rất thuận lợi để phát triển du lịch như hồ Thác Bà, Hồ Chóp Dù… các lễ hội truyền thống và hội xuân của các dân tộc ít người.

Tiêu biểu như Lễ hội Văn hóa – Du lịch Mường Lò và khám phá danh thắng Quốc gia ruộng bậc thang Mù Cang Chải; Lễ hội du lịch về nguồn 3 tỉnh Phú Thọ – Yên Bái – Lào Cai; mở rộng khai thác nhiều tuyến du lịch mới như: du lịch trải nghiệm, du lịch sinh thái nước nóng và du lịch cộng đồng; du lịch chuyên đề (tâm linh, lịch sử, sinh thái, làng nghề). Đồng thời tập trung phát triển cơ sở hạ tầng và hệ thống giao thông kết nối các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.

Với tiềm năng và thế mạnh sẵn có của thiên nhiên và con người Yên Bái, tin rằng vùng đất giàu tiềm năng này sẽ luôn là điểm đến thân thiện và hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước.

Đọc nhiều hơn dành cho bạn ☀️ Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử ☀️ 17 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Giới Thiệu Về Thành Phố Yên Bái Ngắn Gọn – Mẫu 3

Tham khảo bài thuyết minh giới thiệu về thành phố Yên Bái ngắn gọn sẽ giúp các em học sinh dễ dàng và nhanh chóng chuẩn bị cho bài viết trên lớp.

Nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây Bắc, Việt Bắc và trung du Bắc Bộ, thành phố Yên Bái nằm ở vị trí phía Bắc và phía Đông giáp huyện Yên Bình, phía Tây và phía Nam giáp huyện Trấn Yên.

Thành phố Yên Bái trong suốt chiều dài lịch sử đã trải qua nhiều lần thay đổi về địa danh và địa giới hành chính. Thời các Vua Hùng, mảnh đất này nằm trong bộ Tân Hưng, thời phong kiến Bắc thuộc nằm trong vùng đất Tượng Quân, Giao Chỉ rồi Phong Châu. Đến thế kỷ XI (thời nhà Lý) thuộc châu Đăng. Thế kỷ XVI (đời Lê Thành Tông) nằm trong lộ Quy Hoá thuộc tỉnh Hưng Hoá. Cuối thế kỷ XVI là một làng nhỏ bé trong tổng Bách Lẫm, phủ Quy Hoá thuộc tỉnh Hưng Hoá.

Ngày nay, thành phố Yên Bái gồm 17 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm 9 phường: Yên Thịnh, Yên Ninh, Minh Tân, Nguyễn Thái Học, Đồng Tâm, Nguyễn Phúc, Hồng Hà, Hợp Minh, Nam Cường và 8 xã: Minh Bảo, Tuy Lộc, Tân Thịnh, Văn Phú, Văn Tiến, Phúc Lộc, Âu Lâu, Giới Phiên.

Dân cư của thành phố Yên Bái mang đặc trưng của cư dân thành thị vùng cao. Ở vị trí nằm trên các tuyến đường giao thông huyết mạch thuỷ, bộ nên thành phố Yên Bái trở thành một trong những đầu mối thông thương quan trọng giữa miền ngược và miền xuôi. Đạo Phật, Đạo Thiên chúa đã thâm nhập vào đây từ rất sớm chứng tỏ đây là một vùng đất mở để đón nhận những khả năng và tiềm thức mới để thúc đẩy sinh hoạt và đời sống cộng đồng

Thành phố Yên Bái có quần thể di tích tôn giáo, tín ngưỡng gồm đền Tuần Quán là một ngôi đền cổ có từ thế kỷ 14 thời nhà Lê, đền – chùa Bách Lẫm, chùa Ngọc Am, nhà thờ Yên Bái. Trên địa bàn thành phố còn có các di tích được công nhận là di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia là: Khu di tích lịch sử Nguyễn Thái Học và lễ đài tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khu di tích lịch sử Nguyễn Thái Học có các hạng mục như khu lăng mộ, khu tượng đài, bia tưởng niệm, nhà đón khách và khuôn viên cây cảnh. Phần tượng đài có nhóm tuợng đài của 5 nghĩa sĩ (Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Nguyễn Thị Giang, Ngô Hải Hoàng) đứng trên một đám mây lịch sử cách điệu. Đây là các anh hùng trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930 với câu nói nổi tiếng: “Không thành công cũng thành nhân”.

Các tượng đài đều làm bằng chất liệu bê tông phủ kẽm với chiều cao trung bình các nhân vật là 6m. Xung quanh còn có cây cảnh, hồ nước tạo nên một vẻ đẹp trang trọng của khu di tích. Lễ đài tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi trong các ngày kỷ niệm trọng đại, các cơ quan, đoàn thể, tổ chức tập thể, cá nhân tới tổ chức lễ dâng hương tưởng nhớ và báo công với Bác. Du khách thích mua sắm có thể ghé thăm chợ Yên Bái (chợ Ga) với nhiều mặt hàng phong phú.

Với lợi thế là trung tâm kinh tế, văn hóa chính trị của tỉnh, thành phố Yên Bái đã nhanh chóng nắm lấy thời cơ, đẩy mạnh việc thu hút đầu tư, lựa chọn những dự án thân thiện với môi trường, phù hợp với điều kiện phát triển đô thị.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Thuyết Minh Về Quê Hương Yên Bái Của Em – Mẫu 4

Đón đọc bài thuyết minh về quê hương Yên Bái của em với những ý văn đặc sắc và cách diễn đạt khéo léo, cuốn hút người đọc.

Yên Bái là một tỉnh miền núi, nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, có tới 30 dân tộc anh em cùng chung sống và có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Là “cửa ngõ phên dậu” vùng Tây Bắc, nơi giao thoa của hai khu vực Đông Bắc – Tây Bắc, của những nền văn hoá đa sắc tộc, hình thành nên nền văn minh sông Hồng rực rỡ. Thiên phú và sự sáng tạo lao động của cộng đồng các dân tộc Yên Bái đã tạo nên một vùng đất nhiều tiềm năng. Cùng dòng chảy của lịch sử dân tộc Việt Nam, nhân dân các dân tộc Yên Bái đã hun đúc nên truyền thống yêu nước, đoàn kết, anh dũng, kiên cường trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, trong các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Sự hấp dẫn của vùng đất này là hình sông thế núi, được kiến tạo dọc sông Hồng trên nền phù sa cổ sinh, với những cánh đồng bằng phẳng đan xen cùng núi non ngoạn mục vươn sát bờ sông tạo thành những lát cắt phóng khoáng, trùng điệp, đó là tặng vật của thiên nhiên để con người gây dựng nên những xóm làng trù mật và thanh bình. Từ đây, những khát vọng về sự yên ấm thơ mộng được đặt cho các tên làng, trở thành dấu ấn không thể phai nhạt như Châu Quế, Yên Hưng, Lan Đình, Cổ Phúc, Yên Lương, Âu Lâu, Bình Phương, Linh Thông, Minh Quân, Nga Quán…Những tên làng nhắc tới là biết ngay đất Yên Bái.

Dải đất này trầm tích bao bí mật của quá khứ, từ thủa xa xưa. Những kết quả khảo cổ học cho thấy đây là vùng đất có lịch kỳ từ thời đá mới trải dài tới đồ đồng, đồ sắt. Tiêu biểu nhất tương ứng với thời kỳ đá Sơn Vi tìm thấy ở Mậu A, được các nhà khảo cổ đánh giá là di chỉ có những đặc trưng nổi trội nhất. Dọc lưu vực sông là quê hương của thạp đồng Đào Thịnh, thạp đồng Hợp Minh nổi tiếng quốc gia cùng vô số đồ đồng phát lộ, được người xưa chôn dấu dọc dải đất hai bên bờ sông. Vùng đất này cũng là vùng còn chứa nhiều bí ẩn đầy ký ức của cư dân cổ xưa, đang rất cần được các nhà khoa học khám phá.

Cùng với trí tuệ và bàn tay tạo dựng của con người, nhiều nơi ngoài việc trồng lúa nước còn phát triển các làng nghề: trồng dâu nuôi tằm, đan lát thủ công làm miến, kéo mật, cùng với những rừng quế bạt ngàn, những nương chè ngút ngát xanh tươi. Các làng văn hóa được tạo dựng, chính là nơi giữ gìn cảnh quản môi trường thiên nhiên và bảo tồn các giá trị văn hóa dân gian được bao thế hệ lưu truyền.

Ở đây có thể bắt gặp cái lạ và độc đáo của khèn “ma nhí”, sáo “cúc kẹ” dân tộc Xa Phó, cũng như sự huyên linh trong “tết nhẩy” của dân tộc Dao và các giá trị phi vật thể khác đang tiềm ẩn trong nhân dân. Đó là kết quả của lao động sản xuất và nhu cầu sinh hoạt tinh thần của người dân các dân tộc sáng tạo nên.

Đồng hành cùng với lịch sử, các giá trị văn hóa tinh thần được xác lập cùng với tín ngưỡng bản địa, các đình đền miếu mạo được nhân dân tôn ái xây dựng. Những đền chùa nổi tiếng trong vùng như đền Đông Cuông, Tuần Quán, Nhược Sơn, chùa Bách Lẫm, Ngọc Am được tu bổ, đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân và cũng là các di tích văn hóa gắn với các truyền tích được người dân lưu giữ.

Các dấu tích đình đền còn gắn với các sự kiện lịch sử từng xẩy ra trên mảnh đất này đó là, đền Nhược Sơn gắn với tên tuổi Hà Bổng, Hà Chương thời kỳ chống Nguyên Mông; Đền Đông Cuông (còn gọi là đền Thần Vệ Quốc) gắn với khởi nghĩa Giáp Dần (1914) của đồng bào Tày, Dao địa phương chống thực dân Pháp, đền Tuần Quán gắn với khởi nghĩa Yên Bái tháng 2 năm 1930 của các chí sĩ yêu nước tụ họp ở đây trước khi khởi sự.

Thành phố Yên Bái còn nổi bật di tích lịch sử văn hóa Lễ đài nơi Bác Hồ nói chuyện với các nhân dân các dân tộc Yên Bái (ngày 24/9/1958) giữa trung tâm thành phố,một địa chỉ quen thuộc với cả nước là di tích lịch sử văn hóa: Lăng mộ Nguyễn Thái Học và các nhà yêu nước hy sinh năm 1930 trong khởi nghĩa Yên Bái chống thực dân Pháp nổi tiếng đương thời, được tọa lạc trong công viên Yên Hòa khoáng đạt.

Trung tâm Yên Bái còn là nơi cửa ngõ nối giữa Đông Bắc với Tây Bắc của Tổ quốc, có đường sắt và đường bộ nối Hà Nội và các tỉnh đồng bằng trung du với Vân Nam – Trung Quốc. Nơi đây còn có chiến khu Vần Dọc của thời kháng chiến chống Pháp, có bến phà Âu Lâu đã trở thành di tích lịch sử văn hóa của địa phương.

“Lịch sử là dòng chảy, truyền thống là hành trang”, chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh những năm qua là niềm tự hào về những chiến công, những thành tích đã đạt được, đồng thời cũng nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, mục tiêu trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu xây dựng Yên Bái trở thành tỉnh phát triển khá trong vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.​

Bên cạnh văn mẫu thuyết minh về Yên Bái, đón đọc tuyển tập ☀️ Thuyết Minh Về Sơn La ☀️ 15 Bài Giới Thiệu Sơn La Hay Nhất

Giới Thiệu Về Du Lịch Yên Bái – Mẫu 5

Với đề văn yêu cầu giới thiệu về du lịch Yên Bái, các em học sinh có thể tham khảo bài thuyết minh mẫu dưới đây để có thêm cho mình những ý văn phong phú hơn.

Được coi là “hiểm địa” vùng Tây Bắc, những điểm đến ở Yên Bái thiên về khám phá và trải nghiệm. Yên Bái sở hữu vẻ đẹp thơ mộng, non nước hữu tình và đa dạng bản sắc văn hóa hứa hẹn mang cho bạn những trải nghiệm tuyệt vời.

Với đặc điểm địa hình có độ dốc lớn, cao dần từ đông sang tây, từ Nam lên Bắc, độ cao trung bình 600m so với mặt biển đã mang đến cảnh quan đặc sắc cho Yên Bái. Cùng với thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ, Yên Bái còn được biết đến là vùng đất có nền văn hóa đặc sắc của 30 dân tộc anh em cùng chung sống. Đây là những tiềm năng quan trọng để Yên Bái phát triển du lịch, từng bước đưa du lịch thành ngành kinh tế chủ lực của địa phương.

Nằm ở phía Tây Nam tỉnh Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ bao trùm toàn bộ cánh đồng Mường Lò – cánh đồng lớn thứ hai của miền núi Tây Bắc Việt Nam. Đây là vùng khí hậu ôn hoà, địa hình tương đối bằng phẳng, tài nguyên nước có trữ lượng lớn. Cánh đồng Mường Lò là điểm nhấn du lịch của Nghĩa Lộ. Mường Lò xứng với câu ca: “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” nổi tiếng từ lâu.

Mù Cang Chải nằm dưới chân của dãy núi Hoàng Liên Sơn, ở độ cao 1.000 m so với mặt biển. Muốn đến được huyện Mù Cang Chải phải đi qua đèo Khau Phạ – là một trong tứ Đại Đèo của Tây Bắc. Những ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải ôm viền chân núi – một kiệt tác nghệ thuật đã được xếp hạng di tích quốc gia năm 2007.

Nằm ở độ cao 1.300-1.400m, cách Hà Nội hơn 200 km, Suối Giàng có khí hậu trong lành, mát mẻ với các bản H’mông cheo leo bên sười núi, được ví như một Sa Pa của vùng đất Yên Bái. Ở Suối Giàng ngoài những cánh rừng chè mới trồng lưng chừng núi thì các vườn chè cổ thụ, trong đó có cây chè người ta tính được vòng đời 300-400 tuổi, luôn hấp dẫn du khách.

Hồ Thác Bà được hình thành khi ngăn sông đắp đập xây thủy điện Thác Bà. Với diện tích 240 km2, trải dài 80 km, Thác Bà được công nhận là hồ nhân tạo lớn nhất Việt Nam. Hồ Thác Bà có hơn 1.300 đảo lớn nhỏ. Trên các dãy núi đá vôi và các hòn đảo trong khu vực hồ có nhiều hang động đẹp cùng các chùa, đền gắn liền với nhiều sự tích và truyền thuyết lâu đời.

Làng văn hóa Ngòi Tu là nơi sinh sống của người Dao quần trắng với nhiều nét văn hóa độc đáo. Ngòi Tu là một điểm du lịch cộng đồng được chính quyền tỉnh Yên Bái chú trọng trong khoảng thời gian gần đây. Ngòi Tu được thiên nhiên ban tặng cảnh quan đặc sắc, kết hợp cùng những giá trị văn hóa lâu đời của đồng bào nơi đây, tạo nên một nét hấp dẫn rất riêng biệt.

Vào những ngày nắng đẹp, nhìn từ dưới lên, các bọt nước bốc hơi khiến thác Pú Nhu như được bao bọc bởi một chiếc khăn voan trắng. Nằm giữa hai vách núi đá cao thẳng đứng, thác Pú Nhu hiện ra như một bức tranh thủy mặc. Ở khu vực thác, nhiệt độ cao nhất trong năm khoảng 26 độ C, khí hậu trong lành, mát mẻ thật lý tưởng cho những chuyến dã ngoại trong ngày.

Háng Tề Chơ là tên con thác huyền thoại của miền Tây Bắc, thuộc xã Làng Nhì, huyện Trạm Tấu. Đường vào bản Háng Tề Chơ từ xã Làng Nhì tương đối thử thách, nhiều đoạn chỉ dành cho ngựa, xe máy không thể đi vào. Đây được coi là “hiểm địa” vùng Tây Bắc và chỉ dành cho dân du lịch ưa khám phá và cảm giác mạnh.

Cách trung tâm Trạm Tấu chưa đầy 2km về phía Tây Bắc là một khu suối khoáng nóng nằm ngay sát dưới chân những thửa ruộng bậc thang tuyệt đẹp, tọa lạc tại khu 5, thị trấn Trạm Tấu. Nguồn suối khoáng nóng này hoàn toàn tự nhiên, nhiệt độ trung bình khoảng 50 độ C, chảy luồn lách qua từng khe đá và được trữ lại ở mỗi ghềnh đá cuội, tạo thành hai ao tắm với hai nhiệt độ khác nhau tùy theo nhu cầu của du khách.

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa bàn 4 xã: Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng, Phong Dụ Thượng của huyện Văn Yên. Trong khu bảo tồn thiên nhiên này, hệ rừng lá rộng thường xanh còn tương đối nguyên vẹn, nhiều khe, suối, thác nước chảy quanh năm. Nà Hẩu khá thích hợp cho những nhóm bạn yêu thích trekking, cắm trại hay khám phá thiên nhiên.

Những năm qua, du lịch Yên Bái đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ khi quan tâm đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch, các khu du lịch được hình thành và phát triển, sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng thu hút đông đảo du khách đến với vùng đất này.

Giới thiệu đến bạn 🌟 Thuyết Minh Về Lào Cai 🌟 5 Bài Giới Thiệu Lào Cai Hay

Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Yên Bái – Mẫu 6

Để viết bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh Yên Bái, ruộng bậc thang Mù Cang Chải sẽ là một trong những gợi ý hấp dẫn và thú vị nhất.

Ruộng bậc thang Mù Cang Chải có diện tích khoảng 2.200 ha thuộc huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Năm 2007, 330 ha diện tích ruộng bậc thang của 3 xã La Pán Tẩn, Chế Cu Nha, Dế Xu Phình được Bộ VHTTDL xếp hạng là Di tích quốc gia và đến năm 2019 danh thắng ruộng bậc thang Mù Cang Chải đã Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt.

Năm 2018, một tờ báo nổi tiếng của Anh (Telegraph) đã công bố 12 ruộng bậc thang đẹp nhất thế giới. Trong đó, ruộng bậc thang Mù Cang Chải là một trong hai đại diện của Việt Nam được lọt vào danh sách này.

Ruộng bậc thang Mù Cang Chải gắn liền với đời sống, tập tục của người Mông. Do thiếu những mảnh ruộng bằng phẳng để canh tác, đồng bào Mông đã tận dụng từng mảnh ruộng nhỏ được vỡ ra ở từng ngọn núi có độ cao từ 800-1.700 mét, cùng với việc thu phục thiên nhiên để sinh tồn nhưng vô tình đồng bào ở đây lại trở thành những “người nghệ sĩ” tạo nên một “tác phẩm nghệ thuật” hùng vĩ giữa núi non đại ngàn.

Với địa hình đồi núi cao và đặc thù của khí hậu nên một năm đồng bào Mông ở Mù Cang Chải chỉ gieo trồng một vụ lúa duy nhất, tháng 5- 6 là thời gian đắp đập be bờ, lấy nước vào ruộng từ những cơn mưa đầu mùa hạ hoặc những con suối đầu nguồn để phục vụ cho việc cày ải, gieo mạ, cấy lúa (mùa nước đổ), tháng 9-10 là vào vụ thu hoạch (mùa lúa chín). Chính vì thế, mùa nước đổ và mùa lúa chín là thời gian đẹp nhất ở đây.

Mù Cang Chải vào mùa nước đổ (tháng 5 – 6) có một vẻ đẹp thuần chất mà quyến rũ không kém mùa thu sang. Mùa nước đổ, ruộng bậc thang mang vẻ đẹp hoang sơ, bình dị với gam màu trầm chủ đạo, đúng chất của miền sơn cước vùng Tây Bắc. Mù Cang Chải lúc này được pha trộn bởi màu nâu của đất hòa quyện cùng mây trắng, trời xanh và mặt nước lấp lánh, phán chiếu lên nhiều cung bậc của ánh sáng.

Nếu ban ngày, những thửa ruộng bậc thang lung linh như dát vàng dưới ánh mặt trời thì về đêm lại huyền bí dưới mầu bạc của ánh trăng, phủ trên từng lớp nước tạo thành những mảng sáng tối kỳ ảo, làm cho những thửa ruộng nơi đây trở thành bức tranh thủy mặc khổng lồ khó có nơi nào sánh được.

Vào mùa thu (tháng 9, tháng 10) hằng năm, đến hẹn lại lên hàng đoàn du khách lại rủ nhau về đây để chiêm ngưỡng những thửa ruộng bậc thang như những “nấc thang vàng” lấp lánh. Đâu đâu cũng thấy những thửa ruộng đang vào mùa lúa chín được xếp thành từng tầng, từng lớp trải rộng khắp các quả đồi, lớp nọ lại nối với lớp kia như đang vươn cao lên trời.

Mỗi thửa ruộng được gieo cấy vào một thời điểm khác nhau lại tạo nên một mầu sắc khác nhau, có nơi sóng sánh ánh vàng, có nơi thửa xanh thửa vàng. Cứ thế, những cánh đồng đầy sắc mầu ở Mù Cang Chải trải dài trên những triền núi hùng vĩ, khoảnh khắc ấy đẹp như bức tranh mùa thu khổng lồ, chiếm trọn trái tim của những du khách may mắn được một lần chiêm ngưỡng.

Nhằm tôn vinh danh thắng ruộng bậc thang Mù Cang Chải và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Mông, đồng thời nâng cao ý thức bảo tồn di sản, thu hút khách du lịch, từ năm 2015 tỉnh Yên Bái đã cho tổ chức nhiều hoạt động gồm chọi dê, hội giã cốm, hội chợ ẩm thực, dù lượn “Bay trên mùa vàng” và “Bay trên mùa nước đổ” tại đỉnh Khau Phạ, đồi Mâm Xôi cùng nhiều hoạt động văn hóa khác.

Danh thắng Quốc gia Ruộng bậc thang Mù Cang Chải nói riêng và vùng Tây Bắc nói chung không chỉ là một vựa lúa, một một bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ mà còn trở thành một bản anh hùng ca về sức mạnh đoàn kết, là tinh thần dân tộc và sự sáng tạo độc đáo của những người con vùng cao trong quá trình cải tạo thiên nhiên, phục vụ cuộc sống từ bao đời nay.

Chia sẻ cơ hội 🌟 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 🌟 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Văn Giới Thiệu Về Danh Lam Thắng Cảnh Ở Yên Bái Đạt Điểm Cao – Mẫu 7

Đón đọc bài văn giới thiệu về danh lam thắng cảnh ở Yên Bái đạt điểm cao dưới đây với những ý văn đặc sắc thuyết minh vẻ đẹp và sự hấp dẫn của ruộng bậc thang Mù Cang Chải.

Nhắc đến Mù Cang Chải là người ta nghĩ ngay tới những thửa ruộng bậc thang trải dài như những nấc thang lên tận trời. Kiệt tác hiếm có trong nền văn minh lúa nước Việt Nam lại do chính đôi tay con người sáng tạo ra để thích ứng với điều kiện đất đai, khí hậu và thủy lợi mà thiên ban tặng.

Lịch sử hình thành ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải gắn liền với lịch sử cư trú của tộc người Mông – tác giả của những thửa ruộng bậc thang, chủ nhân cư trú đầu tiên tại vùng đất này. Theo các nhà nghiên cứu địa chất thì Mù Cang Chải là địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, đất đai chủ yếu là đất feralit vàng đỏ. Điều này, giải thích vì sao người Mông không thể trồng lúa theo phương thức nương rẫy mà thay vào đó, họ phải tận dụng những quả đồi thấp, có diện tích rộng, độ dốc vừa phải, tận dụng được cả nước mưa và nước suối dẫn từ độ cao tràn xuống ruộng thấp để hình thành ruộng bậc thang.

Đây là một quá trình công phu, tốn nhiều công sức. Công việc khai khẩn được nối tiếp từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên các triền ruộng tựa bức tranh nghệ thuật hoành tráng treo trên các sườn núi. Và nếu tìm hiểu kỹ hơn, sẽ thấy mọi nét văn hóa trong đời sống của đồng bào đều xoay quanh những thửa ruộng bậc thang. Từ những chiếc cuốc khum khum phù hợp với việc đào ruộng đắp bờ, đến những nếp nhà hay hoa văn trên trang phục của phụ nữ… Tất cả, tạo nên sự đồng điệu đến kỳ lạ.

Năm 2007, những thửa ruộng bậc thang độc đáo ở Mù Cang Chải, Yên Bái chính thức được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là danh thắng quốc gia. Đây là một dấu mốc quan trọng và đáng nhớ. Nhờ bàn tay, khối óc và sự cần cù của người Mông nơi đây, qua nhiều thế hệ đã làm nên một di sản văn hóa, một “tác phẩm điêu khắc” khổng lồ, một kỳ quan, danh thắng quốc gia. Tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp cùng với những lễ hội, những nét văn hoá cổ truyền, đặc sắc của đồng bào Mông nơi đây như: lễ mừng cơm mới, hội Gầu tào, đánh pao, bắn nỏ… đã tạo nên một Mù Cang Chải đẹp và hấp dẫn.

Từ trên đỉnh núi cao, du khách có thể phóng tầm mắt xuống các thửa ruộng bậc thang uốn lượn mềm mại dưới chân những dãy núi xanh mờ sẽ cảm nhận được sự phóng khoáng, kỳ vĩ và tuyệt đẹp của cảnh sắc nơi đây. Hơn nữa, với địa hình núi cao, vực sâu, địa hình bị chia cắt nhiều nên mỗi “thửa ruộng – mâm xôi” đều xen giữa các khe nước lớn nhỏ, trập trùng là những rừng thông bạt ngàn.

Cứ thế, ruộng, rừng, khe, suối… tầng tầng, lớp lớp xếp lên nhau. Đến Mù Cang Chải mùa nào cũng cho ta trải nghiệm thú vị. Nếu ruộng bậc thang Mù Cang Chải mùa nước đổ mang vẻ độc đáo như khoác lên mình chiếc áo mới, lấp lánh trong sắc màu tuyệt đẹp của đất nâu, của trời xanh, của mặt nước óng ánh dưới nắng vàng rực rỡ thì sau vài tuần sẽ là những “mâm xôi xanh” của lúa đương thì con gái mơn mởn.

Ruộng bậc thang Mù Cang Chải càng đẹp hơn, quyến rũ hơn vào mùa lúa chín – lúc mà hương sắc của “biển vàng” này cứ cuồn cuộn tỏa hương khắp núi rừng xứ Mù Cang. Ra đời trong sự nghèo khó, xuất phát từ một nơi xa xôi, hẻo lánh nhưng giờ, ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải không chỉ thu hút sự quan tâm của người dân trong nước mà những du khách nước ngoài cũng đang dành sự chú ý đặc biệt tới nơi đây.

Hình ảnh ruộng bậc thang không chỉ xuất hiện trên những thước phim phóng sự mà còn thấy trưng bày trong những triển lãm tranh, ảnh của những nhiếp ảnh gia trong và ngoài nước. Nhưng những ai đã có cơ hội tận mắt ngắm nhìn đều thổ lộ rằng sẽ quay lại nơi đây. Bởi vẻ đẹp của Mù Cang Chải là vẻ đẹp luôn mới. Đó chính là điểm thu hút đặc biệt của Mù Cang Chải hay nhiều người ví đó là cái duyên thầm kín mà hấp dẫn của “nàng tiên” trên núi.

Mù Cang Chải vẫn luôn ẩn chứa biết bao nét đẹp, những điều kỳ thú đang chờ được khám phá.

Mời bạn tiếp tục đón đọc 🌳 Thuyết Minh Về Vĩnh Phúc 🌳 15 Bài Giới Thiệu Vĩnh Phúc Hay

Bài Văn Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Ở Yên Bái Đặc Sắc – Mẫu 8

Bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Yên Bái đặc sắc sẽ đưa bạn đọc khám phá khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu với những trải nghiệm thú vị.

Từ trung tâm thị trấn Mậu A, huyện Văn Yên qua cầu Mậu A bắc qua sông Hồng theo tuyến đường từ xã An Thịnh đi xã Đại Sơn khoảng 30 km về hướng Tây Nam, vượt qua dốc Ba Khuy vắt ngang sườn núi, du khách sẽ đến khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, (một xã có 100% đồng bào Mông sinh sống). Nà Hẩu xinh đẹp, quyến rũ và trù phú trước ưu đãi của thiên nhiên nằm gọn giữa chốn thâm nghiêm của hàng ngàn hécta rừng nguyên sinh càng trở nên kiêu hùng và bí ẩn với bầu không khí thật trong lành, tinh khiết.

Khu vực Nà Hẩu như một lòng chảo được tạo nên từ thung lũng hẹp, xung quanh được bao bọc bởi những dãy núi cao. Địa hình ở đây bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều khe suối và các hợp thủy. Độ cao trung bình từ 600 – 700m so với mặt biển. Nơi cao nhất 1.788m, nơi thấp nhất 200m. Nhiệt độ bình quân 23,20C, lượng mưa bình quân 1.458,0 mm/năm, độ ẩm 85%. Hàng năm thường xuất hiện gió mùa Đông – Bắc vào tháng 11 và 12 kèm theo sương muối. Những ngày ít nắng, trời âm u, ở những nơi núi cao sương mù bao phủ cả ngày, độ ẩm không khí trong rừng rất lớn.

Với điều kiện khí hậu như vậy rất phù hợp cho sự sinh trưởng phát triển và khả năng tái sinh tự nhiên của cây rừng, thuận lợi cho các loài thực, động vật ở đây phát triển đa dạng và phong phú, tạo nên cấu trúc rừng rậm, nhiều tầng tán phù hợp với tính năng phòng hộ đầu nguồn. Nơi đây được biết đến là nơi lưu giữ được một hệ sinh thái động, thực vật phong phú và đa dạng, có trên 30 loài thực vật khác nhau, trong đó có những loài cây gỗ quý hiếm như lát hoa, pơ mu… Hệ động vật trong khu bảo tồn khá phong phú và nhiều loài quý hiếm vẫn được gìn giữ và bảo tồn. Hiện nay rừng có khoảng 72 loài thú, 240 loài chim, 48 loài bò sát…

Cấu trúc rừng chưa bị phá vỡ, tầng tán được phân chia rõ rệt: tầng cao nhất là cây gỗ lớn nhô lên không liên tục chủ yếu là các loài như Chò nâu, Giổi, Trám…; tầng giữa là tầng ưu thế sinh thái, tán cây rừng liên tục cao gần ngang nhau, thuộc các loài cây thường xanh như Gội, De, Giẻ…; tầng dưới phân thành nhiều lớp cao thấp khác nhau, chủ yếu là các cây gỗ nhỏ ưa bóng; tầng thảm tươi chủ yếu là cây bụi, Dương sỉ, Cau rừng…

Ngoài ra khi đến với khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu du khách còn được đắm mình trong dòng thác nước đẹp ẩn mình giữa cánh rừng nguyên sinh như: thác Bản Tát, thác Suối Tiên, hang Dơi… và hòa mình trong lễ hội Tết rừng, múa khèn, múa gậy tiền của đồng bào Mông cùng những nét đẹp văn hóa dân tộc đặc sắc qua trang phục và nhà ở của dân tộc Dao, Mông… vẫn được gìn giữ, bảo tồn. Bên cạnh đó, du khách còn được thưởng thức những món ăn dân dã mang đậm bản sắc dân tộc được chế biến bởi bàn tay khéo léo của những người Mông bình dị và mến khách.

Với những tiềm năng thiên nhiên, vốn văn hóa tộc người đặc sắc, tin rằng, trong một thời gian không xa, với sự quan tâm của các cấp, các ngành, Nà Hẩu sẽ là điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

Tham khảo văn mẫu 🌻 Thuyết Minh Về Trà Vinh 🌻 15 Bài Giới Thiệu Trà Vinh Hay

Thuyết Minh Về Một Di Tích Lịch Sử Ở Yên Bái – Mẫu 9

Bài văn thuyết minh về một di tích lịch sử ở Yên Bái dưới đây sẽ giới thiệu đến bạn đọc địa danh Căng và Đồn Nghĩa Lộ, một trong những điểm đến gắn liền với trang sử hào hùng trong thời kháng chiến.

Căng và Đồn Nghĩa Lộ đã trở thành tượng đài chiến thắng với hình tượng ngôi sao 9 cánh ghi danh 9 chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc nổi dậy, trong đó, có cố nhạc sĩ Đinh Nhu – tác giả bài hát “Cùng nhau đi hồng binh”… Mỗi năm, Khu Di tích lịch sử Căng và Đồn Nghĩa Lộ đón thêm nhiều du khách khắp nơi trong cả nước đến tham quan, tìm hiểu.

Khu di tích Căng và Đồn Nghĩa Lộ, nơi đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt và chiến thắng năm 1952, giải phóng Nghĩa Lộ. Khu di tích Căng – Đồn nằm trên trục chính đường Điện Biên (Quốc lộ 32). Đây là điểm trung tâm của thị xã Nghĩa Lộ và vùng lòng chảo cánh đồng Mường Lò.

Theo cuốn Lịch sử Đảng bộ thị xã Nghĩa Lộ, ngay khi bị thực dân Pháp áp giải đến Căng và Đồn, Chi bộ nhà tù đã được thành lập và đồng chí Trần Huy Liệu làm Bí thư. Chi bộ chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền, vận động cách mạng; cử một số đồng chí được ra ngoài lao động trực tiếp tiếp xúc lính gác làm công tác binh vận và phối hợp với nhân dân bắt mối liên lạc giữa nhà tù và các gia đình ngoài phố.

Chỉ trong một thời gian ngắn, các đồng chí: Trần Huy Liệu, Trần Đức Sắc đã nhanh chóng chiếm được cảm tình và sự giúp đỡ của nhân dân. Sau khi được tuyên truyền và giác ngộ, nhiều người dân đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ về thuốc men, lương thực, thực phẩm, quần áo, giấy, bút, mực và trao đổi tin tức thường xuyên với các đồng chí trong Căng và Đồn.

Trong nhà tù, Chi bộ đã quyết định ra Báo Đường Nghĩa để tuyên truyền cách mạng và hướng dẫn công tác cho cán bộ, đảng viên, phát hành tới từng tổ Đảng và quần chúng do đồng chí Trần Huy Liệu làm chủ bút. Nội dung của các số báo tập trung vào vạch tội ác của Nhật – Pháp; thông báo tin tức, phổ biến một số kinh nghiệm xây dựng và phát triển cơ sở Đảng.

Nhờ có tờ báo này, tình hình trong nước, thế giới, kinh nghiệm tổ chức đấu tranh những gương chiến đấu vì dân, vì nước, sự phát triển phong trào cách mạng của các địa phương đã được truyền đạt tới cơ sở, góp phần quan trọng trong công tác dân vận của Đảng. Thông qua đó, đường lối của Đảng được phổ biến và thấm sâu vào quần chúng, góp phần củng cố các cơ sở Đảng ngày thêm vững chắc. Ngoài việc tuyên truyền đường lối chính sách, Chi bộ còn tổ chức nhiều hình thức đấu tranh trực tiếp như đưa yêu sách với phủ, đồn làm lễ truy điệu cho một số đồng chí đã hy sinh, tạo điều kiện cho tù nhân của các trại thăm hỏi, gặp gỡ nhau.

Nhân dịp tết Nguyên đán, Chi bộ đã đấu tranh với thực dân Pháp đòi tổ chức đón tết chu đáo và anh em tù chính trị được treo cờ Tổ quốc ở vị trí cao, trang trọng; làm kỳ đài, căng khẩu hiệu; treo đèn lồng, kết hoa; tổ chức diễn kịch, triển lãm Báo Đường Nghĩa, mời đồng bào tới xem… Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp đã tạo một thời cơ mới cho cách mạng nước ta. Tại Căng và Đồn Nghĩa Lộ, đại diện tù chính trị đã thuyết phục quân Pháp phải thả tù chính trị và trang bị vũ khí để cùng chống Nhật nhưng không được chấp nhận. Cuộc thương thuyết không đạt kết quả, Chi bộ đã họp bàn và quyết định phá Căng và Đồn để tự giải thoát.

Cơ hội đến vào ngày 17/3/1945 khi Pháp định chuyển tù chính trị ở Căng và Đồn đi nơi khác nhưng vấp phải sự phản đối của tù chính trị và đây cũng là cơ hội để tổ chức bạo động cướp Căng và Đồn. Thực dân Pháp nổ súng làm 9 đồng chí hy sinh tại chỗ, trong đó có nhạc sĩ Đinh Nhu, 11 đồng chí còn lại thoát khỏi nhà tù và được các cơ sở của ta đón đưa, che chở và là lực lượng nòng cốt chỉ đạo phong trào đấu tranh cách mạng ở tỉnh Yên Bái.

Trang vàng trong lịch sử Căng và Đồn Nghĩa Lộ còn được biết đến với quyết định của Trung ương đánh Căng và Đồn để giải phóng Nghĩa Lộ, mở cánh cửa sang phòng tuyến sông Đà, góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Với những quyết sách đúng đắn, vào 8 giờ sáng ngày 18/10/1952, quân ta nổi dậy đấu tranh tiêu diệt được 45 tên và bắt sống 235 tên địch, Căng và Đồn Nghĩa Lộ được giải phóng hoàn toàn.

Cho đến nay thời gian đã trôi qua, chiến trường của trận đánh ác liệt năm xưa trên Căng và Đồn Nghĩa Lộ nay đã hoàn toàn thay đổi. Nơi đây đã trở thành một công trình được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tưởng nhớ đến khí phách của những chiến sĩ cách mạng kiên trung, bất khuất. Với nhân dân các dân tộc thị xã Nghĩa Lộ, đây chính là biểu tượng của đoàn kết, gắn bó các dân tộc.

Tìm hiểu hướng dẫn 🔥 Kiếm Thẻ Cào Miễn Phí 🔥 Kiếm Tiền Online Kiếm Thẻ Cào

Bài Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử Ở Yên Bái Học Sinh Giỏi – Mẫu 10

Bài thuyết minh về di tích lịch sử ở Yên Bái học sinh giỏi với những ý văn hay giới thiệu về đền Đông Cuông sẽ giúp các em học sinh luyện tập và nâng cao kỹ năng diễn đạt.

Đền Đông Cuông là ngôi đền cổ nằm bên dòng sông Hồng thuộc địa phận thôn Bến Đền, xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Từ lâu đã nổi danh là một trong những ngôi đền linh thiêng nằm ven sông Hồng. Ngôi đền còn là nơi thờ chính Mẫu Đệ Nhị Thượng ngàn trong tục thờ Mẫu Tam phủ của người Việt. Ở đền Đông Cuông, hình tượng Mẫu Thượng ngàn cai quản 81 cửa rừng có sự pha trộn, chồng lớp bởi rất nhiều truyền thuyết ở các thời đại khác nhau. Theo truyền tụng, đây vốn là một ngôi miếu nhỏ thờ thần núi, thần rừng. Ngôi miếu này trở thành đình vào thời Lê và đến triều Nguyễn thì đổi thành đền.

Theo ghi chép của Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục”, ngôi miếu này thờ Đông Quang công chúa nổi tiếng anh linh, giúp dân lập bản lập mường, dạy dân bách nghệ, chữa bệnh, cứu đói. Vào đời vua Lê Thái Tổ đã phong bà là Lê Mại Đại Vương, sau khi bà phù hộ cho vua Lê đánh tan giặc. Đền Đông Cuông còn có tên là đền Thần Vệ quốc theo sắc phong của triều đình Nguyễn.

Về những nét đặc sắc của quần thể di tích lịch sử cấp quốc gia đền Đông Cuông, ông Vũ Ngọc Ứng – Ủy viên Ban quản lý di tích đền Đông Cuông cho biết: “Đền Đông Cuông là cụm di tích gồm 4 điểm: Ngoài đền chính còn có Miếu Cô, Miếu Cậu và Miếu Đức Ông tọa lạc bên hữu ngạn sông Hồng đối diện với ngôi đền chính. Đền và khu vực đền có liên quan đến đền Ngọc Tháp và đền Hùng (Phú Thọ).

Trong đền chính có cung cấm thờ 2 ngôi tượng. Sau cung mẫu có cung chúa, bên phải là cung Sơn Trang, bên trái thờ Trần Triều. Cấu trúc nhà đền còn có miếu thần linh và động sơn trang. Đây là ngôi đền cổ từ xưa đến nay vẫn giữ được bản sắc dân tộc và nét văn hóa của người Tày Khao Đông Cuông.”

Đền Đông Cuông được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nhận định là vùng khởi nguồn của Mẫu Thượng ngàn trong hệ thống thờ Mẫu của người Việt. Và có vị trí cực kỳ quan trọng trong hệ thống thờ đạo Mẫu, được coi là cội nguồn của Mẫu Thượng Ngàn. Hàng năm, cứ xuân thu nhị kỳ, vào đầu năm bắt đầu từ tháng Giêng đến tháng 3 âm lịch và cuối năm vào từ tháng 8 đến hết tháng 12 âm lịch, các thanh đồng trên mọi miền đất nước thường về đền Đông Cuông để lễ Mẫu và “bắc ghế hầu Thánh”.

Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ nói chung và thờ Mẫu Thượng ngàn nói riêng trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian đã xuất hiện từ lâu đời ở Văn Yên, tồn tại và có sức sống lâu bền trong nhân dân, nhất là khi “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Những năm gần đây, đền Đông Cuông là điểm nhấn tâm linh tín ngưỡng của đông đảo nhân dân và du khách thập phương trong hành trình du lịch văn hóa tâm linh, nhớ về nguồn cội. Mỗi năm có tới hàng trăm ngàn lượt du khách từ khắp các tỉnh, thành trong nước hành hương tìm về đền Mẫu Đệ Nhị Thượng ngàn dâng hương kính Mẫu, vãn cảnh đền và cầu nguyện cho quốc thái dân an, cầu lộc, cầu tài, cầu bình an trong cuộc sống.

Lễ hội đền Đông Cuông là lễ hội văn hóa tâm linh, ẩn chứa nhiều nét văn hóa độc đáo và cổ kính. Hàng năm, cứ mỗi dịp Tết đến xuân về, lễ hội đền Đông Cuông lại được tổ chức vào ngày Mão đầu tiên của năm mới với phần lễ được tổ chức tại đền Mẫu đúng với nghi thức truyền thống như: đón ông Mo về đền, lễ mổ trâu trắng tế thần, lễ rước kiệu Mẫu sang sông, lễ dâng hương.

Phần hội đa dạng, phong phú và mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc như đẩy gậy, kéo co, vật dân tộc, ném còn, đu tiên, đua thuyền…Bên cạnh đó, du khách thập phương đến hành hương, chiêm bái trong dịp này còn được tham gia các hoạt động trong phần hội như: thi đấu các môn thể thao dân tộc, các trò chơi dân gian, biểu diễn nghệ thuật quần chúng, trình diễn trang phục dân tộc, xe thư viện lưu động và tham quan mua sắm tại các gian hàng chợ quê và tham quan gian trưng bày báo xuân của Hội Nhà Báo tỉnh Yên Bái.

Ngoài lễ hội đầu năm, đền Đông Cuông còn tổ chức 1 lễ hội cơm mới vào tháng 9 âm lịch với chương trình của Festival thực hành tín ngưỡng đạo Mẫu; trình diễn trang phục thực hành tín ngưỡng đạo Mẫu; rước nước thiêng ở sông Hồng; triển lãm, trưng bày tranh, ảnh, thực hành nghi lễ thờ Mẫu. Giới thiệu, quảng bá về hình ảnh, con người, sản phẩm quế Văn Yên đến với du khách thập phương trong và ngoài nước như: hội chợ giới thiệu các sản phẩm quế; giới thiệu về trang phục, ẩm thực, tín ngưỡng của các dân tộc trên địa bàn huyện.

Tự hào là mảnh đất mang dấu tích linh thiêng, nơi Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn tọa lạc, che chở, đồng thời nhận thức rõ giá trị văn hóa và ý nghĩa của việc tổ chức lễ hội hàng năm nên huyện Văn Yên cũng như Ban Quản lý di tích và nhân dân các dân tộc huyện Văn Yên luôn nỗ lực để mang đến cho du khách và nhân dân một lễ hội trang trọng, chu đáo, văn minh, đảm bảo an toàn và thân thiện.

Gửi đến bạn 🍃 Thuyết Minh Về Tây Ninh 🍃 15 Bài Giới Thiệu Tây Ninh Hay

Thuyết Minh Về Hồ Thác Bà Ở Yên Bái – Mẫu 11

Bài văn thuyết minh về hồ Thác Bà ở Yên Bái sẽ đưa bạn đọc khám phá về một trong những địa danh nổi tiếng không thể bỏ qua khi đến với địa phương này.

Trong hành trình khám phá du lịch vùng Tây Bắc của Tổ quốc, hồ Thác Bà nằm trên địa bàn huyện Yên Bình là một trong những điểm dừng chân không thể bỏ lỡ của du khách. Nơi đây được ví như một viên ngọc quý, một “Hạ Long trên núi” của vùng Tây Bắc.

Nhắc đến hồ Thác Bà là người ta nghĩ ngay tới công trình thủy điện đầu tiên của nước Việt Nam. Phong cảnh hữu tình, ven hồ Thác còn là nơi sinh sống của nhiều dân tộc như: Kinh, Tày, Nùng, Mông, Dao, Phù Lá, Cao Lan… Đó là một hồ nước mênh mông với trên 1.300 hòn đảo lớn nhỏ phủ đầy trên mình màu xanh của những rừng cây với hệ sinh thái phong phú, đa dạng.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, hồ Thác Bà còn lưu giữ trong mình nhiều dấu tích của chiến tranh. Nó là nơi làm việc của cơ quan đầu não tỉnh, nơi che giấu, bảo vệ cách mạng, bảo vệ cán bộ của ta trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước. Hòa bình trên miền Bắc, hồ Thác Bà lại lần nữa “trở mình” sẵn sàng làm nhiệm vụ thủy điện cung cấp cho miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Hồ Thác Bà vừa là kỷ niệm vừa là “bầu sữa” cung cấp nguồn thực phẩm chính nuôi dưỡng những người con sinh ra lớn lên ở đây rồi tỏa đi xây dựng khắp mọi miền đất nước. Nó là niềm tự hào của người dân Yên Bái, không chỉ là “lá phổi xanh” của một miền quê núi mà từ đây, hồ Thác mang lại đời sống ấm no cho bao người dân sống quanh vùng hồ.

Hồ Thác Bà hôm nay, với những chính sách và quy hoạch của tỉnh, đã trở thành một điểm du lịch sinh thái và khám phá hấp dẫn. Từ đây, nhiều tour, tuyến du lịch mở ra đón hàng nghìn lượt khách gần xa trong nước và quốc tế đến tham quan, trải nghiệm mang về nguồn thu nhập lớn cho tỉnh và doanh nghiệp, người dân nơi đây.

Đón đọc ☔ Thuyết Minh Về Tuyên Quang ☔ 15 Bài Giới Thiệu Tuyên Quang

Văn Mẫu Thuyết Minh Về Hồ Thác Bà Yên Bái Chọn Lọc – Mẫu 12

Bài văn mẫu thuyết minh về hồ Thác Bà Yên Bái chọn lọc không chỉ giúp các em học sinh nâng cao kỹ năng diễn đạt câu chữ mà còn mang đến những ý văn phong phú.

Nằm ở phía Tây Bắc Tổ quốc, hồ Thác Bà của tỉnh Yên Bái, nơi được ví như “Hạ Long trên núi” là một trong 3 hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam hình thành khi xây dựng Nhà máy thủy điện Thác Bà. Hồ nằm trên địa phận hai huyện Yên Bình và Lục Yên. Hồ rộng gần 20 nghìn ha mặt nước gồm hơn 1.300 đảo xanh lớn nhỏ, cùng hệ thống hang động đẹp ẩn sâu trong lòng những dãy núi đá vôi.

Đến với hồ Thác Bà, du khách có thể thỏa thích ngắm nhìn biển nước mênh mông, những đảo cây ngút ngàn soi bóng xuống mặt hồ xanh ngắt. Con người nơi đây cũng hết sức thân thiện và mến khách. Ai đã một lần ghé thăm hồ Thác Bà chắc hẳn sẽ không khỏi ngỡ ngàng và lưu luyến không quên một hồ Thác trong xanh, nên thơ và kỳ vĩ. Không chỉ cung cấp nguồn nước để phát điện lưới quốc gia, hồ Thác Bà còn là nơi điều hòa không khí trong lành và điểm dừng chân của các tour du lịch.

Đến thăm hồ Thác Bà, khi di chuyển bằng tàu thủy, du khách sẽ được tận hưởng không khí trong lành giữa mặt nước mênh mông, lung linh soi bóng những hòn đảo điệp trùng tưởng như vô tận, để quên hết những mệt mỏi ưu phiền của cuộc sống. Điểm đầu tiên du khách có thể đến thăm là khu vực Nhà máy Thủy điện Thác Bà, nơi có đền Thác Bà, đây là công trình thủy điện đầu tiên của Việt Nam sừng sững hiên ngang trên biển hồ.

Được tận mắt tham quan công trình lịch sử của đất nước, nghe kể câu chuyện về những con người ngày đêm tận tụy xây dựng lên Nhà máy, mỗi du khách sẽ không khỏi xúc động và thêm tự hào về truyền thống dân tộc vẻ vang, sự hy sinh của thế hệ cha anh. Kết thúc hành trình tham quan Nhà máy Thủy điện Thác Bà, du khách còn có thể kết hợp đến thăm đền Mẫu Thác Bà – một địa điểm du lịch tâm linh cách đó không xa. Đền tọa lạc trên núi Hoàng Thi, với thế tựa lưng vào núi, nhìn ra sông Chảy theo hướng Đông Đông Bắc, xa xa là núi Cao Biền. Từ lâu, đền Mẫu Thác Bà đã nổi tiếng là chốn linh thiêng, được công nhận là Di tích Văn hóa Lịch sử cấp tỉnh năm 2004.

Du khách viếng thăm đền Mẫu thắp một nén nhang, trút bỏ những tính toan bộn bề cuộc sống, cầu cho cõi lòng thanh thản nơi cửa Phật từ bi để tiếp tục cuộc hành trình đưa du khách khám phá vẻ đẹp kỳ ảo của nhũ đá, của những tượng đá tự nhiên kỳ lạ ẩn chứa bao khát khao hoài bão của con người tại quần thể hang động đá vôi trên hồ như: động Thuỷ Tiên, động Xuân Long, hang Bạch Xà, Thác Bà, Thác Ông…

Động Thủy Tiên, nằm trong lòng núi đá dài khoảng 100m với những nhũ đá lấp lánh, trong đó có hình chín nàng tiên mỗi người một vẻ gắn với truyền thuyết tình yêu ly kỳ, hấp dẫn. Thăm động Xuân Long nằm ẩn trong núi đá, với những tượng đá tự nhiên và các nhũ đã gắn với những truyền thuyết mang màu sắc liêu trai.

Cùng hệ thống hang động, du khách có thể lên núi Cao Biền, dãy núi lớn và dài nhất thắng cảnh hồ Thác Bà, đứng trên đỉnh núi có thể phóng tầm mắt để ngắm cảnh hồ chìm trong sương với vẻ đẹp lung linh huyền ảo, cảm nhận vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, để tìm lại dấu ấn xưa của chợ Ngọc, chợ Ngà nổi tiếng Thác Bà một thời bán, buôn sầm uất… Ngồi ca nô ngược dòng sông Chảy không bao xa du khách sẽ được thăm thú vùng đất Ngọc Lục Yên với những danh thắng nổi tiếng như động Chùa São, đền Đại Cại… và chiêm ngưỡng sự kỳ ảo của những tác phẩm tranh đá quý tự nhiên dưới bàn tay tài hoa của người thợ.

Phong cảnh hữu tình, phong phú về nguồn lợi thủy sản, ven hồ còn là nơi sinh sống của nhiều dân tộc như: Kinh, Tày, Nùng, Mông, Dao, Phù Lá, Cao Lan… Người dân nơi đây vẫn giữ được bản sắc văn hóa bản địa, trong đó, nhiều lễ hội đặc sắc thường diễn ra như Lễ hội mừng cơm mới của người Tày, Tết nhảy của dân tộc Dao…

Đề với Làng Văn hóa Ngòi Tu – xã Vũ Linh, huyện Yên Bình, nơi quần tụ của 5 dân tộc (chủ yếu là đồng bào Dao Quần trắng), du khách sẽ được trải nghiệm cuộc sống thư thái dưới những mái nhà sàn thấp thoáng giữa rừng cọ, tìm hiểu nghề đan rọ tôm truyền thống, ngắm những thiếu nữ Dao má đỏ hây hây trong trang phục dân tộc rực rỡ. Đặc biệt, mỗi khi màn đêm buông xuống, bên ánh lửa trại bập bùng, du khách sẽ được nghe những làn điệu dân ca say đắm lòng người và thưởng thức hương vị tinh tế của những món ăn như: cơm lam, nộm hoa chuối rừng, thịt gà nấu măng chua hay món gỏi cá, nộm tôm…

Hầu hết, các bản làng ven hồ Thác giờ vẫn giữ được nét hoang sơ, cùng bản sắc văn hóa của các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Cao Lan… với nhiều lễ hội đặc sắc. Hiện nay thôn Ngòi Tu đã có nhiều hộ được đầu tư hoàn chỉnh đủ điều kiện để đón khách nước ngoài. Mỗi năm, thôn đã đón tiếp hàng trăm đoàn khách thăm quan, chủ yếu đến từ các nước Đức, Pháp, Ý, Thuỵ Điển, Úc và Việt kiều.

Ngoài ra, du khách cũng có thể tham dự lễ hội đua thuyền độc đáo với tên gọi “Âm vang hồ Thác Bà” hay thăm làng bưởi Khả Lĩnh nổi tiếng. Và trong hành trình khám phá ấy, du khách cũng có thể thêm chút thời gian để đến với mảnh đất Lục Yên liền kề là vùng đá quý nổi tiếng cả nước, thăm Di tích lịch sử đền Đại Cại, hang Ma Mút, chùa São, núi Vua Áo đen… nơi mà các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra những dấu vết của người Việt cổ.

Được ví như vịnh Hạ Long trên núi – hồ Thác Bà hứa hẹn mang đến cho khách du lịch những trải nghiệm tuyệt vời, khó quên.

SCR.VN tặng bạn 💧 Nhận Thẻ Cào 50k Miễn Phí 💧 Kiếm Thẻ Cào Free

Thuyết Minh Về Suối Giàng Yên Bái – Mẫu 13

Tham khảo bài thuyết minh về suối Giàng Yên Bái sẽ giúp các em học sinh có được những thông tin thú vị về địa danh nổi tiếng này của vùng đất miền Tây Bắc.

Yên Bái là tỉnh miền núi được thiên nhiên ban tặng cho nhiều danh lam thắng cảnh. Một trong những nơi có vẻ đẹp tiềm ẩn, phù hợp cho du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tìm hiểu văn hóa bản địa đã thu hút rất nhiều khách du lịch thập phương, đó chính là địa danh Suối Giàng.

Suối Giàng là một xã vùng cao của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, nằm cách trung tâm huyện lỵ Văn Chấn 12 km về phía Bắc, với diện tích tự nhiên là 5.922 héc-ta, bao gồm 4 tộc người cùng cư trú là người Mông, Kinh, Dao, Tày, trong đó người Mông chiếm 98,5%, còn lại các dân tộc khác chiếm gần 2%. Do vậy, các giá trị văn hoá dân gian truyền thống của đồng bào Mông nơi đây còn lưu giữ được nhiều yếu tố cổ truyền độc đáo. Đây chính là sự khác biệt, tạo cho Suối Giàng có tiềm năng để trở thành khu du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái của vùng phía Tây nói riêng và tỉnh Yên Bái nói chung.

Suối Giàng nằm ở độ cao trên 1.371 mét so với mực nước biển nên nơi đây có khí hậu mát mẻ quanh năm. Nhiệt độ trung bình thường thấp hơn khu vực huyện Văn Chấn, thị xã Nghĩa Lộ từ 80C – 90C. Một ngày ở Suối Giàng, ta có thể cảm nhận rõ được bốn mùa trong năm. Ban đêm, trời se lạnh; sáng ra, mây mờ che phủ bồng bềnh khắp các bản làng, sườn núi; buổi trưa, trời trong xanh, lộng gió và buổi chiều, nắng vàng trải mượt như rót mật. Bởi thế, khí hậu ở Suối Giàng có thể sánh với Sa Pa, Đà Lạt.

Không chỉ có khí hậu mát mẻ, Suối Giàng còn có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, những ruộng lúa bậc thang cong cong theo vạt núi, phóng tầm mắt xuống biển lúa vàng óng vùng Mường Lò, vựa lúa lớn thứ hai ở vùng Tây Bắc và một thị xã Nghĩa Lộ đầy năng động. Cùng với cảnh sắc thiên nhiên là những nét văn hóa độc đáo của người Mông, người Dao, người Thái còn được bảo tồn ở Văn Chấn.

Du khách đến đây không chỉ phiêu du dưới tán rừng nguyên sinh với phong cảnh kỳ thú mà còn có thể được cùng hái chè, sao chè rồi uống chè với những cô gái Mông mến khách, hoặc cùng chiêm nghiệm và hòa vào không khí bí ẩn, linh thiêng trong Lễ cấp sắc của người Dao, rộn ràng trong những ngày hội xuân, ấm áp trong Lễ mừng cơm mới của người Thái… Đi ngược lên khu rừng nguyên sinh Tập Lăng còn khá nguyên vẹn với nhiều thảm thực vật, động vật phong phú; hoặc phiêu du cùng thác Tập Lăng nước chảy trắng xóa. Xa xa, rừng thông mã vĩ bồng bềnh mây trắng, thấp thoáng như một Đà Lạt mộng mơ.

Đến Suối Giàng, bạn sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước những rừng chè đến cả trăm năm tuổi, hương thơm nổi tiếng cả trong và ngoài nước, thực sự có sức hút mãnh liệt với du khách gần xa. Thân cây chè Shan tuyết Suối Giàng già đến trắng phau, sừng sững và hiên ngang trước sóng gió, nắng mưa, trở thành niềm tự hào của người dân nơi đây. Có nhà khoa học đã phải thốt lên rằng: “Tôi đã đi qua 120 nước trên thế giới, nhưng chưa thấy ở đâu có cây chè lâu năm và to như cây chè ở Suối Giàng. Có lẽ đây là cái nôi của loài chè”.

Những cây chè cổ thụ ở Suối Giàng sống ở độ cao 1.400 mét, cây có tuổi ít cũng trên trăm năm, cây nhiều tuổi tới hơn 300 năm. Búp non vẫn lên xanh trên những thân chè xù xì, trắng mốc, bám chắc rễ trên sườn núi cheo leo, làm nên cảnh sắc vườn chè cổ thụ độc đáo không thể quên. Chè được hái, được sao bằng kinh nghiệm và bàn tay khéo léo của người Mông, phủ một lớp áo trắng mờ trên búp chè săn chắc nên được gọi là chè tuyết.

Mọi người vẫn bảo đây là loại chè “năm cực”: “cực khổ” – khi trồng và thu hái; “cực sạch” – vì điều kiện khí hậu, môi trường và cả công chăm giữ của người trồng; “cực hiếm” – vì sản lượng ít, mỗi năm nhiều lắm cũng chỉ thu hái được chừng 200 tấn chè búp; “cực ngon” – với đủ các phẩm chất đỉnh cao mà mỗi chén nước trà phải có: Hương thơm, vị đậm, nước xanh và vì thế nên “cực đắt”…

Chè Shan tuyết Suối Giàng rất độc đáo. Trong bát nước chè xanh có đủ mười tám vị ngon hàng đầu của các loại chè đẳng cấp trên thế giới: Có hương thơm thanh khiết, có cái thanh tao của văn nhân, nghệ sĩ nhưng lại có nét dân dã, bình dị của người dân miền sơn cước chất phác, đôn hậu và mến khách. Chính từ những rừng chè độc nhất vô nhị ấy đã tỏa một sức hấp dẫn đặc biệt với du khách và là nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận cho giới văn nghệ sĩ cả nước.

Đặc biệt, Suối Giàng còn nổi tiếng về các loại đá cảnh (vân hoa tím, vân hoa xanh) được phân bố chủ yếu ở dãy núi Khỉ thuộc địa phận Giàng A, vách đá Vàng và thôn Suối Lóp. Loại đá này chỉ có ở Suối Giàng, nó không những mang vẻ đẹp về thẩm mỹ mà còn có giá trị kinh tế rất cao. Chính từ những đặc điểm lợi thế đó, mỗi năm Suối Giàng vẫn thu hút hàng chục ngàn du khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch.

Suối Giàng – vẻ đẹp tiềm ẩn, phù hợp cho du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tìm hiểu văn hóa bản địa. Khu du lịch Suối Giàng với bốn mùa bồng bềnh mây trắng, hấp dẫn du khách bởi khí hậu, vị ngọt của chè Shan tuyết cổ thụ và tiếng khèn, tiếng sáo, tiếng đàn môi cùng tiếng hát trao duyên của các chàng trai, cô gái Mông căng tràn sức sống, réo rắt gọi mời du khách và các nhà đầu tư.

Đến với Suối Giàng, du khách sẽ có những phút giây thư giãn cực kỳ lý tưởng. Cùng với những trải nghiệm về cuộc sống dân cư và sự phát triển của sinh vật nơi đây sẽ khiến cho mọi du khách cảm thấy hài lòng với cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp.

Có thể bạn sẽ thích 🌼 Thuyết Minh Về Quảng Trị🌼 15 Bài Giới Thiệu Quảng Trị

Thuyết Minh Về Đặc Sản Yên Bái – Mẫu 14

Bài văn thuyết minh về đặc sản Yên Bái sẽ mang đến cho bạn đọc một bức tranh tổng quan về nét đặc sắc trong văn hoá ẩm thực của người dân nơi đây.

Yên Bái là tỉnh thuộc vùng núi Tây Bắc nước ta, tại đây có nhiều điểm du lịch, tìm hiểu bản sắc các dân tộc như Mù Cang Chải, Mường Lò… Bên cạnh đó, đây cũng là nơi để khám phá những món đặc sản nổi danh của các dân tộc Thái, Tày…

Thịt trâu gác bếp là món ăn đặc sản của người Thái đen. Món này thường được làm từ thịt bắp của những chú trâu thả rông trên các vùng núi, đồi. Cách chế biến thịt trâu gác bếp không khó, nhưng cũng khá mất công. Từ miếng thịt trâu bình dị với cách chế biến tinh tế độc đáo, dẫu là thực khách kén ăn cũng dễ dàng bị chinh phục để rồi không khỏi lưu luyến, nhớ về ẩm thực riêng có của người Thái đen Yên Bái.

Ở Mường Lò cứ đến cuối mùa gặt là muồm muỗm lại xuất hiện rất nhiều, muồm muỗm bay rào rào thành từng đàn, từng đàn, con nào con nấy to đều như ngón tay áp út. Có rất nhiều cách để chế biến món ăn ngon từ muồm muỗm. Song muồm muỗm rang giòn vẫn là đặc sản của Mường Lò vùng Tây Bắc. Món muồm muỗm rang có thêm chén rượu ngô của đồng bào Mường Lò Yên Bái thì mới cảm nhận hết được hương vị của đặc sản núi rừng Tây Bắc.

Lên vùng cao vào mùa lạnh, nếu được hơ mình bên bếp lửa hồng, nhấm nháp chút rượu ngô với lạp xưởng chấm tương ớt cay xè thì thật là tuyệt vời biết bao. Đây cũng chính là một trong nhiều món ăn đặc sản khá phổ biến ở tỉnh Yên Bái. Mỗi hương vị Lạp xưởng của vùng Tây Bắc đều có hương vị riêng biệt, tuy nhiên, Lạp xưởng ở Yên Bái có màu sẫm hơn, khô hơn vì được hun kỹ, khi ăn bạn sẽ thấy có mùi thơm đặc biệt của mía hun cùng vị khói của củi, than rừng, đó là điều tuyệt vời mà bất cứ du khách nào khi đến Yên Bái cũng không thể bỏ qua được món ăn này.

Nếp tan Tú Lệ là đặc sản trời cho mà không ở vùng cao nào có được, bởi thế nên dù có chế biến thành món ăn nào đi chăng nữa thì nó cũng vô cùng thơm ngon, một trong những món ngon ấy là cốm. Hiện tại, cốm Tú Lệ đã trở thành một mặt hàng thương phẩm được nhiều thực khách xa gần ưa chuộng, trở thành món quà quê để mọi người gửi biếu bạn bè, người thân. Hy vọng rằng, trong một tương lai không xa cốm Tú Lệ sẽ sớm có được một thương hiệu và trở thành phong vị không thể thiếu của quê hương Yên Bái.

Mường Lò – mảnh đất của “gạo trắng, nước trong”, nơi có những cô gái Thái duyên dáng trong chiếc áo cỏm, khăn piêu không chỉ mang trong mình những nét văn hóa truyền thống độc đáo riêng có mà nét sinh hoạt ẩm thực của đồng bào cũng vô cùng tinh tế, đậm đà hương sắc núi rừng. Bánh chưng đen giản dị, mộc mạc như người Thái nhưng ẩn sâu trong đó là sự tinh tuý của đất trời và tấm lòng của những người gói bánh. Bánh chưng đen giờ không chỉ được thưởng thức trong ngày tết, ngày hội của bản mà đã trở thành món ăn giàu bản sắc văn hóa của người dân và là món ẩm thực độc đáo với nhiều du khách khi đến Mường Lò, miền Tây Yên Bái.

Măng sặt được mùa nhất là vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 dương lịch, thời gian vụ măng ngắn chỉ từ tháng 3 đến tháng 4 hàng năm. Loại măng này thuộc họ tre, thân nhỏ rất thẳng, búp măng to cỡ chuôi liềm, trắng nõn, mềm và ngọt, mọc tự nhiên. Loại măng này có nhiều tại các vùng đồi thuộc huyện Trạm Tấu, Văn Chấn, nhưng nhiều nhất là ở Thị xã Nghĩa Lộ. Món ăn tuy giản dị nhưng hội tụ đầy đủ sự tinh túy của núi rừng Tây Bắc với vị thơm ngon, ngọt đã tạo nên một thương hiệu riêng cho măng sặt – món đặc sản của Yên Bái.

Mắc khén là một trong những loại gia vị độc đáo mà núi rừng Tây Bắc nói chung, Yên Bái nói riêng. Mắc khén đứng đầu trong các loại gia vị của đồng bào dân tộc miền núi. Cây mắc khén là loại cây dại thuộc họ hồi, có tinh dầu và hương thơm, trở thành huyền thoại và làm nên loại gia vị đậm đà không thể thiếu trong bữa ăn đồng bào miền Tây Bắc. Ai đã được từng thưởng thức những món ăn chế biến từ gia vị này chắc chắn sẽ không thể quên được hương vị đặc trưng của nó mà không phải ở đâu cũng tìm thấy được.

Từ lâu chuối đã trở thành cây gần gũi, gắn bó với người Tày Lục Yên, bởi những hữu ích từ cây chuối đem lại. Điều hấp dẫn ở bánh chuối là ngoài nhân có đỗ, lạc và đường còn lại các phụ gia đều từ chuối. Lá gói bánh cũng từ lá chuối trong vườn, dây gói bánh cũng từ dây chuối đúng là chẳng giống với bất kỳ loại bánh nào. Chẳng thế mà bánh chuối rất dễ thưởng thức, vừa ngon vừa lạ, hấp dẫn khách gần xa.

Yên Bái là vùng đất mang trong mình những nét văn hóa truyền thống độc đáo riêng có, mà nét sinh hoạt ẩm thực của đồng bào cũng vô cùng tinh tế, đậm đà hương sắc núi rừng.

Ngoài văn mẫu thuyết minh về Yên Bái, tại SCR.VN còn có 🌺 Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh Ở Huế 🌺 15 Bài Hay

Giới Thiệu Về Yên Bái Bằng Tiếng Anh – Mẫu 15

Bài mẫu thuyết minh giới thiệu về Yên Bái bằng tiếng Anh với những câu văn ngắn gọn sẽ giúp các em học sinh ôn tập nhanh chóng để chuẩn bị cho bài kiểm tra ngoại ngữ của mình.

Tiếng Anh:

Yen Bai is a mountainous province in the North, located in the center of the Northern mountainous and midland region of Vietnam, to the Northwest bordering Lao Cai and Lai Chau provinces; The East and Northeast borders Ha Giang and Tuyen Quang provinces; The Southeast borders Phu Tho province and the West borders Son La province.

Yen Bai has diverse natural landscapes with many beautiful places: Tham Le cave (Van Chan), Xuan Long cave, Thuy Tien cave (Yen Binh), Thac Ba lake, Suoi Giang eco-tourism, Muong Lo field ; revolutionary relics, temples of Nguyen Thai Hoc, Cang Don, Nghia Lo… Yen Bai province has many ethnic minorities and each ethnic group has its own cultural identity, which is a condition for combining the development of ecotourism.

Yen Bai has a fresh ecological environment with many famous scenic spots, which is a potential for attracting domestic and foreign tourists.

Tiếng Việt:

Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc nằm ở trung tâm vùng núi và trung du Bắc bộ Việt Nam, phía Tây Bắc giáp tỉnh Lào Cai và tỉnh Lai Châu; phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang; phía Đông Nam giáp tỉnh Phú Thọ và phía Tây giáp tỉnh Sơn La.

Yên Bái có phong cảnh thiên nhiên đa dạng với nhiều địa điểm đẹp: hang Thẩm Lé (Văn Chấn), động Xuân Long, động Thuỷ Tiên (Yên Bình), hồ Thác Bà, du lịch sinh thái Suối Giàng, cánh đồng Mường Lò; di tích cách mạng, đền thờ Nguyễn Thái Học, Căng Đồn, Nghĩa Lộ… Tỉnh Yên Bái có nhiều dân tộc thiểu số và mỗi dân tộc mang đậm một bản sắc văn hoá riêng, là điều kiện để kết hợp phát triển du lịch sinh thái.

Yên Bái có môi trường sinh thái trong lành với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng là tiềm năng cho việc thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Đừng bỏ lỡ cơ hội 🍀 Nhận Thẻ Cào 100k Miễn Phí 🍀 Card Viettel Mobifone

Viết một bình luận