Phân Tích Muốn Làm Thằng Cuội ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Muốn Làm Thằng Cuội ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất ✅ Tham Khảo Tại SCR.VN Tuyển Tập Văn Mẫu Đặc Sắc Phân Tích Bài Thơ Nổi Tiếng Của Tản Đà.

Dàn Ý Phân Tích Muốn Làm Thằng Cuội Của Tản Đà

Lập dàn ý phân tích Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà sẽ giúp các em học sinh nắm được bố cục và những luận điểm cơ bản nhất. Tham khảo mẫu dàn ý phân tích bài thơ Muốn làm thằng Cuội chi tiết như sau:

1.Mở bài phân tích Muốn làm thằng Cuội:

  • Khái quát về tác giả Tản Đà: Một tác giả như một dấu gạch nối giao thời giữa thơ cũ và thơ Mới
  • Giới thiệu chung về bài thơ Muốn làm thằng Cuội: bài thơ là tâm sự của tác giả về thực tại

2.Thân bài phân tích Muốn làm thằng Cuội:

a. Hai câu đầu:

  • “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!”: lời cảm thán gợi không gian: Đêm thu, trăng sáng
  • Nhà thơ bộc lộ trực tiếp suy tư của bản thân về trần thế: “buồn lắm”, “Trần thế em nay chán nửa rồi”: Lí do là vì cõi trần lắm bon chen, bất công, đất nước mất độc lập, tự do, thân phận nô lệ.
  • “Chán nửa”: trong sâu thẳm vẫn tha thiết yêu cuộc sống
  • Xưng hô: chị- em (nhún nhường mà bất trị- ngông)
  • Biểu cảm trực tiếp, giọng thơ như lời than thở nhấn mạnh tâm trạng buồn sầu da diết, không nguôi, niềm bất hoà sâu sắc với xã hội

b. Bốn câu giữa:

  • Bày tỏ mong muốn thoát li lên cung Quế (cung trăng) – nơi đẹp đẽ, thanh cao trong sáng – ở cạnh chị Hằng.
  • Niềm mong muốn được vui trong cảnh bầu bạn, thả hồn cùng mây gió
  • Khát vọng được sống vui tươi, tự do
  • Đó chỉ là niềm vui gượng, vui nhạt vì nó chỉ có trong mộng tưởng.
  • Ước muốn được lên cung trăng, được làm “thằng cuội”, thực chất là muốn được thoát li khỏi thực tại tầm thường, buồn chán

c. Hai câu kết:

  • Cảnh: thi sĩ mãi mãi ở trên cung trăng cùng chị Hằng, đêm rằm trung thu tháng 8 thi sĩ kề vai chị Hằng trông xuống thế gian cười
  • Hình ảnh bất ngờ, thi vị thể hiện cao độ hồn thơ ngông của Tản Đà.
  • Thi sĩ thoả mãn vì đã đạt được khát vọng, thoát li mãnh liệt, xa lánh hẳn được cõi trần bụi bặm
  • “Tựa nhau trông xuống thế gian cười”: sự mỉa mai khinh bỉ cõi trần gian. Đó chính là đỉnh cao của hồn thơ ngông và lãng mạn của Tản Đà.
  • Khao khát sự đổi thay xã hội theo hướng tốt đẹp, thoả mãn nhu cầu sống cá nhân.

d. Phân tích đặc sắc nghệ thuật trong bài Muốn làm thằng Cuội:

  • Lời lẽ giản dị, trong sáng
  • Giọng điệu nhẹ nhàng hóm hỉnh
  • Sức tưởng tượng phong phú

3.Kết bài phân tích Muốn làm thằng Cuội:

  • Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
  • Liên hệ trình bày suy nghĩ bản thân

Đọc nhiều hơn với 🔥 Tóm Tắt Muốn Làm Thằng Cuội 🔥 10 Bài Mẫu Ngắn Hay Nhất

Phân Tích Muốn Làm Thằng Cuội Hay Nhất – Mẫu 1

Đón đọc bài văn mẫu phân tích Muốn làm thằng Cuội hay nhất được chọn lọc và chia sẻ dưới đây dành cho các em học sinh.

Tản Đà (1889-1939) tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu là một người đa tài ông làm thơ, làm văn và còn là một nhà viết kịch nổi tiếng của nước ta. Sở dĩ ông lấy bút danh là Tản Đà cũng là vì ông là một người yêu quê hương đất nước, ông muốn bút danh của mình gắn liền với quê hương, Tản Đà có nghĩa là sự gắn kết giữa núi Tản Viên và sông Đà của quê hương ông.

Ông nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa sáng tạo trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỉ XX. Ông viết những bài thơ lãng mạn với những ý tưởng rất ngông, đậm chất phóng khoáng, cá tính mạnh mẽ, ông cũng được đánh giá là người chuẩn bị cho sự nghiệp ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là “gạch nối liền giữa hai thời kì văn học cổ điển và hiện đại”. Thơ ông chủ yếu mang đậm màu sắc “ngông” tiêu biểu là bài thơ “Muốn làm thằng Cuội”.

Bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” được ra đời vào năm 1916 in trong tập Khối tình con (1916). Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, nhưng nó chịu ảnh hưởng của phong cách thơ ông, thể thơ dù dưới hình thức là thơ cổ nhưng có những dấu hiệu mới mẻ, khác của cảm xúc. Đó là lời tâm sự của tác giả ở một thời đại mới đã khiến cho cái hình thức thơ cũ được giảm nhẹ đi phần nào tính trang trọng, nghiêm luật như trước.

Trong ngôn từ cũng vậy sự giản dị cùng với khẩu ngữ tự nhiên đã làm nên cái sáng tạo, cái hay và nét riêng độc đáo cho bài thơ. Bài thơ tuy ngông những vẫn mang giọng điệu nhẹ nhàng, pha thêm chút hóm hỉnh lãng mạn và cả thêm sự phóng túng ở bài thơ.

Ta bắt gặp một giọng điệu suồng sã ở ngay nhan đề của bài thơ, nói lêm cái ý muốn khác người, hay đó là một giấc mơ kì thú, có thêm phần ngồn và tất nhiên có cả lãng mạn. Tác giả muốn làm thằng Cuội có nghĩa là muốn thoát khỏi thế giới trần tục và lên ở cùng cõi tiên. Làm người thì họ muốn có những ước mơ như sống trong vinh hoa, hưởng lạc trọn đời nhưng còn tác giả tại sao ông lại muốn lên trời sống cũng trăng, sao? Ngay ở phần nhan đề chúng ta đã thấy rất riêng và hấp dẫn thì có lẽ nội dung của tác phẩm còn thú vị hơn nữa.

Ở hai câu thơ đầu:

“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi”

Lời thơ tuôn ra như một lời than thở, buồn chán muốn được tâm sự cùng ai đó của một người trần thế. Ta bắt gặp hai đại từ nhân xưng “chị”, “em” tác giả tự nhận mình là em nghe rất thân mật gần gũi như đã quen từ lâu, thật êm tai.

Đến bốn câu tiếp theo đó là lời ước nguyện:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
Có bầu, có bạn can chi tủi,
Cùng gió, cùng mây thế mới vui.

Ở bốn câu thơ này nếu xét về bố cục và đối xứng Đường thi thì đã phạm luật, không đúng với nội dung của hai câu thực, hai câu thực vốn là tả thực còn hai câu luận (suy luận và mở rộng), từ cặp câu chưa đối nhau trong ngôn từ và ngữ nghĩa. Nhưng ta vẫn thấy cái hay của bài thơ, từ ngữ sáng tạo, ngôn ngữ thơ phát triển tự nhiên ta thấy sự cách tân trong bài thơ này của Tản Đà. Bốn câu thơ này nói về ước nguyện của tác giả và cầu xin ước mơ độc đáo của ông trở thành hiện thực.

Đầu tiên ông hỏi dò xem đã có ai ở trên cung trăng hay là chưa. Sau đó ông tiếp cầu xin ngỏ lời muốn chị Hằng đưa mình lên cành đa chơi. Những hình ảnh trong thơ như “cung quế”, “cành đa”, đó là những nơi chỉ người tiên mới ở được và chỉ có ở trong tưởng tượng của người Việt ta hay thường nhắc tới câu chuyện cây đa chú cuội.

Ý thơ như là tác giả đang chìm đắm trong một giấc mơ đẹp. Và ở hai câu luận tác giả đã được thỏa lòng mong muốn của mình khi được bầu bạn với mây gió và cùng nhau chơi đùa trên cung trăng, thỏa lòng mong muốn “thế mới vui” như là tác giả đã quên đi hết nỗi buồn ở trần gian và được vui ở trốn tiên cảnh. Câu thơ mang cảm giảm hóm hỉnh, tịnh ngịch khiến cho người đọc có cảm giác như đang phưu lưu trên cung trăng cùng tác giả.

Ở hai câu kết còn có sự bất ngờ vô vùng lớn:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,
Tựa nhau trông xuống thế gian cười”.

Trung thu là đêm hạnh phúc của mỗi gia đình, gia đình xum họp ngoài trời cùng nhau ngắm trăng, trăng đêm trung thu là sáng nhất mọi người cùng nhau vui vẻ trò chuyện. Vậy mà nhà thơ lại khác, nhà thơ đang ngồi trên cung trăng, tựa lưng vào chị Hằng rồi cùng nhau trông xuống thế gian, ngắm nơi trần thế mọi người đang vui vẻ nhưng tại sao nhà thơ lại cười, là tại vì ông vui nên cười hay còn ngụ ý khác?

Đúng vậy nhà thơ cười là đang cười chế diễu vì nhà thơ đang ở tầm cao nên có thể thấy hết mọi chuyện đáng cười, đang khinh ở trên đời, cũng có thể nhà thơ đang tự cười mình có cái ý tưởng ngông nghênh khác đời.

Qua bài thơ “Muốn làm thằng cuội” ta thấy rõ cái ngông của ông trong đó, và cũng thấy được nỗi chán ghét nơi trần thế của ông, ông muốn bỏ nơi đó thật xa, ông muốn được lên ở cõi tiên, ông du dương trong giấc mơ, tưởng tượng của mình để được lên trời cao làm bạn với mây gió. Ta cũng thấy được sự cách tân Đường thi ở bài này, ông đã góp một phần quan trọng trong giai đoạn cách tân đổi mới thơ ca hiện đại Việt Nam.

Gợi ý cho bạn 🌳 Sơ Đồ Tư Duy Muốn Làm Thằng Cuội Tản Đà 🌳 7 Mẫu Tóm Tắt

Phân Tích Muốn Làm Thằng Cuội Ngắn Gọn – Mẫu 2

Tham khảo bài văn phân tích Muốn làm thằng Cuội ngắn gọn dưới đây sẽ giúp các em học sinh tham khảo những ý văn súc tích.

Tản Đà là một nhà thơ sớm nổi tiếng. Thơ ông tràn đầy cảm xúc lãng mạn, rất đậm đà bản sắc dân tộc và có những sáng tạo mới mẻ. Có thể nói thơ Tản Đà là một gạch nối giữa thơ cổ điển và thơ hiện đại Việt Nam. Muốn làm thằng cuội là bài thơ đặc sắc của ông.

Bài thơ được viết theo thể thơ Đường luật thất ngôn bát cụ. Bài thơ mở đầu là lởi kể tự nhiên, là lời tâm sự với nỗi buồn man mác:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi.

Nhà thơ có nỗi buồn nơi trần thế nên ngẩng đầu tâm sự với chị Hằng vào một đêm thu. Nhà thơ buồn vì người đời ở thế gian, hoặc cũng có thể buồn vì chí hướng của ông không thực hiện được. Cái trần thế mà nhà thơ đang sống có lẽ là bất công, ngột ngạt đến khó chịu. Nhưng dù buồn chán, nhà thơ vẫn tâm sự ngọt ngào với chị Hằng, thổ lộ cho chị biết cuộc sống ở trần thế.

Lời tác giả với chị Hằng cũng là lời tâm sự thân thiết. Lời tâm tình ấy đã tạo nên một khoảng cách rất gần giữa trần thế và vũ trụ. Vầng trăng từ xưa đến nay vốn là nguồn cảm xúc của thi sĩ. Nhưng hôm nay, vầng trăng là người để nhà thơ san sẻ nỗi niềm tâm sự. Nhà thơ muốn xin chị Hằng giúp đỡ để thoát khỏi cái thực tại tầm thường, xấu xa nơi trần thế. Tản Đà đã thể hiện rõ nguyện vọng của mình:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Nhà thơ hỏi thẳng có ai ngồi trên cung quế đó chưa rồi mới bám vào cây đa xin chị Hằng đưa lên cung trăng. Tản Đà muốn làm thằng Cuội là muốn thoát li cuộc sống bằng mộng tưởng lên cung trăng để bầu bạn với chị Hằng. Ở đây ta cảm nhận cái ngông của Tản Đà, nhưng cái “ngông” ấy không phải để người ta ghét bỏ mà cái “ngông” thật đáng yêu vì nó thật sự thanh cao. ông muốn sống ẩn dật để thoát li khỏi xã hội tầm thường, xấu xa để đời mình không vướng bụi mờ, không mắc phải cái tầm thường nơi trần thế.

Nhà thơ đã thể hiện mục đích của mình khi lên cung quế, nó không những thoát li cuộc sống thực tại, vứt bỏ cái buồn của mình mà còn tìm đến với bầu bạn, tìm đến với thiên nhiên khoáng đạt của đất trời:

Có bầu, có bạn, can chi tủi
Cùng gió, cùng mây, thế mới vui.

Nhà thơ thật lãng mạn pha chút ngông nghênh rất đáng yêu, ông muốn đổi mới cuộc sống mình, muốn tìm đến cái tốt đẹp, tìm đến cuộc sống có ý nghĩa.

Kết thúc bài thơ đã nêu bật ra ý nguyện của Tản Đà. Ông muốn làm thằng Cuội để không bao giờ sống dưới trần gian bế tắc ấy nữa. Ông sẽ mãi mãi ở trên cung trăng:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Tiếng cười của Tản Đà khi được ở cung trăng có nhiều ý nghĩa. Vui cười với các em thiếu nhi ở thế gian nhân ngày Tết trung thu, cười cái bon chen ở trần thế, cười cái xã hội bế tắc ở buổi giao thời. Cũng có thể là cái cười chua xót trong lòng “như mảnh vỡ thủy tinh” và cũng có thể là tiếng cười hả hê vì đã đạt ý nguyện thoát li được xã hội đen tối. Thấp thoáng trong tiếng cười ấy cổ sự ngạo mạn về cảnh đời ở thế gian, những việc làm nực cười của xã hội dưới con mắt của nhà thơ.

Bài thơ là một khát vọng lãng mạn đầy ý nghĩa. Lời thơ có sức tưởng tượng dồi dào, phóng túng, táo bạo nhưng rất duyên dáng, tế nhị. Bài thơ có sức hấp dẫn người đọc, giúp người đọc đồng cảm với con người phải sống trong xã hội giao thời “nửa cười nửa khóc”. Hồn thơ lãng mạn pha chút ngông nghênh, nó vừa mang tính chất cổ điển vừa mang tính hiện đại. Tất cả những yếu tố đó tạo nên cái hay của bài thơ và cái hay của nhà thơ.

SCR.VN tặng bạn 💧 Muốn Làm Thằng Cuội 💧 Thơ Và Giáo Án Soạn Bài Văn

Phân Tích Muốn Làm Thằng Cuội Chi Tiết – Mẫu 3

Bài văn mẫu phân tích Muốn làm thằng Cuội chi tiết dưới đây sẽ giúp các em học sinh nắm được đầy đủ giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu xuất hiện trên văn đàn Việt Nam những năm đầu thế kỷ với một cá tính độc đáo: một nhà thơ của sầu và mộng, ngông và đa tình. Bài thơ Muốn làm thằng Cuội đã thể hiện rất rõ cá tính ấy của ông.

Bài thơ Muốn làm thằng Cuội in trong tập Khối tình con (1916). Mặc dù tác phẩm được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật song người đọc sẽ thấy ở đây, dưới cái hình thức còn là của thơ cổ ấy những dấu hiệu mới mẻ của cảm xúc. Tâm sự của nhà thơ ở một thời đại mới đã khiến cho cái hình thức thơ cũ có chiều hướng giảm nhẹ đi tính trang trọng, mực thước. Sự giản dị, trong sáng gần với khẩu ngữ tự nhiên làm nên nét duyên của bài thơ này.

Ngay từ nhan đề của bài thơ đã cho thấy một giọng điệu suồng sã, như là đã giải tỏa được một nhu cầu nói thật, thẳng thắn của nhà thơ và cũng lại cho thấy cái ngông nghênh, bất đắc chí: muốn ở đây như một nhu cầu bức xúc, chẳng cần giấu giếm, vòng vo. Nhưng muốn cái gì? Muốn làm cuội thì đích thực là muốn thoát lên trên rồi. ước vọng lên trên thơ mộng thế mà nói tựa như là muốn ăn, muốn uống, muốn ngủ… thật là thành thực!

Và, nếu muốn thoát tục, lên trên thì thiếu gì những hình mẫu tiên để ước sao cứ phải là thằng Cuội? Thằng chứ không phải chú – cũng là một kiểu nói ngông.

Thế thì chính là thi sĩ đa tình này muốn lên cung trăng rồi!

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi,
Trần thế em nay chán nửa rồi!

Chị Hằng thì phải ở cung trăng chứ còn gì nữa! Thì ra thi sĩ của chúng ta muốn làm thàng Cuội để tâm sự cùng chị Hằng Nga xinh đẹp. Hai câu mở đầu bài thơ như một tiếng kêu than. Chẳng cần phải mượn cái khác để diễn tả nỗi buồn trong lòng mình, thi sĩ bộc bạch ngay nỗi lòng mình. Hai chữ buồn lắm thật chân thành. Thi sĩ chỉ lòng mình ra trong tiếng gọi tha thiết. Ta thường gặp trong thơ Tản Đà một vẻ buồn chán, cái buồn lan trùm tất cả. Vì buồn lắm như thế nên thi sĩ mới “muốn làm thằng Cuội.

Nhưng không phải là cái buồn vô cớ, càng không phải kiếm cớ buồn đẽ được lên tiên. Cái buồn ở đây là cái buồn đời, buồn chán cuộc đời tối tăm, đen bạc, đảo điên. Không ít lần Tản Đà kêu chán đời: “Đời đáng trách biết thôi là đủ – Sự chán đời xin nhủ lại tri âm”, “Gió gió mưa mưa đã chán phèo – Sự đời nghĩ đến lại buồn teo”…

Sống trong bối cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến những năm đầu thế kỉ XX, chẳng phải chỉ riêng Tản Đà buồn chán. Không khí tù hãm, u uất của một dân tộc bị mất nước bao trùm hết thảy, đè nặng tâm trí con người, nhất lại là những con người nhạy cảm như thi nhân. Tâm trạng buồn chán là tâm trạng của thời đại. Có trăm ngàn vẻ buồn khác nhau song đều thấy điểm chung là sự bế tắc trước thực tại cuộc đời, từ đó mà sinh ra chán nản, bất mãn đối với thời cuộc.

Cái buồn của Tản Đà cũng bắt nguồn từ đấy. Và thế là thi sĩ tìm lối thoát bằng cách thoát li khỏi cuộc đời, sống trong một thế giới khác, thế giới mộng mơ, thần tiên. Thi nhân gọi trăng là chị, xưng với trăng là em thì vừa là muốn thân tình, gần gũi để giãi bày, vừa là chơi ngông. Bốn câu thơ tiếp càng thể hiện cái ngông của Tản Đà:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi

Ngông thực chất là một thái độ ứng xử đối với cuộc đời, một biểu hiện khác của sự chán ngán, bất mãn với thời cuộc. Phải là người yêu đời lắm, tha thiết với cuộc sống lắm thì mới tỏ ra buồn chán đến bất hòa trước cuộc đời đang rối ren, đen tối như thế. Câu 3 của bài thơ là lời ướm hỏi, rồi đến câu 4 là lời đề nghị. Nấu Cung quế chưa có ai thì chị cũng buồn, cũng cô đơn lắm nên hãy để em lên chơi cùng, em đỡ buồn mà chị cũng bớt cô đơn. Tính từ đây mà cũng ngang tàng đấy! Xin chị đừng từ chối nhé, bởi vì em có lí lẽ đây này:

Có bầu có bạn, cùng tri kỷ
Cùng gió cùng mây, thế mới vui.

Cái lí của thi nhân thật là thuyết phục. Song trong sự thuyết phục để thoát li, xa lánh trần thế ấy chúng ta thấy một thực trạng buồn vắng, cô đơn của tâm hồn thi sĩ. Vốn đa tình đa cảm nên thi nhân luôn luôn có khát vọng được người tri kỉ, mà cõi trần thì “Chung quanh những đá cùng cây; Biết người tri kỉ nơi đâu mà tìm”.

Cái vui của thi nhân là cái vui được tâm giao, tâm đồng. Gió, mây thơ mộng được không nếu chẳng có bầu có bạn”. Khát vọng lên trên, lánh đời ở đây thực ra là một cách bộc lộ khao khát đồng cảm, tri âm trong cuộc đời của Tản Đà. Và cái cách ở đây là ngông. Chưa hết, thi nhân còn vẽ ra viễn cảnh:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười

Lãng mạn hết mức, tưởng tượng ra cảnh “tựa nhau” cùng chị Hằng thì quả là cái ngông đã đến đỉnh điểm. Tác giả hạ chữ cười ở cuối bài thật đắt. Cười ở đây chứng tỏ cái hả hê thỏa mãn khi trong ước vọng được thoát tục, rồi bỏ được trần ai mà lên tiên. Cười còn là thái độ mỉa mai, khinh khi cái cuộc đời đang đầy những sầu khổ, cô đơn dưới kia. Cười thách thức. Cười ngông.

Bài thơ tuân thủ khuôn mẫu của một bài thất ngôn bát cú Đường luật cổ điển. Nhưng nguồn cảm xúc tự nhiên, không chừng bay bổng đã tự tìm đến những lời thơ tựa như lời nói hàng ngày: “buồn lắm chị Hằng ơi”, “em nay chán nửa rồi”, “đã ai ngồi đây chưa”, “xin chị nhắc lên chơi”, “thế mới vui”, “tựa nhau trông xuống thế gian cười”; xưng hô khẩu ngữ (chị – em) tự nhiên, không đẽo gọt cầu kì và ngữ điệu biểu hiện đa dạng (ơi, rồi, đó chửa, xin, thế mới).

Lên tiên, thoát tục là thi đề quen thuộc trong thơ cổ, ở đây cái không mới ấy đã được làm mới bằng giọng điệu, bằng lời thơ. Cái ngông của Tản Đà trong bài thơ này là một hình thức ứng xử vốn nằm trong cốt cách của nhà nho tài tử trong thơ truyền thống. Song, như chúng ta đã thấy, cái ngông ấy lại là thái độ của Tản Đà đối với xã hội ta những năm đầu thế kỉ XX, bộc lộ một nguồn xúc cảm mới, đầy cá tính đa tình, phóng túng. Cái mơ mộng thành ra cái ngông thì quả là đậm chất riêng của Tản Đà.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Phân Tích Muốn Làm Thằng Cuội Nâng Cao – Mẫu 4

Tham khảo bài văn phân tích Muốn làm thằng Cuội nâng cao dưới đây sẽ giúp các em học sinh trau dồi những ý văn hay và đặc sắc.

Sau hơn mười năm đầu thế kỉ XX bước vào thời kì hiện đại hoá với những áng văn chương yêu nước nổi tiếng của Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu,… nền văn học nước ta bước vào giai đoạn chuyển biến cực kì sôi động. Từ những năm 20 trở đi, trên văn đàn xuất hiện các nhà văn mạnh dạn đổi mới cả nội dung lẫn hình thức văn chương. Họ kết hợp những vẻ đẹp của truyền thống với yêu cầu cách tân của thời đại, sáng tác ra những tác phẩm thơ văn đặc sắc mang hơi thở của một lớp người giàu khát vọng, yêu nước, yêu đời, nhưng bế tắc,…

Một trong những người mở đầu cho dòng văn chương này là thi sĩ Tản Đà. Tản Đà đã sáng tác nhiều tác phẩm mà chỉ đọc tên, chúng ta cũng thấy rõ tính độc đáo, đầy mộng mơ, lãng mạn: Khối tình con I, II, III, Giấc mộng lớn, Giấc mộng con,… Trong tập thơ Khối tình con có bài thơ Muốn làm thằng Cuội được nhiều người coi là độc dáo nhất.

Quả đúng như vậy. Qua nhan đề tác phẩm và ít phút đọc – hiểu ban đầu, chúng ta đã cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo của bài thơ. Đây là một ước muốn khác đời, kì quặc, hay đây là một giấc mơ kì thú, ngông nghênh, lãng mạn? Muốn làm thằng Cuội tức là muốn bay lên cung trăng, muốn thoát li cuộc đời trần giới để sống với trăng sao, tiên cảnh ư? Tại sao nhà thơ lại có ước muốn ấy? Ước muốn ấy có ý nghĩa gì ?… Biết bao câu hỏi thú vị hấp dẫn, lôi cuốn chúng ta.

Cũng là thơ thất ngôn bát cú theo luật thơ Đường, cũng viết bằng chữ Nôm, nhưng so với nhiều bài thơ Nôm thời kì văn học trung đại và hai bài thơ ra đời trước đó ít năm của Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, nhưng hồn thơ, giọng điệu và ngôn từ của Muốn làm thằng Cuội có nhiều nét khác hẳn. Bài thơ mang giọng điệu nhẹ nhàng, thanh thoát pha chút tình tứ hóm hỉnh, có nét phóng túng, ngông nghênh của một hồn thơ lãng mạn, thoát li.

Hai câu thơ đầu (vào đề) là lời thở than buồn và chán của một thi sĩ, một con người trần thế:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi,

Nét độc đáo dễ thấy là hai đại từ nhân xưng “chị” và “em” nghe thật duyên dáng. Nhân hoá vầng trăng, rồi nữ hoá trăng, gọi bằng cái tên Hằng (theo cách nói của nhiều thi sĩ xưa – Hằng Nga – ả Hằng), kèm theo đại từ “chị”, xưng mình là “em”, nhà thơ tạo ra một quan hệ bất ngờ, thân mật mà dân dã, đúng quan hệ để tâm sự sẻ chia nỗi niềm. Nỗi niềm của nhà thơ bộc bạch trực tiếp bằng hai từ biểu cảm buồn và chán. Buồn trong đêm thu là tâm trạng quen thuộc của các văn nhân nghệ sĩ xưa nay.

Bởi vì, mùa thu về, dẫn theo hơi thu se lạnh, gió thu nhè nhẹ hiu hiu, cây cỏ mùa thu héo úa, đợi ngày tàn lụi,… Biết bao thi sĩ dân tộc từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du, từ Hồ Xuân Hương đến Bà Huyện Thanh Quan, rồi Nguyễn Khuyến, Tú Xương,… đã từng thấm nỗi buồn của mùa thu để rồi làm đầm ướt những dòng thơ. Là một thi sĩ tài danh, nhạy cảm, trước mùa thu, hẳn Tản Đà đã thấm cái hồn thu đất trời, cỏ cây tàn tạ và lấy những dòng buồn của văn chương, của các thi sĩ.

Đấy là nỗi buồn lãng mạn, nhè nhẹ, bâng khuâng, như vô cớ mà có duyên. Còn tâm trạng “chán nửa rồi” thì không còn là lãng mạn vô cớ kiểu nghệ sĩ nữa. Đó là nỗi buồn chán đẫm chất thế sự của một tâm hồn từng âu lo cho nước cho dân trong cảnh lầm than nô lệ. Đêm thu… buồn, cộng Trần thế… chán, cảnh đất trời thiên nhiên cộng với cảnh đời tối tăm đau khổ đã xui giục nhà thơ cất tiếng thở than, để tìm người chia sẻ. Có lẽ chưa tìm dược ai xứng với mình, nên đành ngẩng mặt than với mây trời, với trăng sao.

Trong vòm trời đêm mênh mông kia, có lẽ chỉ mặt trăng đáng làm tri kỉ. Bởi vì trăng sáng ngời, tròn trịa, phúc hậu, vô tư, vô nghĩ mà đầy gợi cảm. Dưới đôi mắt, đúng ra là qua trái tim nhạy cảm đa tình của mình, thi sĩ Tản Đà đã thấy ở vầng trăng hình ảnh một mĩ nhân có thể kết bạn tâm giao.

Nhà thơ gọi trăng là “chị” – “chị Hằng”, tôn xưng người đối thoại là “chị”, nhận mình là “em” thật khéo, khéo trong ứng xử (nếu “chị Hằng” là có thật) và khéo trong dẫn dắt ý thơ. Hiện lên sau hai câu thơ cấu trúc kiểu lời gọi, tiếng than là một ước nguyện chân thành, tha thiết khiến người nghe, người được cậy nhờ không thể chối từ và người đọc thơ cũng không thể dừng lại.

Đến bốn câu thực và luận, lời ước nguyện, cầu xin trở thành một giấc mơ độc đáo:

Cunq quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
Có bầu, có bạn can chi tủi,
Cùng gió, cùng mây thế mới vui.

Nếu xét về luật bố cục và đối xứng Đường thi thì bốn câu trên đã phạm luật, không đúng nội dung của hai câu thực (tả thực) và hai câu luận (suy luận, mở rộng), từng cặp câu cũng chưa thật đối nhau trong ngôn từ và ý nghĩa. Song đọc lên, ta vẫn thấy ngôn ngữ trôi chảy, ý tứ khoáng đạt, hồn thơ phát triển tự nhiên, gắn bó hài hoà với hai câu mở đề, Đó là những dòng cách tân Đường luật để ý tình được tung phá, “cái tôi” thi sĩ được bay bổng, tự nhiên.

Bốn câu thơ cất lên những tiếng nói ước nguyện, những dự cảm thật độc đáo. Câu thứ nhất thăm dò “Cung quế đã ai ngồi đó chửa ?”. Câu thứ hai, không đợi trả lời, liền đề đạt, cầu xin mạnh dạn “Cành đa xin chị nhắc lên chơi”. Những hình ảnh “cung quế”, “cành đa”, “ai ngồi đó” gợi biết bao chuyện huyền thoại vể “cung Quáng Hàn” (mặt trăng), về “cây đa, chú Cuội” mà nhiều người Việt Nam đều biết.

Đó đâu phải một nơi chốn của con người mà là những địa chỉ siêu nhiên, những con người siêu nhân chí có trong tưởng tượng, trong những giấc mơ. Phải chăng, khi cất lên những tiếng thơ đó, thi sĩ Tản Đà đang ru hồn mình vào trong một giấc mơ! Ta có cảm giác ông đang bé lại, nhỏ nhắn, tí hon như nhân vật chú Cuội ngày xưa bám vào “cành đa” bay lên, lên đến tận cung trăng, rồi từ từ hạ xuống, ngồi dưới gốc đa, bên cạnh chú Cuội. Sau đó là một cảnh tượng, một bức tranh kì thú:

Có bầu, có bạn can chi tủi,
Cùng gió, cùng mây thế mới vui.

Nhà thơ đã đến đích, được gặp chị Hằng, chú Cuội, được kết bạn với gió, mây. Hai cụm từ “can chi tủi” và “thế mới vui” thể hiện rõ tâm trạng thoả thuê, quên hết nỗi buồn khổ ở trần gian để tìm nguồn vui nơi tiên giới. Âm điệu của ngôn từ như ngân lên pha chút hóm hỉnh, cười đùa, ngông nghênh mà rất tình tứ. Có thể nói, tâm hồn lãng mạn của thi nhân đã tìm được một địa chỉ lí tưởng để thoát li.

Lên tới mặt trăng, ẩn mình trong mây bay, gió cuốn tức là Tản Đà đã hoàn toàn xa lánh được cuộc đời “buồn chán”, xa lánh “cõi trần nhem nhuốc”. Nhưng ước nguyện của Tản Đà không chí hoàn toàn là trốn chạy, xa lánh. Đó chính là những giấc mơ, những khát vọng chân chính của một con người luôn gắn bó với cuộc đời, luôn mong muốn cuộc đời nói chung, đời mình nói riêng có niềm vui, có hạnh phúc, được gặp những bạn bè nhân hậu, chân tình. Nhà thơ từng than thở:

Chung quanh những đá cùng cây,
Biết người tri kỉ đâu đây mà tìm.
Và đã từng ước mơ:
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm đôi chim nhạn tung trời mà hay.

Với ước nguyện Muốn làm thằng Cuội, cái khát vọng chính đáng kia bắt gặp một giấc mộng của hồn thơ đa tình, trở thành một cách nói có phần ngông nghênh, ngạo đời, lãng mạn. Chán đời, buồn thiu, giờ đây được sánh vai bầu bạn với người đẹp Hằng Nga, được vui chơi thoả thích với mây gió, còn gì thú hơn và làm sao còn cô đơn, sầu tủi được! Cảm hứng lãng mạn của Tản Đà mang đậm dấu ấn thời đại và đi xa hơn người xưa là ở chỗ đó.

Dấu ấn thời đại và tầm xa trong hồn thơ Tản Đà được đẩy thêm một bộc, bất ngờ là ở hai câu kết bài thơ:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Đêm trung thu, trăng sáng, người người ngẩng đầu chiêm ngưỡng trăng sao, bầu trời, thì nhà thơ lại đang ngồi tít mãi trên cung trăng tựa vai người đẹp Hằng Nga nhìn xuống, ngắm nghía trần gian, rồi… cười. Vì sao nhà thơ cười? Có thể vì đã đạt được ước mơ, khát vọng thoát li, xa lánh cõi đời trần tục, nên thoả mãn, cười vui. Cũng có thể vì được đứng ớ vị trí tầm cao, đứng trên mọi thói đời nhỏ bé, thấp hèn, nên nhà thơ nhìn rõ những điểu xấu xa, bẩn thỉu, đáng cười, đáng khinh của cõi trần chật hẹp nhỏ nhoi.

Cũng có thể đây là cái cười tự trào, tự giễu mình… chơi ngông, hơn đời, khác đời. Một chữ cười mà mở ra hai ba nghĩa, thật thú vị. Phải chăng hai câu thơ kết, nhất là từ cuối cùng của bài thơ (“cười”) là đỉnh cao của hồn thơ lãng mạn, phong thái phóng khoáng, ngông nghênh mà rất duyên dáng, đa tình của Tản Đà.

Tóm lại, bài Muốn làm thằng Cuội là tâm sự của một con người bất hoà sâu sắc với xã hội tầm thường, xấu xa, muốn thoát li bằng mộng tưởng lên cung trăng để bầu bạn với chị Hằng, vui cùng mây gió. Đó là một giấc mơ kì thú, ngông nghênh, lãng mạn. Sức hấp dẫn của bài thơ chính là ở vẻ đẹp của giấc mơ ấy được thể hiện ở những từ ngữ, những hình ảnh đậm chất dân tộc, ở những tìm tòi đổi mới thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật của Tản Đà.

Nhờ những đổi mới trong hồn thơ, tìm tòi trong nghệ thuật, thi sĩ Tản Đà đã góp phần mở ra một giai đoạn cách tân sôi động, hào hứng cho lịch sử thơ ca hiện đại Việt Nam, đúng như nhà nghiên cứu Hoài Thanh nhận xét: “Tiên sinh đã cùng chúng tôi chia sẻ một nỗi khát vọng thiết tha, nỗi khát vọng thoát li ra ngoài cái tù túng, cái giả dối, cái khô khan của khuôn sáo… Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kì đương sắp sửa…”.

Giới thiệu tuyển tập ☀️ Phân Tích Vào Nhà Ngục Quảng Đông Cảm Tác ☀️ 10 Mẫu Hay Và Đặc Sắc Nhất

Phân Tích Bài Thơ Muốn Làm Thằng Cuội Học Sinh Giỏi – Mẫu 5

Đón đọc bài văn mẫu phân tích bài thơ Muốn làm thằng Cuội học sinh giỏi dưới đây với những nội dung nghị luận văn học chuyên sâu.

Nước gợn sông Đà con cá nhảy
Mây trùm non tản cánh diều bay.

Tản Đà là bút danh của nhà thơ Nguyễn Khắc Hiếu, được ghép tên núi Tản (núi Tản Viên hay còn gọi là núi Ba Vì) và sông Đà, thuộc địa phận Sơn Tây cũ, quê hương của tác giả. Trên văn đàn đầu thế kỉ XX tên tuổi của Tản Đà nổi lên như một hiện tượng đột xuất, dồi dào năng lực sáng tạo. Ông đã đem lại cho thi ca Việt Nam một sức sống mới, một khẳng định cho sự cách tân mạnh mẽ cuả trào lưu thơ Mới lúc đó và mãi mãi sau này.

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam nửa Tây nửa ta, thơ Tản Đà phản ánh sự bất bình trước xã hội rối ren, ngột ngạt, đồng thời thể hiện một hồn thơ vừa bay bổng vừa phóng khoáng trong trái tim đa tình của người nghệ sĩ.

Thoát trần lên trăng là chủ đề của bài thơ Muốn làm thằng Cuội in lần đầu trong tác phẩm Khối tình con vào năm 1917. Thông qua bài thơ, tác giả thể hiện khát vọng được giải thoát khỏi cõi đời ô trọc đương thời để đến với một thế giới đẹp đẽ tự do. Bài thơ đã bộc lộ nét đặc trưng về phong cách thơ Tản Đà, điều mà người ta quen gọi lãng mạn phong tình và “ngông”.

Muốn làm thằng Cuội được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú của thơ Đường, niêm luật rõ ràng, đôi ý đối thanh rất chuẩn, giọng điệu chung của bài thơ thể hiện tâm tình tha thiết của thi sĩ. Ngay ở hai câu đề:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em nay chán nửa rồi.

Đã bộc bạch tâm trạng của nhà thơ trong đêm thu trăng sáng. Thi sĩ một mình than thở với vẻ đẹp huyền ảo của cảnh vật mà cũng không khoả lấp được nỗi buồn canh cánh trong lòng. Nhà thơ bất bình trước thực tại xã hội đen tôi bế tắc. Cuộc sống ngột ngạt tù túng, bế tắc làm sao dung nạp được một tâm hồn phóng khoáng yêu tự do như Tản Đà?

Trái tim muốn cất cánh bay xa, nhưng đi đâu khi xã hội thực dân phong kiến đương thời như một nhà tù lớn giam hãm con người. Để cách biệt hẳn với cõi tù trần gian lắm nhiễu nhương, buồn khổ thi sĩ đã chọn mặt trăng, một địa điểm tuyệt vời và hoàn toàn tĩnh lặng để tha hồ giãi bày tâm sự.

Nhà thơ gọi trăng là chị Hằng xưng em nghe mới êm ái và dịu ngọt làm sao! Nếu chị Hằng nghe được chắc hẳn cũng xao xuyến, bồi hồi bởi giọng điệu tha thiết của nhà thơ khi ướm hỏi có kẻ nào chán đời đã trôn lên cõi tiên trước mình:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Rồi mới khẩn khoản thỉnh cầu:
Cành đa xin chị nhắc lẽn chơi.

Dường như nhà thơ ước muôn trở lại làm trẻ con như thuở nào để cứ mồi đêm Trung Thu rước đèn, phá cỗ trông trăng, lại thi nhau tìm cây đa, chú cuội và thầm mong ước được chị Hằng “nhắc lên chơi” để vui vầy thoả thích với trăng sao, mây gió.

Ước trở lại tuổi ấu thơ hồn nhiên trong sáng là để giũ sạch bụi trần, gỡ bỏ ngoài tai ngoài mắt “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” trong suốt nửa đời người. Bỗng chốc nhà thơ trở lại với tuổi thơ với giọng điệu nũng nịu, thiết tha lời thỉnh nguyện đặc biệt có một không hai này. Cảnh và tình trong hai câu đề là nỗi buồn thấm thìa nhưng giọng điệu lại lộ ra nét hóm hỉnh.

Nếu ở câu thực, nỗi buồn chỉ còn phảng phất thì đến hai câu luận niềm vui được bộc lộ khá rõ khi nhà thơ tưởng tượng mình đang sông cùng tiên nữ Hằng Nga ở trong cung trăng:

Có bầu có bạn can chi tủi
Cùng gió cùng mây thế mới vui.

Nhà thơ muốn làm thằng cuội để giải thoát nỗi buồn tích tụ bấy lâu nay. Sông trên cung trăng thi sĩ vừa thoát khỏi cảnh đục trong của chốn nhân gian, vừa thoả mãn thú tiêu dao được bầu bạn “cùng mây cùng gió”. Nhưng thích nhất vẫn là được kề vai sát cánh với người đẹp Hằng Nga để cùng tựa vai nhau nhìn ngắm thế gian ngạo nghễ:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Tâm trạng nhà thơ khi đã thoát tục lên tiên, nhìn xuống trần gian thấy thế giới thật nhỏ bé, chật chội, tù túng với đủ mọi chuyện nực cười. Nhà thơ muôn được thành tiên để cười vào thói bon chen danh lợi và cảnh lo toan miếng cơm manh áo chật vật của kiếp người nơi trần thế.

Hai câu luận giống như một lời tự nhủ: “Có bầu có bạn can chi tủi” thì cái cười ở đây đã bật lên thành tiếng. “Tựa nhau trông xuống thế gian cười”. Sau chuỗi cười dài ấy, thi sĩ từ cõi mộng trở về cõi thực thì nỗi buồn lại đầy ắp trái tim; mong được lên tiên chỉ là niềm vui tinh thần để được tự do của Tản Đà. Nó là ảo giác là khát vọng ám ảnh bởi nhà thơ suốt đời phải sông trong thực tế phũ phàng.

Bài thơ không gây ra cảm giác bi quan, yếu thế mà gợi lên nỗi buồn man mác, thôi thúc người đọc đến với tự do, đến với những gì đẹp đẽ nhất hoàn mĩ nhất.

Muốn làm thằng cuội là bài thơ khá tiêu biểu cho hồn thơ Tản Đà, một nhà thơ nổi tiếng là “ngông”. Cùng thời với ông và muộn hơn một chút, Chế Lan Viên tìm đến “Điêu tàn”, đổ nát sống cô đơn với quá khứ đau thương; còn Xuân Diệu say đắm với tình yêu đôi lứa; Huy Cận giấu mình vào “Vũ trụ ca”, Vũ Hoàng Chương triền miên với thơ “Say”,… thì Tản Đà lại xin chị Hằng cho trôn lên cung Quảng để vui thú với cõi tiên.

Tản Đà “ngông” vì muôn dược làm bạn với Hằng Nga, với gió, với mây và được thành tri âm tri kỉ với chị Hằng. Trong xã hội thối nát đương thời bao kẻ vì ham chữ “danh” và chữ “lợi” mà đánh mất hết nhân cách, nhà thơ “ngông” của chúng ta muốn thoát tục để giữ mình được trong sạch, để hướng tới một sự tự do cao cả. Đó là cái trái khoáy đáng quý đáng trân trọng về nhân cách của thi sĩ.

Bài thơ Muốn làm thằng Cuội hay về nội dung ý nghĩa, độc đáo về sáng tạo nghệ thuật. Nó tiêu biểu cho phong cách tài hoa của nhà thơ núi Tản sông Đà. Bài thơ được dệt lên bằng bút pháp lãng mạn bằng trái tim nhân hậu của nhà thơ. Tuy được viết theo thể thơ Đường luật nhưng nhà thơ vẫn cảm nhận được nét tự nhiên của bài thơ, đồng thời bài thơ còn phảng phất âm hưởng của ca dao dân ca như một sự Việt hoá thành công.

Đọc Muốn làm thằng Cuội, chúng ta thấy toát lên một nỗi buồn chán trước toàn cảnh thực tại của xã hội đương thời. Nhà thơ muôn thoát li khỏi hiện thực đen tối băng mộng tưởng. Đây là giấc mộng táo bạo, hợp với tính cách của con người nhà thơ. Nỗi buồn của Tản Đà không dừng lại ở nỗi buồn thời thế của riêng ai mà là nỗi buồn cho thời đại, cho viễn cảnh của xã hội, cho tâm trạng chung của tầng lớp tri thức, nghệ sĩ trong xã hội thời bấy giờ.

Đừng bỏ qua 🔥 Phân Tích Đập Đá Ở Côn Lôn 🔥 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Phân Tích Bài Muốn Làm Thằng Cuội Đầy Đủ – Mẫu 6

Bài văn phân tích bài Muốn làm thằng Cuội đầy đủ dưới đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889 – 1939) là gương mặt đặc biệt trên thi đàn Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX, người đã mang đến một làn gió lạ cho thơ ca Việt Nam, với cái ngông nghênh khinh bạc của nhà Nho cuối cùng và người tiên phong cho thi ca vào con đường chuyên nghiệp.

Tình say, ý lạ, tứ mới chưa làm nên một Tản Đà, mà điều chủ yếu là sự thành thực tự nhiên trong cảm xúc, ngay cả khi thi nhân chìm đắm vào cõi mộng. Những “khối tình”, những “giấc mộng” làm nên một phần văn nghiệp Tản Đà. Muốn làm thằng Cuội là một sự kết hợp của mộng và tình, để ta nhận rachân dung của con người dám lấy cái ngông như một sự thách thức với cuộc đời ô trọc.

Tản Đà đã có vinh dự là người “dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tần kì đang sắp sửa” (Hoài Thanh, Hoài Chân – Thi nhân Việt Nam). Cung bậc của tiếng đàn ấy là của một tâm hồn phóng túng không bị câu thúc trong lối văn trường ốc, có cái bay bổng của vị “trích tiên” tự coi mình là người lạc bước chốn trần gian.

Thơ Tản Đà có một không gian riêng với Tây Thi, Dương Quý Phi, Chức Nữ, Hằng Nga, những giai nhân “hồng nhan tri kỉ” với khách tài tử phong lưu, Người đời đã cho Tản Đà là “ngông”, nhưng cần phải hiểu đó cũng chính là thái độ của ông phản ứng lại xã hội thực dân phong kiến vốn có quá nhiều điều khiến ông chán ngán buồn bực. Muốn làm thằng Cuội chính là một phản ứng như vậy.

Dường như đối với Tản Đà, mùa thu cũng tạo nên nhiều duyên nợ. Từ khoảnh khắc “Vèo trông lá rụng đầy sân” để nhận ra công danh như một thoáng chốc, đến đêm thu chìm đắm trong mối sầu, thi nhân đã để cho những tâm tình bộc bạch cùng trời đất:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em nay chán nửa rồi.

Lại một đêm thu, lần này nhà thơ tìm đến với “chị Hằng”. Mà lạ, không phải với cái cuồng vọng đòi cưới Hằng Nga mà lại là một chút khép mình xưng “em” rất ngọt! Cậu ấm Hiếu đã mỏi mệt với những muộn phiền trần thế, nên thở ra một giọng chán đời chăng? Cái buồn cố hữu của mùa thu khiến nhà thơ buồn, hay ánh trăng đối diện với con người gợi ra cảm giác lẻ loi đến mênh mông?

Tản Đà đã đến với trăng không phải bằng tư thế “đối diện đàm tâm” – nhìn nhau chuyện trò trong im lặng bằng sự cảm thông của đôi lòng, ông đã thốt lên Lời tha thiết nhắn nhủ “chị Hằng ơi!”. Nỗi buồn trần thế tràn ngập đêm thu, từ trong tỏa ra chứ không phải do “gió thu lạnh – sương thu bạch – khói thu xây thành” như câu thơ trong “Cảm thu, tiễn thu” mà thi sĩ chạnh lòng. Điều khiến người đọc lưu tâm ở câu thơ thứ hai là kiểu “chán nửa rồi” với “trần thế” chứ không phải là “chán hết rồi”.

Chán nửa có nghĩa là chưa chán hẳn, còn thiết tha với cõi đời. Vậy là thi nhân mâu thuẫn với chính mình, giữa ước muốn thoát li hẳn đời như các thi nhân xưa muốn về với cõi tiên “lánh đục tìm trong” và tâm nguyện ở lại với đời để làm tròn “thiên lương” giúp ích cho dân chúng. Đã có lần nhà thơ băn khoăn với câu hỏi “Đời đáng chán hay là không đáng chán?” với bạn tri âm. Nhưng phút này đây, tri âm vắng bóng để nhà thơ vọng về trắng tâm sự với chị Hằng.

Trí tưởng tượng phong phú và mãnh liệt của nhà thơ đã làm nên một ước vọng cao vời:

Cung quế có ai ngồi đó chửa
Cành đa xin chị nhắc lên chơi

Hai câu thực làm rõ cho ước muốn của Tản Đà: muốn làm thằng Cuội. Cung quế, cành đa để gợi nhắc câu chuyện cổ tích nhưng dường như có sự so sánh ngầm trong ý thơ: ở cõi trần gian, “trích tiên” Tản Đà đang cô đơn trong nỗi buồn của chính mình, còn nơi cung Quảng, Hằng Nga cũng đang cô đơn như khách trần gian. Hành trình tưởng tượng của nhà thơ đã ngược về với thời gian cổ tích, để nhà thơ hóa thân vào chú Cuội.

Duy chỉ có khác một chi tiết nhỏ: ngày xưa Cuội bám cành đa thần để bay lên trăng, còn hiện tại thì cành đa ấy lại là chiếc thang đón hồn thi nhân lên cung quế. Nghĩa là Tản Đà đến với Hằng Nga để thay thế vai trò chú Cuội. Câu thơ có một chút hóm hĩnh trong ý tứ, nhưng đó là cách cắt nghĩa cho tính chất cuộc gặp gỡ đặc biệt này: giữa Hằng Nga và Tản Đà là mối quan hệ của hai tâm hồn cô đơn đang cần tìm đến nhau. Tản Đà “xin” mà không cầu lụy, bởi lẽ khi hướng về “cung quế”, có lẽ thi nhân cũng hiểu thấu nỗi niềm Hằng Nga chăng?

Bởi thế, hai cầu luận là sự sẻ chia của đôi hồn cô đơn:

Có bầu có bạn can chi tủi
Cùng gió cùng mây thế mới vui.

Bản chất đa tình của thi sĩ đã hé lộ. Câu thơ không phải chỉ diễn tả tâm trạng từ một phía, vì nếu như vậy chẳng hóa ra thi sĩ lên trăng chỉ là giải thoát cho nỗi buồn bực của riêng mình? Cái nồng nàn trong tình ý câu thơ chính là ở chỗ nhà thơ cùng lúc diễn tả hai tâm trạng: một là của Hằng Nga – người cung Quảng Hàn, một là của Tản Đà – người trần thế.

Nét phóng khoáng tâm hồn thi nhân đâu chỉ là cái ước vọng lên trăng để vượt thoát cảnh trần đầy chán ngán, mà chính là khi được làm chú Cuội nghĩa là đượclàm bạn cùng san sớt nỗi buồn với giai nhân cung quế. Có như vậy mới thật sự là tri âm tri kỉ! Cái độc đáo Tản Đà chính là ở chỗ cảm nhận được nỗi u buồn của Hằng Nga trong không gian quạnh quẽ chốn Quảng Hàn. Cũng như đã có lần nhà thơ phát hiện giữa cõi tiên tấm lòng trần gian của tiên nữ:

Lá đào rơi rắc chốn Thiên Thai
Suối tiễn, oanh đưa luống ngậm ngùi

(Tống biệt)

Cảnh tiên cũng buồn, nên thi nhân lên với cõi tiên là để chia sẻ cùng người tiên chút tình nồng dương gian của người – cõi – tục. Đồng thời, khi được “cùng gió cùng mây” không vướng bận những lo toan trần thế, con người cũng được giải thoát khỏi nỗi sầu vô hình đè nặng.

Tìm về cõi mộng là cách để phá tan thành sầu ở cõi thực, nỗi sầu như thi nhân đã từng cảm nhận: “Từ độ sầu đến nay, ngày nào cũng có lúc sầu, đêm cũng có lúc sầu. Mưa dầm lá rụng mà sầu, trăng trong gió mát mà càng sầu; nằm vắt tay lên trán mà sầu, đem thơ văn ngâm vịnh mà càng sầu. sầu không có mối, chém làm sao cho đứt; sầu không có khối, đập sao cho tan…” .(Giải sầu).

Trong nỗi sầu của nhà thơ, ta nhận ra những ám ảnh thời thế, nhân thế và trần thế. Bầu bạn cùng chị Hằng, phải chăng là lúc nhà thơ thật sự thoát khỏi những ám ảnh ấy khi được cận kề hồng nhan tri kỉ:

Rồi đến mỗi năm rằm tháng Tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười

Bài thơ được mở đầu bằng lời than “buồn lắm”, kết lại bằng nụ cười đêm rằm tháng Tám. Niềm vui thay thế nỗi buồn khi những tấm lòng tri kỉ đã gặp gỡ được nhau. Cảm hứng của bài thơ trọn vẹn với hình ảnh trăng thu tuyệt đẹp lay thức giấc mơ của bao kẻ muôn lánh đời thoát tục. Nhưng nếu chỉ có vậy thì cảm hứng bài thơ chưa vượt thoát khỏi khuôn sáo cũ mòn của thơ xưa. Cái tình tứ “tựa nhau” đã làm hiện rõ chất lãng mạn độc đáo của tâm hồn nhà thơ.

Có lẽ chưa ai trước Tản Đà lại có sự liên tưởng táo bạo đến thế! Câu chữ khéo léo, ý tình dào dạt của Tản Đà đã làm nên nét nghĩa mới của hình tượng: chú Cuội – Hằng Nga trong cổ tích đã hóa thân thành đôi lứa khăng khít Tản Đà tài tử và Hằng Nga giai nhân. Nhưng cõi trần “chán nửa” vẫn hiện diện cùng khoảnh khắc “trông xuống thế gian” của đôi lứa tâm đầu ý hợp, làm nên nụ cười “rất Tản Đà”.

Cười cho trò đời bon chen, cười trước tình đời nhạt nhẽo, và trên hết là nụ cười của kẻ vẫn còn nặng lòng trần thế, canh cánh trong hồn thiên chức nhà văn: “Hai chữ thiên lương thằng Hiếu nhớ”. Phải chăng nụ cười ấy ẩn chứa một thông điệp hướng về tương lai rạng rỡ niềm vui? Và cũng vì thế mà trăng phải là “rằm tháng Tám”, vằng vặc, tròn đầy, trong trẻo. Tắm mình trong ánh sáng dịu dàng giữa nơi cung quế là cả một tâm hồn thi nhân bay bổng tuyệt vời, thăng hoa cùng vẻ đẹp tuyệt đối của “nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”.

Bài thơ cho ta nhận ra một chân dung tâm hồn Tản Đà: phóng khoáng, đa tình, nhiều mộng tưởng mà vẫn vướng vít những ưu tư trần thế. Con người ấy muốn giữ trọn “thiên lương” giữa cuộc đời ô trọc nên phải đắm chìm trong những “giấc mộng con” để sống thành thực với chính mình và với cuộc đời. Ta chợt nhận ra một nhân cách cao quý không bị vẩn đục bởi những toan tính vụ lợi tầm thường, một con người “đi qua cái hỗn độn của xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX” mà vẫn giữ trọn “linh hồn cao khiết”.

Muốn làm thằng Cuội cũng như bao bài thơ bộc bạch tâm tư của Tản Đà giúp ta hiểu thêm về một con người đã dám phô bày cái tôi đầy cá tính của mình với người đời không cần giấu giếm, như là một cách để đối lập với cả một xã hội thực dân – phong kiến. Tác phẩm góp thêm luồng sinh khí cho cảm hứng lãng mạn, với trí tưởng tượng bay bổng và cảm xúc mãnh liệt, sẽ phát triển mạnh mẽ trong phong trào Thơ mới 1932 – 1945.

Có thể bạn sẽ thích 🌼 Phân Tích Cô Bé Bán Diêm 🌼 12 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Phân Tích Muốn Làm Thằng Cuội Đặc Sắc – Mẫu 7

Đón đọc bài văn phân tích Muốn làm thằng Cuội đặc sắc dưới đây để chắt lọc cho mình những ý văn hay và sinh động.

Tản Đà tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỹ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực.

Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là “gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại”.

Những năm 20 của thế kỷ XX, Tản Đà là thi bá trên thi đàn Việt Nam. Tài hoa, lãng mạn, thoát ly và ngông là phong cách nghệ thuật của thi sĩ Tản Đà. Trong bài Thú ăn chơi, thi sĩ viết:

Trời sinh ra bác Tản Đà
Quê hương thời có, cửa nhà thời không
Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông,
Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly,
Túi thơ đeo khắp ba kỳ,
Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng…”

Cùng với những bài Trời nắng, Tống biệt, Hầu trời (thơ)… và những Giấc mộng lớn, Giấc mộng con (mà Xuân Diệu gọi là “du kí”)… Muốn làm thằng Cuội là bài thơ nằm trong mạch cảm hứng thoát li đó của Tản Đà. Bài thơ xuất hiện trong tập Khối tình con năm 1916. Có thề nói Muốn làm thằng Cuội là bài mở đầu cho lối thơ phóng túng, đầy ý tưởng lãng mạn cua Tản Đà. Bài thơ Muốn làm thằng Cuội là bài thơ kiệt tác, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật “ngông” của Tản Đà thi sĩ:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi.
Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
Có bầu có bạn can chi tủi,
Cùng gió, cùng mây thế mới vui.
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.”

Nói về “ngông”, theo cuốn “Tản Đà thơ và đời” (NXB Văn học, 1995, tr 100) cho rằng: “Ngông trước hết là một tính cách. Biểu hiện của tính cách đó là những hành động khác đời gây nên sự chú ý của số đông, những hành động ngông thường mang tính chất ngang tàng, phóng túng, đùa cợt.Tính cách ngông biểu hiện một mâu thuẫn với số đông bình thường, nó tách ra, nổi lên.Tính cách ngông vừa mang tính bi kịch lại vừa mang tính hài kịch và nó là sự phủ định thực tại, chỉ trích thực tại bằng sự giễu cợt và khinh thường.

Ngông cũng là một cách sống, cách sống ấy vượt ra ngoài khuôn khổ của xã hội đương thời, trở thành một thách thức với xã hội đó.Cách sống ấy mang tính chất chủ quan và coi thường dư luận xã hội.

Ngông còn là một hiện tượng tư tưởng: đó là tư tưởng bất mãn, bất đắc chí, bất cần đời, khinh thế ngạo vật. Một con người không có bản lĩnh không thể ngông, không có tâm sự không thể ngông, không đối kháng và phủ định thực tại trong những khía cạnh nào đó cũng không thể ngông”.

Như vậy, ta có thể hiểu “ngông” thể hiện thái độ, phản ứng của người nghệ sĩ tài hoa có cốt cách, tâm hồn khác biệt với người thường, không chấp nhận sự đơn điệu mà luôn phá cách, sống phóng túng, tự do khẳng định cá tính và bản lĩnh của mình.

Vậy, “ngông” trong bài thơ Muốn làm thằng cuội được thể hiện như thế nào?

Mở đầu bài thơ là một tiếng kêu buồn lắm chị Hằng ơi. Một tiếng kêu đầy ắp tâm sự như Xuân Diệu từng nhận xét.

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi.”

Thi nhân buồn, và nỗi buồn ấy không biết chia sẻ với ai, đàn chỉ biết gọi chị Hằng ở nơi cung quế.Ba tiếng chị Hằng ơi rất biểu cảm, thân tình làm cho giọng thơ trở nên da diết, đằm thắm. Câu thơ chứa chan tâm sự tự đáy lòng của thi nhân. Tản Đà đã từng viết: Đời đáng chán hay không đảng chán, nay thì đã chán nửa rồi. Bài thơ in trong tập Khối tình con xuất bản năm 1916, qua đó ta thấy rõ nguyên cớ sâu xa, buồn và chán vì trần thế, vì cuộc đời xấu xa, vì chế độ thực dân nửa phong kiến ngột ngạt, thối nát tù hãm.

Vì công danh dở dang: Tài cao, phận thấp, chí khí uất. Buồn vì non nước đang bị ngoại bang thống trị “Lệ ai giàn giụa với giang san”. Đó là nỗi buồn của một thế hệ trong vòng nô lệ lầm than. Là một thi sĩ đa cảm, đa tình, nỗi buồn đã kết thành mối sầu:

Nửa ngòi bút ngỗng bao sinh lụy
Một mối tơ tằm mấy đoạn vương.

(Đề khối tình con thứ nhất)

Một chữ xin rất chân thành thiết tha, như nài nỉ:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa ?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.”

Hai câu thực đã làm rõ ước muốn của Tản Đà, thi nhân muốn trở thành thằng cuội ở nơi cung trăng, cung quế. Câu hỏi tu từ không lời đáp gợi nhiều man mác bâng khuâng. Hình ảnh cành đa trở nên thi vị, lãng mạn biết bao khi trở thành cái thang bắc lên chín tầng mây cao xanh để chị Tản Đà được chị Hằng nhắc lên chơi cung quế. Đó là giấc mộng thoát ly. Mộng vì chán đời, ngán đời. Mộng có tính phủ định.

Nghĩ đời lắm lúc không bằng mộng
Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời.”

(Nhớ mộng)

Có lên được cung quế thì nhà thơ mới thoát li được thực tại phũ phàng, mới hết buồn, hết chán. Có chị Hằng làm bầu bạn khi đó đời mới vui. Điệp ngữ (có, cùng) và phép đối được vận dụng sáng tạo, có cả tiểu đối và bình đối. Cách ngắt nhịp 2/2/3 tạo nên giọng thơ nhún nhảy lâng lâng. Thấm đẫm vần thơ là chất phong tình lãng mạn, đọc lên nghe rất thú vị:

“Có bầu/ có bạn, / can chi tủi,
Cùng gió! cùng mây, / thế mới vui.”

Đúng như nhà phê bình văn học Lê Thanh trong cuốn Tản Đà thi sĩ (1939) đã nhận xét: Thơ của ông (Tản Đà) là chất thơ trong như lọc với những cảnh tượng không rõ rệt những hình ảnh mờ mờ, ông vẽ những bức tranh tuyệt bút với những tư tưởng lâng lâng, với những cảm giác mơ mộng, ông làm nên những câu thơ tuyệt mỹ….

Cái kết thoát ly một cách nói phong tình, tài hoa. Có đọc bài thơ Hầu trời mới thấy được, cảm được cái hay, cái thú vị của bài Muốn làm thằng Cuội.

Nửa đêm, Tản Đà tỉnh dậy đun nước pha trà, rồi ngâm thơ… Trời nghe giọng ngâm bèn sai hai tiên nữ xuống cõi trần rước thi sĩ bay lên. Thi sĩ đọc thơ cho Trời và bảy tiên nghe. Tất cả đều tấm tắc khen:

Văn đã giàu thay, lại lắm lối
Trời nghe Trời cũng bật buồn cười
Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:
Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”

(Hầu Trời)

Muốn làm thằng Cuội là một bài thơ độc đáo, thể hiện rõ phong cách của thi sĩ Tản Đà. Bài thơ không chỉ đẹp vì lời ca mà còn đẹp vì những mong ước chân thành của thi nhân – Tản Đà.

Mời bạn tham khảo 🌠 Phân Tích Chiếc Lá Cuối Cùng 🌠 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Phân Tích Văn Bản Muốn Làm Thằng Cuội Chọn Lọc – Mẫu 8

Chia sẻ dưới đây bài văn mẫu phân tích văn bản Muốn làm thằng Cuội chọn lọc để các em học sinh cùng tham khảo.

Muốn làm thằng Cuội là một bài thơ nổi tiếng của Tản Đà trích từ tập Khối tình con (1916). Mặc dù tác phẩm được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật song người đọc sẽ thấy ở đây vẫn có chút Ngông của tác giả và lối thơ gian dị, dễ đi vào lòng người.

Đi vào phần nhan đề của bài thơ:” muốn làm thằng Cuội”, nhà thơ sử dụng một chất giọng suồng sã, rất tự nhiên như là đã thỏa mãn nói hết được lòng mình, cái thẳng thắn của nhà thơ cùng cái ” ngông”: thể hiện sự một ước muốn thực tế, không một chút che đậy. “Muốn làm cuội” tức là muốn thoát lên trời, muốn rời khỏi thế giới thực tại. Tưởng chừng mong muốn thật cao sa nhưng trong bài thơ nghe thật dễ dàng thành sự thật.

Bản chất nghệ sĩ vốn là đa tình và giàu trí tưởng tượng. Tản Đà có thêm cái ngông nghênh: muốn làm thằng Cuội, thằng chứ không phải một cách xưng hô nào khác, cách xưng hô ấy giản dị mà ẩn chứa nhiều ý nghĩa. Bài thơ là mong muốn lên cung trăng của thi sĩ mộng mơ:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi,
Trần thế em nay chán nửa rồi!

Chị Hằng vốn dĩ là tiên nữ ở cung trăng. Ngay từ đầu thi sĩ muốn làm thàng Cuội để có thể giãi bày lòng mình với tiên nữ xinh đẹp. Hai câu mở đầu tứ thơ như một lời than phát ra từ trần thế. Không dùng những hình ảnh, sự vật để diễn ta nỗi buồn, thi sĩ bộc bạch chính những cảm xúc chân thật. Hai chữ “buồn lắm” ngay đầu khổ thơ làm cho nỗi buồn miên man, dàn trải trong từ nỗi lòng đến từng câu chữ. Chúng ta thường gặp những nỗi buồn, cái buồn lan ra tất cả. Vì buồn lắm như thế nên thi sĩ mới “muốn làm thằng Cuội”.

Nhưng có lẽ đó không phải là cái buồn vu vơ, không có căn cứ. Cái buồn ở đây chính là cái buồn đời, buồn chán cuộc sống thực tại, mọi thứ như quay cuồng đảo điên. Đó là trong bối cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến vào thế kỉ XX, chẳng phải chỉ riêng thi sĩ chối bỏ thực tại, tìm về cõi tiên mà cái buồn đã trở thành nỗi buồn của thời đại.

Không gian tù túng, u uất của một đất nước bị rơi vào tay giắc ngoại xâm bao chùm hết thảy, làm trĩu nặng lòng người. Sinh ra trăm ngàn vẻ buồn khác nhau được gửi gắm vào những vần thơ nhưng chúng đều xoay quanh thời đại, mang một nét chung là sự bế tắc và bất mãn trước cuộc đời.

Nỗi buồn và cái chán nản trần thế của Tản Đà có căn nguyên từ đó. Và thế là thi sĩ đi tìm cho mình một sự giải thoát bằng cách thoát li khỏi thực tại, sống trong một thế giới biệt lập, đó là thế giới thần tiên. Để rồi Tản Đà bật lên câu hỏi nghi vấn:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi

Bản chất thái độ “Ngông” của Tản đà là một cách ông dùng để đáp trả lại cuộc đời, sự thế hiện của sự chán ngán, bất mãn với thời cuộc của xã hội. Trong nội tâm mâu thuẫn của thi nhân, có lẽ ông phải là một nhà thơ si mê hương đời lắm để rồi khi đời không còn như trong những giấc mơ, nó trở nên tù túng thì sự bẩ mãn cũng theo đó mà dâng cao.

Câu thơ thứ ba đặt ra một lời ướm hỏi kín đáo, sau đó là một lời đề nghị thẳng thắn mong muốn lên cung trăng của mình. Vả chăng, tác giả chẳng có một ai cùng sẽ chia và giải tỏa nỗi buồn newn phải tìm đến trăng làm bạn, chị Hằng làm tri kỉ:

Có bầu có bạn, cùng tri kỷ
Cùng gió cùng mây, thế mới vui.

Dù ngông, nhưng ông vẫn có cái lí của riêng mình, chính nỗi cô đơn, buồn bã khiến ông bật lên những lời thơ tràn đầy những mong muốn được xa lánh cuộc đời, lẩn tránh những rối ren ở cõi trần. Khát vọng lên cung trăng thực ra bộc lộ nỗi lòng đang chơi vơi mong muốn sự cảm thông, tri âm trong cuộc đời của Tản Đà. Đến hai câu cuối, thi nhân còn vẽ ra một viễn cảnh trong tương lai:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười

Chất lãng mạn cùng cái ngông được bộc lộ rõ ở hai câu thơ cuối này. “Tựa nhau” như một sự gần gũi độc đáo của tác giả, ông đang ngồi trên cung trăng, bật lên tiếng cười trước cuộc đời đen tối, đó cũng là nụ cười hả hê của một kẻ sĩ đã thành công lánh đời, ông nhìn đời với cái khinh những đau khổ, những tăm tối của hiện thực.

Bài thơ bao chùm một cảm hứng thoát tục quen thuộc trong thơ cổ nhưng sự khác biệt, bài thơ pha chút ngông nghênh của thi sĩ. Vần thơ giản dị mà giàu sức gợi cùng cách biểu đạt độc đáo đã làm cho bài thơ có sức hút và lôi cuốn người đọc.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Phân Tích Tức Nước Vỡ Bờ 🍀 13 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Muốn Làm Thằng Cuội Đạt Điểm Cao – Mẫu 9

Để viết phân tích Muốn làm thằng Cuội đạt điểm cao, các em học sinh có thể tham khảo và vận dụng cho mình gợi ý làm bài dưới đây:

Tản Đà (1889-1939), tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, là một trong số những nhà thơ nổi bật những năm đầu thế kỷ XX, được xem là dấu “gạch nối hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại”, đặt nền tảng cho sự ra đời của nền thơ Mới giai đoạn 1932-1941. Với sức sáng tạo dồi dào và mạnh mẽ và số lượng tác phẩm khá đồ sộ, tuy nhiên cuộc đời của Tản Đà cũng như nhiều những bậc trí thức nghèo lúc bấy giờ.

Rơi vào cảnh tài năng không được công nhận, thơ văn rẻ rúng như bèo, phải sống giữa một xã hội rối ren, nhiều những bất công ngang trái, Tây Tàu ta lẫn lộn, sự đảo lộn các giá trị, đồng tiền trở thành thứ thao túng con người khiến nhiều người sầu khổ, bất đắc chí.

Chính vì vậy trong nghiệp sáng tác của mình, ông tập trung vào việc thể hiện khát vọng được thoát ly khỏi chốn trần gian khổ hạnh, để tìm đến cõi tiên, cõi phật, lắm mộng mơ, với thú vui thưởng rượu, làm thơ tao nhã, không vướng bận hồng trần nhằm xua đi những điều chán trường trong cuộc đời.

Và trong những bài thơ như vậy độc giả cảm nhận được rất rõ “cái tôi” độc đáo trong sáng tác của Tản Đà ấy là cái ngông nghênh phớt đời, cái mơ mộng đa tình và cả cái sầu não, thương cảm. Bài thơ Muốn làm thằng cuội là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Tản Đà, thể hiện một cách đầy đủ và thực đặc sắc cả ba “cái tôi” ấy của tác giả.

Trước hết nói về cái sầu não, thương cảm của Tản Đà trong Muốn làm thằng Cuội, ta có thể thấy rất rõ trong hai câu thơ đầu tiên của tác phẩm.

“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em nay chán nửa rồi”

Giọng điệu thơ nhẹ nhàng, tự nhiên, trong sáng và gần gũi trong lối xưng hô “chị-em”. Hai từ “buồn lắm” đã thể hiện một cách trực tiếp và hàm súc tâm trạng của tác giả trong lúc thưởng trăng, hẳn rằng phải chán nản, phiền não lắm thế nên người thi sĩ khi nhìn trăng, một vật thể chan chứa nhiều xúc cảm tươi vui, mới có thể thốt ra những lời thở than, chất chứa nhiều tâm trạng như thế.

Vậy nguyên do nào khiến cho thi sĩ mang một nỗi buồn bàng bạc, quẩn quanh như thế, phải chăng là do trời đã vào thu, gió heo may hiu quạnh thường dẫn người ta đến cảm xúc bâng khuâng, da diết chăng? Có lẽ đó cũng là một phần nỗi buồn của người thi sĩ, thế nhưng đối với Tản Đà nỗi buồn lớn nhất mà ông mang suốt cả cuộc đời và trải dài trong hầu hết các tác phẩm, ấy là nỗi sầu nhân thế.

Ông viết “Trần thế em đây chán nửa rồi”, một người còn đang sống tại thế gian, nhưng lại đã chán đến nửa cuộc đời ở nơi đây quả thực là có nhiều điều khiến độc giả phải suy ngẫm. Xét lại về bối cảnh đương thời trong cuộc đời của Tản Đà, ta mới nhận ra vì sau tác giả lại sầu não đến vậy.

Một nhà nho chân chính, thế nhưng lại sống đúng vào lúc nước mất vào tay giặc, xã hội nhiễu nhương, Hán học suy tàn, các bậc văn nhân nghĩa sĩ chẳng còn đất dụng tài, đành chịu bó gối câm lặng quay về sống cuộc đời âm thầm đầy xót xa. Những thứ thơ văn vốn từng được ngợi ca, xem trọng giờ đây rẻ như bèo, chẳng mấy ai còn quan tâm, cuộc đời người nghệ sĩ tài năng bỗng rơi vào cảnh khốn khó, cơm áo gạo tiền bao nhiêu thứ phải lo toan.

Cùng với thực cảnh nước mất nhà tan, đầy đớn đau của dân tộc đã đẩy Tản Đà và nhiều bậc trí thức cũ rơi vào cảnh bế tắc, tối tăm. Phải nói rằng, sống một cuộc đời bất đắc chí, muốn mà lực bất tòng tâm thì thực đau khổ và sầu não.

Thế nên bản thân Tản Đà vì quá thấm thía những nỗi đau đời, đau mình mà lao vào rượu chè, sáng tác để quên sầu, thế nhưng nỗi sầu, nỗi buồn đời ấy chẳng một lúc nào chịu rời khỏi thơ văn của ông. Người muốn thoát ly đến một cõi khác tốt đẹp hơn để thoát khỏi chốn trần gian khổ ải, nhưng biết rằng đó là không thể, nên chỏ đành bày tỏ trong văn thơ.

Nói về cái ngông nghênh, ngạo nghễ hay nói gọn lại là một chữ “ngông” trong sáng tác của Tản Đà thì ngay từ trong cái nhan đề “Muốn làm thằng cuội” của tác phẩm, đã đủ nói lên cái tính chất ấy của tác giả. Một người trần mắt thịt ấy thế mà lại có cái ước muốn thực ghê gớm, ước được lên cung trăng, làm thằng Cuội ngày ngày bầu bạn với Hằng Nga tiên tử, lại thân thiết, đa tình gọi chị xưng em, đó không phải là ngông thì còn là gì nữa. Đặc biệt trong bài thơ, cái “ngông” của Tản Đà được thể hiện khá rõ trong bốn câu thơ sau:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
Có bầu có bạn can chi tủi
Cùng gió, cùng mây thế mới vui”

Cái ngông của Tản Đà trước hết là thể hiện ở cái khao khát mộng tưởng được giao lưu, trò chuyện với những con người ở chốn thần tiên, thậm chí trong bài thơ Hầu trời, bản thân ông còn tự nhận mình vốn là một trích tiên, bị đày xuống hạ giới vì tội “ngông”. Thì ở trong Muốn làm thằng Cuội, Tản Đà đã dùng một lối nói rất tự nhiên có chút hóm hỉnh đùa vui khi hỏi ướm rằng “Cung quế đã ai ngồi đó chửa”, sau đó táo bạo hơn là ngỏ ý xin chị Hằng dùng cành đã “nhắc lên chơi” chốn cung trăng.

Đặc biệt ông không hề ngần ngại mà thể hiện hẳn tư thái rất tự tin, cho rằng chị Hằng trên cung trăng có lẽ cũng buồn chán, chi bằng để bản thân mình lên đó trò chuyện, bầu bạn cho đỡ phần cô đơn, lẻ chiếc. Điều này cũng bộc lộ nỗi cô đơn, lẻ loi của Tản Đà giữa cuộc đời, khi bản thân ông không có lấy nổi một người thấu hiểu, tâm tình mà buộc phải tìm lên tận cõi khác, tận cung trăng để tìm được người tri kỷ kề cận, giải tỏa hết những nỗi sầu chất chứa.

Thêm vào đó, trong suy nghĩ của Tản Đà, việc sống ở nhân gian chẳng có gì thú vị, thay vào đó ông lại ấn tượng và hứng thú với cảnh sống cùng mây và gió, cho rằng cuộc đời được vậy mới là vui, mới là cái thú khác biệt. Như vậy cái “ngông” của Tản Đà thể hiện ở lối tư duy khác biệt, táo bạo, có phần điên cuồng khi ao ước những thứ vô vọng, không nằm trong tầm tay.

Mà cốt cái “ngông” đó cũng xuất phát từ những nỗi chán chường, buồn rầu và bất đắc chí ở cuộc đời, việc khao khát tìm được một thế giới lý tưởng khác ví dụ như thiên cung, hay cung trăng, những con người khác đại diện cho một xã hội tốt đẹp và trong sạch ví như chị Hằng, Trời, chư vị thần tiên, tiên đồng ngọc nữ,… cũng nhằm thể hiện cái nỗi đau và sự bế tắc của một con người trần thế trước thực cảnh xã hội quá thối nát và cuộc đời cá nhân tối tăm, bức bối.

Như vậy cái “ngông” của Tản Đà trở thành một cái “ngông” hợp lý và đầy sức sáng tạo khi nhà thơ đã tự tìm được một giải pháp để giải phóng tâm hồn mình thoát khỏi cảnh tối tăm, buồn khổ nơi trần thế.

Cuối cùng nói về cái mộng ước tươi đẹp trong thơ của Tản Đà, ta có thể nhận thấy rõ trong hai câu thơ cuối bài.

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười”.

Đến đây cái “ngông” được đẩy lên cao nhất cùng với một hình ảnh tưởng tượng độc đáo và thú vị đã đem đến cho độc giả nhiều suy tưởng, đồng thời cũng ẩn chứa nhiều những nỗi lòng của tác giả. Tản Đà đã dẫn ra một mộng tưởng thật tuyệt vời rằng bản thân mình yên vị có một cuộc sống thảnh thơi trên cung trăng, và cứ như thường lệ vào mỗi năm rằm tháng tám, bản thân lại được tựa vai, bầu bạn với chị Hằng cùng trông xuống thế gian.

Trước hết ở đây cái mộng nằm ở việc tác giả hoàn toàn thoát khỏi cuộc sống trần thế, thoát khỏi cái thế gian lắm bụi bặm, nhơ nhuốc, hoàn thành thành được khát vọng thoát ly mãnh liệt, điều ấy khiến Tản Đà cười một cách mãn nguyện.

Thêm nữa cái cười của Tản Đà, còn là điệu cười ý vị, khinh bỉ khi nhìn xuống thế gian, trong khi những kẻ phàm phu tục tử chỉ mãi được ngước nhìn ánh trăng, thì bản thân mình lại được ăn trên ngồi trước, bên cạnh là chị Hằng xinh đẹp cùng ngắm nhìn thiên hạ đảo điên, vật lộn giữa bao nhiêu những rối ren bận thỉu, còn bản thân Tản Đà lại thảnh thơi, vui thú sống một cuộc đời hoàn toàn tự do, tự tại, vô lo vô nghĩ.

Có thể nói rằng cái mộng của Tản Đà là một cái mộng tưởng rất đẹp, rất lãng mạn, và có lẽ rằng nó cũng là mộng tưởng của đa số những kẻ thi sĩ khổ sở, bất đắc chí lúc bấy giờ. Chỉ có điều rằng, Tản Đà “ngông” hơn, dám nghĩ và dám viết hẳn ra như thế, rồi cuối cùng biến nó thành một cái mộng tưởng vừa đẹp vừa ngông cuồng tột bậc, khiến người đời sau vừa thấu hiểu vừa xót xa cho một cuộc đời nhiều khổ ải, bất đắc chí.

Muốn làm thằng cuội là một trong những tác phẩm đáng chú ý nhất trong sự nghiệp sáng tác phong phú và đồ sộ của Tản Đà. Bằng một giọng thơ nhẹ nhàng, hôn nhiên, trong sáng có phần ngông cuồng với những ý tưởng táo bạo, tác giả đã bộc lộ một cách thầm kín, sâu xa những nỗi buồn quẩn quanh suốt đời người trí thức trong chế độ cũ, với nỗi đau nước mất nhà tan, văn chương rẻ rúng, cuộc sống người dân nghèo bị áp bức, bế tắc khó có thể tìm thấy lối giải thoát.

Từ đó nhà thơ tự tìm cách giải thoát cho bản thân bằng những ước mộng phi thực tế trong thơ ca, để có thể tiếp tục tồn tại và đóng góp cho đời những tác phẩm văn chương đặc sắc.

Tham khảo trọn bộ 🔥 Phân Tích Trong Lòng Mẹ 🔥 16 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Muốn Làm Thằng Cuội Sinh Động – Mẫu 10

Bài văn phân tích Muốn làm thằng Cuội sinh động dưới đây sẽ giúp các em học sinh tham khảo những ý văn giàu hình ảnh và ý nghĩa biểu đạt.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là nhà thơ lớn nhất của dân tộc ta trong những năm đầu thế kỉ XX. Thơ Tản Đà là tiếng lòng của một cái tôi bất hòa sâu sắc với thực tại tầm thường, tù túng, muốn tìm cách thoát ly bằng mộng tưởng. Với một hồn thơ vừa phóng túng, vừa sầu mộng và rất ngông, Tản Đà đã thổi một luồng gió lãng mạn vào trong thi ca, dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kì đang sắp sửa (Hoài Thanh).

Bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” nằm trong cuốn Khối tình con I, xuất bản năm 1917. Bài thơ là lời nhà thơ nói với chị Hằng trong một đêm thu và xin chị cho lên cung trăng cùng chị để tránh xa cái trần thế đáng chán này. Bài thơ vẫn được viết theo thể thơ truyền thống của thi ca lúc bấy giờ: thể Đường luật bát cú.

Đọc kĩ bài thơ, ta thấy nhà thơ vẫn tuân thủ nghiêm chỉnh những quy tắc chặt chẽ của thể thơ cổ điển nhưng không gò bó, khô cứng, mà tự nhiên, thoải mái, lời thơ mặn mà, tình tứ và rất có duyên. Bài thơ mở đầu bằng một lời than thở, một tâm trạng, một nỗi lòng:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi

Trong câu thơ của Tản Đà, ta đọc được một nỗi sầu da diết khôn nguôi. Vì sao Tản Đà, một thanh niên đang phơi phới tuổi xuân, tài danh cũng đã nổi, lại trở nên sầu muộn như thế? Trong bài Giải sầu (1918), Tản Đà cũng đã từng viết: Từ độ sầu đến nay, ngày cũng có lúc sầu, đêm cũng có lúc sầu.

Mưa dầm lá rụng mà sầu, trăng trong gió mát mà càng sầu; một mình tĩnh mịch mà sầu, đông người cười nói mà càng sầu; nằm vắt tay lên trán mà sầu, đem thơ văn ngâm vịnh mà càng sầu… sầu không có mối, chém sao cho đứt sầu không có khối, đập sao cho tan… Phải chăng cái sầu trong thơ Tản Đà là cái sầu vẩn vơ, vô cớ? Không! Đó là nỗi buồn thời thế, buồn nhân sinh! Nỗi buồn ấy chỉ có thể có được ở những linh hồn cao khiết còn giữ được của một thời cái cốt cách vững vàng, cái phong thái thung dung (Hoài Thanh) như Tản Đà.

Cùng với nỗi buồn, Tản Đà chán ngán cuộc đời: Trần thế em nay chán nửa rồi. Thái độ chán đời của Tản Đà là thái độ bất hòa sâu sắc với cuộc đời, với cái xã hội phong kiến thực dân ngột ngạt tầm thường. Thái độ ấy bộc lộ một cá tính mạnh mẽ của một tâm hồn thanh cao không chịu uốn mình theo một khuôn phép của xã hội, không cam chịu một thân phận nô lệ thấp hèn.

Tâm trạng của Tản Đà, suy cho cùng, là nỗi đau đớn rất đáng quý, là nỗi buồn đẹp để người đời phải ngẫm suy. Bất hòa sâu sắc với thực tại, Tản Đà tìm cách thoát li thực tại. Khát vọng thoát li thực tại không chỉ có ở Tản Đà, mà nó là khát vọng của cả một lớp thanh niên trí thức đang sống trong không khí tù túng, u uất. Không ít nghệ sĩ đã tìm cách thoát li trong rượu, trong thơ, trong cuộc sống giang hồ tài tử, trong cõi bồng lai tiên cảnh mơ hồ của mộng tưởng. Với Tản Đà, cá tính ngông khiến thi nhân tìm cho mình một cách thoát li cũng rất đặc biệt, rất ngông:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Thật là một địa chỉ thoát li lí tưởng, vừa xa lánh hẳn cái trần thế đáng chán kia, vừa được sống trong một thế giới bồng lai tiên cảnh thành khiết, bên một thiếu nữ đẹp và bao dung như chị Hằng. Còn gì hơn thế! Điều đáng chú ý ở đây là việc bày tỏ khát vọng thoát li. Đầu tiên là một lời ướm hỏi: Cung quế đã ai ngồi đó chửa? Tiếp đến là một gợi ý: Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Giọng điệu thơ thật tự nhiên, vừa dí dỏm, vừa tha thiết, mặn mà, làm sao nỡ từ chối? Chẳng biết chị Hằng đã đồng ý chưa mà nhà thơ lại thích thú đến thế khi tưởng tượng ra cảnh sống bên cạnh tiên nga:

Có bầu, có bạn, can chi tủi,
Cùng gió, cùng mây, thế mới vui!

Vì sao Tản Đà cảm thấy sung sướng và hạnh phúc đến thế? Bởi lẽ ông đã tìm được tri kỉ: có bầu, có bạn, được hòa đồng với cuộc sống: cùng gió, cùng mây, không còn phải cô đơn, buồn tủi nữa.Thế có nghĩa là trước đây, ở trần thế, ông luôn cảm thấy mình lẻ loi, cô đơn, buồn tủi: Đông người cười nói mà càng sầu? Sống giữa chốn phồn hoa đô thị nhộn nhịp, hỏi đã mấy ai hiểu được nỗi lòng thi nhân?

Chung quanh những đá cùng cây
Biết người tri kỉ đâu đây mà tìm!

Nhớ lại từ thế kỉ trước, Bà huyện Thanh Quan cũng đã từng phải cô đơn, buồn tủi giữa đám tuỳ tùng, giữa những người xung quanh bà:Một mảnh tình riêng, ta với ta! Nếu như nữ sĩ xưa chỉ biết ôm mối sầu tủi, buồn thương trong lòng, thì Tản Đà không cam chịu, ông tìm đến với chị Hằng, cùng chị làm bầu bạn tâm tình để cho tâm hồn mình thư thái lại, để cho lòng mình rộng mở mà đón nhận thiên nhiên, đón nhận vẻ đẹp thanh tao của cuộc sống không vấy bẩn bụi trần.

Mối u uất trong tâm hồn thi nhân dường như đã được giải toả.Giấc mộng lên cung trăng của thi nhân thật lãng mạn, đầy chất đa tình và ngông. Giấc mộng thoát ly này hẳn phải khiến nhiều người ngỡ ngàng? Trong thơ văn xưa, đã có không ít người mơ lên cung trăng, thả hồn vào cõi tiên, nhưng liệu đã có ai như Tản Đà, đem theo nguyên vẹn cái: thói phong tình bất kính như thế? Mạch cảm xúc lãng mạn và ngông được đẩy lên cao độ bằng một hình ảnh tưởng tượng đầy bất ngờ và ý vị:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian, cười.

Trong con mắt của Tản Đà, cõi trần bụi bặm kia giờ đây chỉ còn bé tí. Và nhà thơ bật cười thích thú với cái ý nghĩ đó. Một cái cười vừa thỏa mãn, vừa mỉa mai, bao dung. Thỏa mãn vì đã thực hiện được mộng tưởng thoát li, đã xa lánh được hẳn cái xã hội tầm thường, tù túng. Mỉa mai, bao dung vì cõi trần giờ đây chỉ còn bé tí, đâu có thể giam hãm được một tâm hồn đang bay bổng lên trên nó. Hai câu kết là đỉnh cao của một tâm hồn lãng mạn và ngông của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tiên sinh.

Bài thơ khép lại trong niềm sung sướng đến mãn nguyện của thi nhân vì đã thực hiện được giấc mộng thoát li. Thế mà mấy mươi thập kỉ sau người đời vẫn còn phải bàn luận về nó.

SCR.VN chia sẻ 🌹 Sơ Đồ Tư Duy Trong Lòng Mẹ Nguyên Hồng 🌹 10 Mẫu Ngắn Gọn

Phân Tích Bài Thơ Muốn Làm Thằng Cuội Luyện Viết – Mẫu 11

Gợi ý viết phân tích bài thơ Muốn làm thằng Cuội luyện viết dưới đây sẽ giúp các em học sinh trau dồi và nâng cao kỹ năng nghị luận văn học.

Được mệnh danh là dấu gạch nối giữa hai thời đại văn học, thơ Tản Đà phóng túng, ngông nghênh với nội dung nhiều lần khiến độc giả bất ngờ, ngỡ ngàng. Một trong những bài thơ rất nổi tiểng của ông đó là bài thơ: “Muốn làm thằng Cuội”.

Ngay từ những câu mở đầu bài thơ, Tản Đà đã làm cho độc giả phải thích thú:

Đêm thu buồn lắm! Chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi.

Hai câu thơ hiện lên với tưởng tượng về một đêm mùa thu với trăng sáng soi xuống trần thế. Nhà thơ trong tư thế ngắm trăng sáng mà liên tưởng tới câu chuyện cổ tích trên cung trăng có chị Hằng mà thốt lên với trăng, với chị Hằng trong hai dấu chấm than nặng trĩu. Cách gọi “chị Hằng” that thân mật, tự nhiên, gần gũi”.

Nhà thơ như đang tâm sự về cảnh “buồn” của mình đồng thời bộc lộ tâm trạng trước cuộc sống thực tại “chán nửa”. Phải chăng, sống trong một xã hội tù hãm, uất ức, khi mà đất nước mất chủ quyền, con người mất tự do, những kẻ hãnh tiến thì thi nhau ganh đua bỏ mặc vận mệnh giang sơn, ông buồn chán vì phận tài hoa mà lận đận, không đủ sức thay đổi hiện thực bi kịch.

Tản Đà bộc lộ ước muốn của mình:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Phong cách của Tản Đà có thể tóm gọn trong một chữ “ngông” trong một thái độ phóng túng coi thường khuôn phép trói buộc cá tính, ông luôn khiến cho độc giả phải bất ngờ bởi những ý tưởng trong những vần thơ của mình. Ông đã bộc lộ ước muốn của mình qua một câu hỏi rất bất ngờ cùng lời “xin” hết sức tự nhiên, chân thành, xin chị Hằng dùng cành đa để nhấc ông lên cung trăng để ông giống chú Cuội. Và ông đưa ra lí do đó là:

Có bầu, có bạn, can chi tủi,
Cùng gió, cùng mây, thế mới vui.

Tản Đà đã đề nghị kết bạn với chị Hằng, bộc lộ một mong muốn có bạn để bớt tủi, có lẽ dưới trần thế ông đang rất cô đơn, khó mà tìm được tri âm tri kỉ nên chỉ có thể lên chốn cung trăng, chốn mộng tưởng để mong vơi nỗi cô đơn ấy. Điều này còn bộc lộ mong muốn phiêu diêu cùng mây cùng gió trong không gian thơ mộng, rộng lớn, không bị bó buộc. Khi ấy:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám.
Tựa nhau trông xuống thế gian, cười.

Vào rằm tháng tám, khi ấy trăng là sáng nhất, tròn nhất, có người cho rằng vào khi ấy, người ta thậm chí có thể nhìn thấy cây đa và chú Cuội ngồi dưới. Tản Đà muốn mình được lên cung trăng sống trong cảnh bồng lai, thoát li hiện thực, tránh xa tất cả hiện thực đen tối âm u lên chốn tiên cảnh vô tư thanh tao rồi để khi nhìn xuống trần gian thì sáng khoải cười lũ người quyền thế phàm phu trang giành, ganh đua nhau, cười sự vô vị, trống rỗng của một thế gian mà ông đã “chán nửa”.

Hơn thế, đay còn là cái cười mãn nguyện khi đã thoát li khỏi trần thế, thoát khỏi hố đen mà ông bất hào sâu sắc bấy lâu. Chữ “cười” được tách ra bởi dấu phẩy chính là để nhấn mạnh ý nghĩa ấy.

Với thể thơ thất ngôn bát cú mà không hề khuôn khổ, bài thơ mang đến cho người đọc sự dễ dàng trong việc tiếp cận và hiểu. Tuy rằng ước muốn làm thằng Cuội có vẻ như hoang đường nhưng Tản Đà cũng giống đa phần các trí thức đương thời, chỉ muốn thoát li khỏi thực tại tù túng, héo hon bởi họ là nhưng người có tài, có chí nhưng chỉ đành bó tay bất lực trước thời cuộc và chỉ biết gửi nỗi chán chường ấy vào thi ca, vào những ước muốn thoát li.

Bài thơ là cái ngông đáng trân trọng của Tàn Đà trong một thế cuộc vần xoay đen tối của đất nước. Đọc bài thơ, người đọc có tâm thế thoải mái trong sự tiếp thu tâm tư của tác giả nói riêng và các trí thức đương thời nói chung.

Tiếp tục tham khảo ☀️ Phân Tích Tôi Đi Học ☀️ 15 Bài Văn Mẫu Ngắn Hay Nhất

Phân Tích Muốn Làm Thằng Cuội Ngắn Hay – Mẫu 12

Bài văn phân tích Muốn làm thằng Cuội ngắn hay dưới đây sẽ mang đến cho các em học sinh những gợi ý làm bài phong phú.

Đầu thế kỉ XX, trên thi đàn xuất hiện một gương mặt mới lạ. Ấy là Tản Đà. Sự xuất hiện của Tản Đà đã gây xôn xao trong dư luận đương thời. Không ít ánh mắt tò mò, hiếu kì! Những lời khen, chê, đủ cả! Người ta tò mò, hiếu kì vì cái thói phóng túng, tài tử của ông thì ít, mà tò mò hiếu kì về thơ ông thì nhiều. Lần đầu tiên trong văn chương Việt Nam, xuất hiện một hồn thơ như thế; vừa sầu mộng, vừa đa tình và rất ngông.

Tản Đà vốn xuất thân Nho học, và có lẽ thuộc lớp Nho học cuối cùng của Việt Nam. Sống ở cái thời mà nền Nho học sắp tàn, Tản Đà đã sớm chuyển sang sáng tác văn chương bằng chữ quốc ngữ và nhanh chóng trở nên nổi tiếng, đặc biệt vào những năm 20 của thế kỷ XX. Với những tìm tòi, sáng tạo mới mẻ, Tản Đà đã thổi một luồng gió mới vào thơ ca đương thời.

Thơ ca truyền thống xưa nay thường đề cao cái ta, một cái ta khuôn mẫu của đạo đức, lí tưởng và trách nhiệm công dân. Đến Tản Đà, một cái tôi đầy bản ngã và cá tính đã ra đời. Tuy nhiên, hiện thực xã hội ngột ngạt, tù túng đã bóp chết những khát vọng của con người, nhất là người nghệ sĩ. Trong suốt cuộc đời mình, Tản Đà đã sống trong tâm trạng bết đắc chí tài cao, phận thấp, chí khí uất. Tâm trạng u uất ấy khiến thơ Tản Đà tràn ngập một nỗi sầu da diết khôn nguôi:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi,

Nỗi sầu của Tản Đà không chỉ là do bất mãn cá nhân, buồn về thân phận: Hai mươi năm lẻ hoài cơm áo – Mà đến bây giờ có thế thôi, mà còn là nỗi buồn đau về nhân sinh, thời thế, về đất nước: Gió gió mưa mưa đã chéo phèo – Sự đời nghĩ đến lại buồn teo. Suy nghĩ cho cùng, đó là nỗi buồn đau đẹp, rất đáng được trân trọng!

Bất hòa sâu sắc với cuộc đời, với xã hội, Tản Đà muốn thoát ra khỏi cuộc đời.

Không chỉ có Tản Đà ôm ấp khát vọng thoát li. Phàm những ai sống ở thời đó mà có tâm hồn thanh cao và cá tính mạnh mẽ như Tản Đà đều muốn thoát li khỏi cuộc đời. Tuy nhiên, không ít người đã rơi vào bế tắc vì muốn thoát li mà không thoát li nổi (Xuân Diệu). Nhưng Tản Đà lại khác. Với tâm hồn nghệ sĩ lãng mạn, Tản Đà tìm cách thoát li bằng mộng tưởng. Đặc biệt, giấc mộng thoát li của Tản Đà rất ngông; thoát li lên cung trăng làm bầu bạn với chị Hằng:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi,
Có bầu có bạn can chi tủi,
Cùng gió, cùng mây thế mới vui.

Tản Đà vốn là một hồn thơ ngông, chính Tản Đà cũng tự nhận mình là một vị tiên trên trời, bị đày xuống hạ giới vì tội ngông, đã từng viết bài thơ Dạm bán áo đoạn để mà mua giấy viết ngông. Vì thế, cái khát vọng thoát li rất ngông của Tản Đà trong bài thơ Muốn làm thằng Cuội cũng là lẽ thường tình của thi sĩ.

Khát vọng thoát li lên cung trăng của Tản Đà đã là rất ngông rồi, nhưng ngông hơn nữa là cách xưng hô thân mật, có phần suồng sã chị chị em em của Tản Đà đối với chị Hằng; rồi khi đã lên đến cõi tiên, lại dám nhận mình là tri âm, tri kỉ của người đẹp, xem người đẹp như bạn tâm tình để giãi bày mọi tâm sự: có bầu có bạn can chi tủi, thỏa được thói phóng túng cùng gió cùng mây thế mới vui.

Một giấc mộng vừa ngông, vừa lãng mạn và cũng rất đa tình. Nó là sản phẩm tất yếu của một tâm hồn luôn cảm thấy buồn vì trống vắng, cô đơn như Tản Đà. Trong cuộc đời mình, đã không ít lần thi sĩ khắc khoải đi tìm những tâm hồn tri kỉ:

Chung quanh những đá cùng cây
Biết người tri kỉ đâu đây mà tìm
Ao ước được thả hồn mình cùng mây gió:
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay

Thoát li khỏi cuộc đời để làm thằng Cuội, nỗi sầu u uất trong lòng ông dường như đã được giải tỏa.

Mạch cảm xúc lãng mạn và ngông đẩy lên đến cao độ ở hai câu kết của bài thơ:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười,

Trong con mắt nhìn đời rất ngông của Tản Đà, cõi trần bụi bặm chỉ còn là bé tí chẳng đáng phải bận tâm. Một nụ cười hóm hỉnh mà thật có duyên, rất Tản Đà.

Có thể nói bài thơ Muốn làm thằng Cuội là một sáng tác tiêu biểu cho hồn thơ tràn đầy cảm xúc lãng mạn, vừa sầu mộng vừa đa tình và rất ngông của Tản Đà. Hồn thơ ấy đã khắc một dấu ấn sâu đậm trong thơ ca đương thời và mãi đến tận mai sau.

Gợi ý cho bạn 🌳 Phân Tích Bài Nhớ Rừng 🌳 Top 10 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Tác Phẩm Muốn Làm Thằng Cuội Đơn Giản – Mẫu 13

Tham khảo bài văn phân tích tác phẩm Muốn làm thằng Cuội đơn giản dưới đây với những ý văn ngắn gọn và luận điểm cơ bản nhất.

Người ta nhắc tới Tản Đà với nhiều ấn tượng sâu đậm: là thi sĩ khởi đầu cho nền thơ lãng mạn, là người chắp viên gạch nối thơ cổ đại với thơ hiện đại. Trong chất lãng mạn đó ẩn chứa tư tưởng, tình cảm và tấm lòng yêu nước sâu sắc của ông. Bài thơ: “Muốn làm thằng Cuội” là một ví dụ tiêu biểu.

Như ta đã biết – xã hội mà Tản Đà sống quá coi trọng đồng tiền và địa vị. Tài năng – sức lao động – tình cảm sâu đậm không đem lại hạnh phúc cho con người. Bao trùm bên trong là nỗi buồn về thực tại. Tản Đà đã bật lên một lời gọi, lời nhắn gửi chị Hằng – người bạn muôn đời của những kẻ cô đơn:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi.

Mở đầu bài thơ là một lời than thở, một nỗi sầu da diết. Giọng điệu thân thiết pha chút mỉa mai bởi cuộc đời ngột ngạt, bon chen vì công đanh dang dở: “Tài cao, phận thấp, chí khí uất”. Là thi sĩ nên nỗi buồn đã kết thành nỗi sầu. Đây là thái độ không chấp nhận thực tại, bất hoà thực tại, bất hoà với trần thế.

Ông khát khao một cuộc sống đẹp hơn, vượt lên trên cái thấp hèn:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Đó là thế giới mà ông mơ ước, là cõi đời trong sáng, tinh khiết, không vướng bẩn, không lo lắng, bon chen.

Hai câu thơ là câu hỏi, là lời đề nghị, là lời cầu xin được lên cung trăng, nơi thanh cao, không phải chịu cảnh đời trần thế nhố nhăng tù hãm. Nỗi sầu của Tàn Đà là nỗi sầu của người nô lệ. Bất lực trước thực tại, Tản Đà muốn lẩn trốn vào thiên nhiên bằng mộng tưởng:

Có bầu có bạn, can chi tủi
Cùng gió cùng mây thế mới vui

Thi sĩ lên cung quế có bạn, có bè quên đi nỗi ngán ngẩm, chán nản, và giải toả được nỗi buồn – ông đã “vui” đã “cười” – ông cười tất cả những giành giật, nhố nhăng nơi trần thế, “cười” sung sướng khi thấy cõi trần không ai được như ông, được hưởng cuộc sống thần tiên thoát tục.

Hai câu thơ:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông thấy thế gian cười

thật độc đáo và lãng mạn. Rằm tháng tám là khi trăng trong nhất, đẹp nhất và cũng là sáng nhất. Vào lúc tuyệt vời nhất của trăng ấy, nhân vật trữ tình ước muốn cùng chị Hằng; ngồi bên chị Hằng tựa vào nhau mà nhìn xuống trần thế để cười.

Câu thơ là đỉnh cao của cái ngông rất phù hợp với tính chất Tản Đà. Ngồi bên cạnh người đẹp, đó đã là một niềm hạnh phúc. Hơn thế nữa thi sĩ còn tự đặt mình lên một địa vị cao để mà cười cợt. Cái ngông này thật hiếm có, đáng yêu, đáng trân trọng ở trong giai đoạn này. Bởi các thi sĩ lãng mạn yêu nước nhưng không đủ dũng khí để chiến đấu – thường tìm đến thiên nhiên hoặc trốn vào mộng tưởng để trốn đời.

Cả bài thơ là giấc mộng kỳ thú, là niềm khao khát về cuộc đời đẹp, về một cõi mơ trong sáng, không vướng bận sự đời.

Tóm lại, tâm trạng bao trùm cả bài thơ là tâm trạng buồn chán thất vọng với cuộc đời. Đó là thái độ không dung hoà với thực tại, là sự phản kháng gián tiếp với cuộc đời. Thi sĩ khát khao một xã hội tự do, tươi đẹp và trong sạch. Hình ảnh chị Hằng với cung quế, cây đa là những hình ảnh của cõi tiên đầy lãng mạn. Cõi tiên ấy là cả một thế giới mà Tản Đà mong muốn có.

Thực ra, sự chán chường và niềm khát khao ấy xuất phát từ lòng yêu nước thầm kín của Tản Đà – nỗi buồn xuất phát từ nỗi nhục của người nô lệ và ước muốn xuất phát từ khát vọng được tự do.

Chia sẻ thêm cùng bạn 🍀 Phân Tích Thông Tin Về Ngày Trái Đất Năm 2000 🍀 9 Mẫu Đặc Sắc

Phân Tích Bài Muốn Làm Thằng Cuội Lớp 8 – Mẫu 14

Bài văn phân tích bài Muốn làm thằng Cuội lớp 8 dưới đây sẽ là nội dung tham khảo cần thiết hỗ trợ các em học sinh trong quá trình làm bài.

Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn chương nên đã tạo ra một Tản Đà tài năng và mang phong cách văn chương khác biệt, đó là cái đa tình, ngông nghênh của một người nghệ sĩ tài hoa. Cái ngông của ông được thể hiện rõ trong bài thơ “Muốn làm thằng Cuội”.

Bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” viết vào năm 1916, được in trong tập thơ “Khối tình”. Muốn làm thằng Cuội được viết theo thể thơ cổ thất ngôn bát cú Đường luật nhưng bài thơ lại có những nét mới mẻ, sự phá cách mang đậm phong cách của tác giả.

Ngay từ câu đầu tiên tác giả đã bộc lộ tâm sự của mình về nỗi buồn không biết nói với ai, chỉ biết nói chính mình và nói với trời cao thôi.

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi !
Trần thế em nay chán nửa rồi.”

Mùa thu là mùa ánh trăng sáng nhất, trăng thu chiếu rọi khắp không gian vốn một cảnh đẹp nhưng khi thưởng ngắm mĩ cảnh ấy, tác giả lại cảm thấy buồn và trĩu nặng những suy tư. Từ “buồn” và “chán” trong hai câu thơ trên đã nói lên được sự cô đơn của tác giả cũng như sự chán ghét cuộc sống nơi trần thế ngột ngạt và bế tắc. Nhà thơ muốn thoát khỏi thực tại, muốn làm một anh Cuội sống vô lo, vô nghĩ.

Xã hội lúc đó thối nát, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Khi ấy, ánh sáng của cách mạng chưa tới được những người tri thức như Tản Đà, lúc đó các nhà thơ nhà văn chưa tìm được hướng đi riêng cho mình nên thường mang tâm trạng chán chường, lạc lõng giữa trần gian.

Tản Đà muốn thoát khỏi trần thế này, ông muốn rời khỏi trần gian muốn lên cung trăng bầu bạn với chị Hằng cho thấy được cái ngông cuồng, cá tính mạnh mẽ, táo bạo của ông. Nhà thơ muốn thoát khỏi cuộc sống bế tắc này muối đi đến một thế giới mới- thế giới của thần tiên, nơi không có những bất công, thối nát của hiện thực xã hội đương thời.

Hai câu thơ tiếp thể hiện tiếp cái ngông của tác giả.

Cung quế đã ai ngồi đó chưa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi”

Là một người yêu đời, yêu cuộc sống nên tác giả muốn thoát ly khỏi cuộc sống hiện tại. Câu hỏi “Cung quế đã ai đó ngồi chưa?” thể hiện ước muốn đó, hỏi chị Hằng sống một mình trên cung trăng có buồn, có cô đơn không hay câu thơ “Cành đa xin chị nhắc lên chơi” đã thể hiện mong muốn tột cùng- thoát khỏi cuộc sống hiện tại, thoát khỏi xã hội thối nát, gò bó.

Hai câu thơ tiếp theo là khao khát được lên cung trăng cùng chị Hằng bầu bạn.

Có bầu có bạn, cùng chi kỷ
Cùng gió cùng mây, thế mới vui”

Điệp từ “có” và “cùng” thể hiện ước muốn có bạn có bè, cùng làm cùng chung sống, cùng bàn luận về thơ ca, cùng ngao du khắp nơi giống như những người bạn tri kỷ nhưng ở trần thế ông không thể tìm được người bạn như thế.

Hiện thực trần gian là những giọt nước mắt đau khổ, là những bất công trái luân thường đạo lý nên Tản Đà muốn lên cung trăng tận hưởng được bầu không khí của sự tự do, được cùng gió cùng mây ngao du khám phá mọi nơi, tránh xa trần thế thoát khỏi chốn ngục tù. Từ khát khao có phần ngông nghênh, có phần vô lí ấy, người đọc cảm thông được với những nỗi niềm, những suy tư trần thế đầy trĩu nặng của ông .

Cái ngông của Tản Đà không phải ngông của sự ngạo mạn, vô lý mà là ước muốn từ tận sâu của con người của ông. Hai câu thơ cuối tác giả muốn được sống cả đời trên cung trăng để được sống cuộc sống thần tiên.

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.”

Tác giả đã tưởng tượng ra bối cảnh mình cùng chị Hằng cùng nhau bầy bạn, cùng trông nhìn thế gian. Đến đây, cái ngông đã lên mức đỉnh điểm bởi tác giả không xưng hô chị em nữa mà thay vào ông coi chị Hằng như một người bạn tri kỷ. “Trông xuống” ở đây chính là cung trăng, nơi Tản Đà cùng chị Hằng kết bạn và buông bỏ những vướng bận, uư tư nơi trần thế.

Từ “cười” ở đây thể hiện sự thỏa mãn của tác giả, tiếng cười ấy thật sảng sự viên mãn làm sao. Tiếng cười đa thanh ấy còn là sự khinh bỉ của cuộc sống nơi trần thế tối tăm ngột ngạt nơi không có ánh tráng của chân lý của tình thương nó là nơi của sự áp bức của ách thống trị của chế độ nửa phong kiến nửa thực dân hà khắc.

Viết theo thể thơ cổ nhưng tác giả đã viết nó theo phong cách hoàn toàn khác, vẫn mang nét cổ điển, tuân thủ niêm, luật đấy nhưng cũng có sự sáng tạo của riêng của Tản Đà nên bài thơ mang một sắc thái hiện đại, mới lạ.

“Được làm thằng Cuội” được viết trong khoảng thời gian mà đất nước đang khó khăn, nhân dân lầm than chịu sự áp bức bóc lột triều đình phong kiến. Bài thơ thể hiện sự thương xót của tác cũng là mong muốn được thoát khỏi thế giới này, bộc lộ cái ngông nghênh tài hoa cùng khát vọng thành thực của người thi sĩ.

Qua bài thơ, ta thấy được cá tính mạnh mẽ cùng chất “ngông” đầy ấn tượng của Tản Đà. Muốn làm thằng Cuội không chỉ bộc lộ những khát vọng táo bạo của Tản Đà mà còn hé lộ những tâm sự thầm kín và tấm lòng đẹp của người thi sĩ luôn trăn trở với cuộc sống, với thực tại.

Có thể bạn sẽ thích 🌳 Phân Tích Ôn Dịch Thuốc Lá 🌳 8 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Phân Tích Muốn Làm Thằng Cuội Facebook – Mẫu 15

Chia sẻ dưới đây bài văn phân tích Muốn làm thằng Cuội facebook giúp các em học sinh có thêm gợi ý hay để vận dụng khi làm bài.

Bài thơ viết theo thể Đường luật thất ngôn bát cú. Niêm luật đầy đủ, đối ý, đối thanh chặt chẽ và cân đối. Nhưng ngay từ câu đầu, bằng lời lẽ tự nhiên, nhà thơ bộc lộ tâm sự trong lời than thở “buồn lắm”! Nhưng phải đọc cả hai câu đầu mới thấy cái buồn của nhà thơ là vì lẽ gì? Than thở với ai? Và ở thời điểm nào?

Ta hãy đọc câu 1 và 2:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi.

Thì ra vào một đêm thu, có trăng sáng, nhà thơ bị nỗi buồn nơi trần thế xâu xé, nên ngẩng lên phàn nàn với chị Hằng! Như thế đã “buồn” lại “chán” nữa, nhưng tìm hiểu một số ý trong hai câu thơ này sẽ thấy chẳng riêng của Tản Đà. Trước hết là lí do của cái buồn. Phải chăng trong cuộc đời này chí hướng của ông không thể thực hiện? Cái “trần thế” mà nhà thơ đang sống nó ngột ngạt, nặng trĩu xuống bởi các thanh bằng “chị Hằng ơi, trần thế em nay”.

Nhưng dù buồn chán, nhà thơ vẫn dùng cách xưng hô ngọt xớt “chị Hằng ơi”, thành ra giọng điệu thơ vừa ngọt ngào vừa thân thiết, xoá đi cái khoảng cách vời vợi giữa trái đất và vầng trăng. Nhưng sao không nói “chán lắm rồi” mù chỉ mới “chán nửa rồi”, một cách nói hình tượng có vẻ ỡm ờ, nhưng không sàm sỡ! vầng trăng từ xưa đến nay vốn là nguồn mạch vô tận của thơ ca. Nhưng hôm nay thì “vầng trăng” không còn để ngắm, để xúc cảm, mà để cho thi sĩ làm bạn xin giúp đỡ cho ông thoát khỏi cái “trần thế” đã chán một “nửa rồi”.

Tiếp đến câu 3 và 4 vẫn là nỗi niềm tâm sự, nhưng nói rõ nguyện vọng:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Đây là lời ướm hỏi “có ai” trên ấy hay chưa, rồi mới xin bám vào cây đa để lên chơi!

Câu 4 và 5: Ta thấy thi sĩ đi từng bước, lúc đầu chỉ xin lên chơi với ý nghĩa:

Có bầu có bạn can chi tủi
Cùng gió cùng mây thế mới vui.

Có nghĩa là trong cảm tưởng, nhà thơ hình dung thấy “chị Hằng” cũng đang cần có nguồn vui, cần “có bầu có bạn”!

Câu 7 và 8: Tiến thêm một bước nữa, nhà thơ muốn lên cung trăng và ở lại đó suốt đời chứ không phải chỉ lên chơi, vì hai câu kết đã nói rõ:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Đây là tiếng cười, nhưng cười cái gì khi trông xuống “thế gian”? Cười cái bọn bon chen ở trần thế nơi ông đã sống những ngày đi về với những giấc mộng mà trong thực tế thì rất vất vả, gian truân. Hai câu thơ cuối không còn khoảng cách “chị” và “em” nữa, mà hầu như nhà thơ đã “bá vai” chị Hằng cười sảng khoái hả hê!

Nhiều bài thơ của Tản Đà có cái ngông! Trong bài thơ này cái ngông cũng thể hiện ở nhiều câu. Trước hết là cái ngông muốn làm thằng Cuội. Hình tượng thằng Cuội trong dân gian được xem như một con người xấu (nói dối như Cuội) thế mà nhà thơ lại không có cái điều đáng chê trách đó, vì muốn lên cung trăng! Cái ngông thứ hai là lúc đầu ông xưng hô “chị, em” cười với chị Hằng, nhưng sau đó lại lả lơi muốn kết thành “bầu, bạn”.

Thật là khó hiểu hai chữ “bầu bạn”! Cái ngông thứ ba là lúc đầu ông chỉ muốn lên chơi, sau dần chuyển thành ý định ở lâu dài nơi cung quảng để mỗi năm đến rằm tháng tám “tựa nhau” trông xuống thế gian mà cười! “Tựa nhau” quả là một tư thế nam nữ có vẻ quá thân mật (nếu không muốn nói là suồng sã). Cái ngông cuối cùng là tiếng cười ngạo mạn, coi như dưới con mắt mình toàn chuyện nực cười.

Muốn làm thằng Cuội còn có ý nghĩa sâu xa khác là chán ghét cái xã hội hiện thời, mơ ước một cõi đời “Bồng Lai ngày tháng thanh nhàn”, nơi con người không còn vướng bận, lo lắng, bon chen nữa! Tuy vậy bài thơ không để lại một cảm giác nặng nề, bi quan mà gợi cho lòng ta một nỗi buồn man mác, trong sáng… Đó cũng là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ.

Thơ văn Tản Đà là cái gạch nối giữa cổ điển và hiện đại, nổi bật trên thi đàn hợp pháp hồi đầu thế kỉ. Bài thơ Muốn làm thằng Cuội rút ra từ tập thơ Giấc mộng con in năm 1926. Tuy mới chỉ là thể hiện của một khát vọng lãng mạn đầu tiên, nhưng đây là một hồn thơ phóng khoáng, khơi nguồn cho những sáng tạo của phong trào Thơ mới như ông Hoài Thanh đã nhận định. Cái hay của bài thơ là sức tưởng tượng dồi dào, táo bạo vừa phóng túng nhưng lại rất duyên dáng, tế nhị.

Đón đọc tuyển tập 🌹 Phân Tích Đánh Nhau Với Cối Xay Gió 🌹 9 Mẫu Hay Nhất

Viết một bình luận