Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn ❤️️ 13 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn ❤️️ 13 Bài Văn Mẫu Hay Nhất ✅ Đón Đọc Để Cảm Nhận Rõ Hơn Về Quan Niệm Sống Không Màn Danh Lợi Của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Lập Dàn Ý Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Lớp 10

Lập dàn ý cảm nhận về bài thơ Nhàn lớp 10 sẽ giúp các em học sinh nắm được luận điểm trọng tâm để triển khai bài viết. Tham khảo mẫu cảm nhận về bài thơ Nhàn dàn ý chi tiết như sau:

1.Mở bài cảm nhận về bài thơ Nhàn:

  • Sơ lược về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và tác phẩm Nhàn.

2.Thân bài cảm nhận về bài thơ Nhàn:

a. Vẻ đẹp cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

-Hai câu đề:

  • Hình ảnh hết sức dung dị đời thường, bộc lộ sự hòa hợp, gần gũi với tự nhiên
  • “Một mai, một cuốc, một cần câu” liệt kê ra những vật dụng thường ngày của nhà nông
  • Tâm thế sẵn sàng, ung dung của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
  • Điệp từ “một”, gợi ra một cuộc sống không tư lợi bon chen.
  • Nhịp ngắt 2/2/3, chậm rãi gợi ra nhịp sống thong thả, tâm thế sống đầy khoan thai, ung dung, tự tại
  • “Thơ thẩn dầu ai vui thú nào” thể hiện quan niệm sống và tâm trạng của tác giả. Số đông đều chạy theo lối sống đua chen, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại chọn cho mình lối sống điền viên, bình lặng, yên tĩnh chốn thôn quê.
  • Bộc lộ tâm trạng thanh thản, thảnh thơi, hoàn toàn mãn nguyện.

-Hai câu luận: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”:

  • Vận dụng nghệ thuật đối hoàn kết hợp dựng lên một bức tranh tứ bình đặc sắc gồm cả bốn mùa xuân, hạ, thu, đông
  • Gợi ra một nhịp điệu tuần hoàn của thời gian, rất đều đặn, thong thả, gợi ra tâm thế chủ động, ung dung, thoải mái, hòa hợp được với cuộc sống dân dã, thôn quê.
  • Điệp từ lặp lại hai lần động từ “ăn” và “tắm”, cho thấy rằng ở sự lựa chọn của mình, tất cả những nhu cầu tất yếu của con người đều được đáp ứng, mùa nào thức ấy, không hề thiếu thốn.
  • Thể hiện một cuộc sống đạm bạc, nhưng không hề khắc khổ, mang đến cho con người sự tự do, thanh thản, yên tâm vui sống.
  • Kín đáo thể hiện triết lý “nhàn”: Cuộc sống hưởng thụ những ưu đãi của thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên, chứ không phải là cố gắng gò bó, đắm chìm trong vòng xoáy vinh hoa, phú quý.

b. Vẻ đẹp nhân cách con người ta Nguyễn Bỉnh Khiêm:

-Hai câu thực “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/Người khôn, người đến chốn lao xao”:

  • Nghệ thuật tiểu đối, bộc lộ quan điểm về cái “khôn”, cái “dại” ở đời.
  • Triết lý sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tìm về nơi yên tĩnh, vắng vẻ, để giữ lại tấm lòng trong sạch, thanh cao, không bị những thức cường quyền lợi danh kiềm chế, làm mất đi sơ tâm ban đầu.
  • Bộc lộ quan niệm sống nhàn mấu chốt là nằm ở chỗ rời xa được vòng danh lợi, trả lại tự do cho tâm hồn, để tâm hồn được trong sạch, thanh thản.

-Hai câu thơ kết: “Rượu đến cội cây ta sẽ uống/Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”:

  • Hình ảnh uống rượu cội cây, là hình ảnh của bậc trí thức nho giả, là thú vui tao nhã, tìm đến rượu không phải để say mà là để tỉnh, để nhìn rõ nhân tình thế sự.
  • Mượn điển tích giấc mộng Nam Kha bộc lộ rõ cái nhìn của tác giả về những thứ công danh lợi lộc ở đời, đời người cũng như một giấc mộng, bao nhiêu giàu sang phú quý, rồi cũng tiêu tan. Chỉ có tấm lòng thanh cao, trong sạch, vẻ đẹp tâm hồn nhân cách, mới tồn tại được đời đời kiếp kiếp.
  • Lời tổng kết cho lối sống nhàn, kín đáo răn dạy người đời những triết lý sâu sắc về cuộc đời.

3.Kết bài cảm nhận về bài thơ Nhàn:

  • Tổng kết nội dung chính của tác phẩm Nhàn.

Gửi đến bạn 🍃 Dàn Ý Bài Nhàn 🍃 Mẫu Nghị Luận Bài Nhàn Đầy Đủ

Dàn Ý Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Ngắn Gọn Nhất

Phần đầu tiên, SCR.VN xin chia sẻ đến bạn đọc Dàn Ý Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Ngắn Gọn Nhất. Bạn đọc cùng tham khảo ngay để nắm được các ý chính phân tích nhé.

I. Mở bài

  • Giới thiệu tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đa tài, sống trong xã hội đầy bất công ông suy nghĩ, trăn trở về cuộc sống con người, quyết cầm bút lên để chiến đấu với gian tà.
  • “Nhàn” là bài thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện rõ quan niệm sống của tác giả.

II. Thân bài

– Hai câu đề:

“Một mai/một cuốc/một cần câu
Thơ thẩn dầu ai/ vui thú nào”

  • Nhịp điệu những câu thơ đầu tạo cảm giác thư thái, ung dung
  • Bằng cách sử dụng những vật dụng quen thuộc của người dân lao động cho thấy cảnh nghèo khó nhưng an nhàn, thanh bình biết bao.
  • Tâm trạng của nhà thơ là tâm trạng của một kẻ sĩ “an bần lạc đạo” vượt lên trên nỗi lo lắng bon chen của đời thường để tìm đến thú vui của ẩn sĩ.

– Câu thực:

  • Cách sử dụng phép đối: dại >< khôn, nơi vắng vẻ >< chốn lao xao cho thấy được sự khác nhau giữa lối sống của tác giả và người đời thường. Ông cho rằng nơi vắng vẻ là nơi thôn quê yên bình ở đó không còn bon chen chốn quan trường, đây mới thực là cuộc sống.
  • Cách xưng hô “ta”, “người”
  • Hai về tương phản làm nổi bật ý nghĩa, nhân mạnh phương châm, quan niệm sống của tác giả khác với thông thường. Đồng muốn ngầm ý phê phán thói đời, thói người, và thể hiện cái cao ngạo của kẻ sĩ.

– Hai câu luận:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

  • Cuộc sống giản dị không cần những thứ giàu sang hào nhoáng chỉ là sản vật từ nhiên nhiên “măng trúc” “giá”. Thấy được cuộc sống an nhàn, đạm bạc thanh cao, lối sống hòa nhập với thiên nhiên của tác giả.
  • Cái thú sống an nhàn ẩn dật, những con người có nhân cách cao đẹp khi sống trong thời loạn lạc ấy để giữ được phẩm giá cốt cách của mình chỉ có cách cáo quan về ẩn dật, an lòng với cảnh nghèo khó, sống chan hòa với thiên nhiên với vũ trụ.

– Hai câu kết:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

  • Xem nhẹ lẽ đời sống sa hoa phú quý, ông ngậm ngùi coi đó như một giấc chiêm bao.
  • Lối sống thanh cao vượt lên trên lẽ đời thường

III. Kết luận: Quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm sống vui thú với lao động, hòa hợp với thiên nhiên, giữ cốt cách thanh cao, xa lánh vòng danh lợi.

Đọc nhiều hơn dành cho bạn ☀️ Sơ Đồ Tư Duy Bài Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm ☀️ 10 Mẫu Hay

Mở Bài Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Còn đây, SCR.VN xin tổng hợp đến bạn đọc mẫu Mở Bài Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm hay nhất ngay bên dưới nhé.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là người có học vấn uyên thâm. Tuy nhiên khi nhắc đến ông là làm mọi người phải nghĩ đến việc, lúc ông còn làm quan ông đã từng dâng sớ vạch tội và xin chém đầu mười tám lộng thần nhưng đã không thành công nên ông đã cáo quan về quê. Do học trò của ông đều là những người nổi tiếng nên được gọi là Tuyết Giang Phu Tử. Ông là người có học vấn uyên thâm, là nhà thơ lớn của dân tộc.

Thơ của ông mang đậm chất triết lí giáo huấn, ngợi ca chí khí của kẻ sĩ ,thú thanh nhàn, đồng thời cũng phê phán những điều sống trong xã hội. Khi mất ông để lại tập thơ bằng tập viết thơ bằng chữ Hán là Bạch Vân am thi tập; tập thơ viết bằng chữ Nôm là Bạch Vân quốc ngữ thi và “Nhàn” là bài thơ tiêu biểu trong tập thơ Bạch Vân quốc âm thi tập, được viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật. Bài thơ ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhàn. Qua đó ta có thể thấy được vẻ đẹp chân chính trong tâm hồn người thi sĩ.

Đọc nhiều hơn dành cho bạn ☀️ Mở Bài Phân Tích Nhàn ☀️ 20 Đoạn Văn Mẫu Ngắn Hay Nhất

Kết Bài Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn

SCR.VN gửi tặng thêm cho bạn Tổng hợp những mẫu Kết Bài Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn để giúp bạn viết đoạn kết bài phân tích bài thơ Nhàn một cách cô đọng nhất.

Nhàn là bài thơ hay và nổi bật nhất trong số rất nhiều tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tác phẩm thể hiện rất rõ quan điểm của tác giả về lối sống nhàn, bao gồm bốn nội dung, bao gồm tự do lựa chọn lối sống, sống thuận theo tự nhiên, hòa hợp với thiên nhiên, thoát khỏi vòng xoáy danh lợi và cuối cùng là coi nhẹ vinh hoa phú quý mà nhiều người vẫn hằng ao ước. Điều đó khẳng định mạnh mẽ vẻ đẹp nhân cách và trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, là bài học mà cho đến muôn đời sau vẫn còn giữ nguyên những giá trị ban đầu.

Đừng bỏ qua 🔥 Kết Bài Phân Tích Nhàn 🔥 20 Đoạn Văn Mẫu Ngắn Hay Nhất

Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Ngắn Nhất

Gợi ý viết đoạn văn cảm nhận về bài thơ Nhàn ngắn nhất dưới đây sẽ giúp các em học sinh nhanh chóng ôn tập và chuẩn bị cho bài viết trên lớp.

Bài thơ “Nhàn” được trích từ tập “Bạch Vân Quốc ngữ thi”. Bài thơ đã ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhàn đồng thời qua đó ta có thể thấy được triết lí sống và nhân cách tốt đẹp của nhà thơ.

Ngay đầu bài thơ, tác giả giới thiệu cho người đọc về hoàn cảnh, cuộc sống của mình ở Bạch Vân Am. Mở đầu bài thơ tác giả viết một câu kể như sau:

Một mai một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Nguyễn Bỉnh Khiêm thật tài tình khi đã sử dụng điệp từ “một” để có thể vẽ lên trước mắt người đọc một khung cảnh bình dị, đơn sơ nơi quê nghèo. Tác giả cho dù là một mình nhưng không hề đơn độc một chút nào.

Đọc đến hai câu thơ thực tiếp theo trong bài thơ Nhàn dường như lại càng khắc họa rõ nét hơn chân dung của một lão nông Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao

Với câu thơ này chúng ta có thể xem là tuyên ngôn sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong những năm tháng sau khi cáo quan về ở ẩn. Ở đây Nguyễn Bỉnh Khiêm lại tự nhận mình “dại” khi tìm nơi vắng vẻ để sống. Thế nhưng đây là cái dại này cũng đã khiến nhiều người ghen tị và ngưỡng mộ.

Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm về nơi vắng vẻ để ở liệu đây có phải là trốn tránh trách nhiệm với nước hay không? Với thời thế như vậy thì ông tìm đến nơi vắng vẻ, tránh xa vòng danh lợi chốn quan trường. Thì khi đó con người mới sống thật là chính mình được. Thực sự có thể nhận thấy được đây là một cốt cách thanh cao, một tâm hồn đáng ngưỡng mộ.

Hai câu thơ luận cũng đã khiến cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn và thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Chỉ sử dụng một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của “lão nông nghèo”. Cứ mùa nào đều tương ứng với thức ăn đấy, tuy những món ăn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không có sơn hào hải vị. Nhưng những thức ăn có sẵn này dường như lại đậm đà hương vị quê nhà. Tất cả như đã khiến tác giả an phận và hài lòng.

Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Bài thơ khép lại bởi hai câu thơ triết lý này cũng đã đúc rút được về quan điểm, cách nhìn nhận của Nguyễn Bỉnh Khiêm về cuộc sống về vinh hoa. Đối với ông thì vinh hoa, phú quý như một giấc chiêm bao đến rồi đi.

Với vẻn vẹn 8 câu thơ, bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến người đọc ngưỡng mộ và khâm phục cốt cách, tinh thần và phong thái của một vị quan không màng danh lợi, chi mong yên ổn khi về già.

Xem nhiều hơn 🌟 Nghị Luận Bài Nhàn 🌟 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Bài Văn Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nhàn – Mẫu 1

SCR.VN chia sẻ thêm đến bạn đọc bài văn mẫu Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nhàn được tổng hợp sau đây nhé.

Có thể nói rằng với Nhàn là bài thơ được sáng tác trong thời gian Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê ở ẩn. Chữ “nhàn” của ông đã thể hiện được thái độ sống, một triết lí sống vô cùng rõ ràng. Và triết lí ấy được gói gọn chỉ trong một chữ “nhàn”.

Mở đầu bài thơ tác giả viết một câu kể như sau:

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Ta có thể thấy được ngay hai câu thơ mở đầu tạo ấn tượng đầu tiên với điệp ngữ “một” được lặp lại ba lần ở trong một câu thơ. Nó không chỉ mang tính chất liệt kê các sự vật quen thuộc đó chính là hình ảnh “mai”, “cuốc”, “cần câu” mà còn là những vật dụng rất đỗi quen thuộc mang bóng dáng nhà nông vô cùng chân chất vừa mang bóng dáng của một “Tao nhân mặc khách ngâm nga” vậy. Đó chính là một hình dáng ung dung thoải mái, thêm vào đó là một trạng thái tâm hồn thanh nhàn an nhiên không vướng bận chút bụi trần.

Có thể nhận thấy được câu thơ như một lời thách thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với người đời, và cho dù ai vui thú nào đi chăng nữa thì ta đây vẫn vui thú an nhàn, vui cuộc sống thôn quê nhất. Cũng chính từ những lời thách thức đó dường như cũng đã toát lên được phong thái thật thanh thản trong tâm hồn và thật vui thú điền viên của một lão nông già.

Khi đọc đến với hai câu thực tiếp theo đã khái quát chân dung nhân vật trữ tình và triết lí “nhàn” của thi nhân đã thể hiện qua câu:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao

Không khó khi nhận thấy được sự đối lập giữa các nhân vật trong hai câu thơ thể hiện đó chính là “nơi vắng vẻ” và chốn quê thật thanh bình vô cùng an nhàn, vô lo vô nghĩ. Thực sự đó chính là tâm hồn của con người luôn luôn hòa nhập cùng với thiên nhiên. Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì “chốn lao xao” cũng được ám chỉ đến nơi quan trường với những vòng danh lợi, ghen ghét và sự đố kỵ nữa. Và phải chăng tác giả “dại” cho nên ông mới tìm nơi thôn quê, còn người đời “khôn” tìm đến chốn quan trường.

Nhưng xét trong vần thơ này lại hoàn toàn ngược lại, “dại” có nghĩa là khôn, và từ “khôn” có nghĩa là dại. Bạn có thể nhận thấy được chính lối nói ngược mang ý nghĩa mỉa mai: người khôn mà chọn chốn lao xao đầy rẫy những tham lam, dục vọng, luôn luôn phải suy nghĩ đắn đo, khiến cuộc sống luôn vội vã.

Hai câu thực như mang nghĩa mỉa mai chế giễu lũ người kia chỉ biết lao đầu vào tham vọng, chính vào vòng danh lợi. Còn đối với tác giả thì ông dường như cũng đã phủ nhận vòng danh lợi ấy bằng cách thể hiện quan điểm, khí chất thanh cao trong sạch.

Qua 4 câu thơ ta cũng thấy rõ rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lựa chọn cuộc sống thanh cao, hòa nhập với thiên nhiên và tránh xa tham vọng. Khi đọc đến hai câu luận cũng đã gợi mở cho người đọc về một cuộc sống vô cùng bình dị của nhân vật trữ tình.

Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Măng, tre, trúc, giá được xem chính là đồ ăn dân dã từ xa xưa mà con người ta vẫn thường ăn. Nó gắn liền với cuộc sống thôn quê chất phác và hết sức quen thuộc trong đời sống. Còn với câu thơ:

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Câu thơ khiến ta nhớ về những hình ảnh quen thuộc ở làng quê, về cái lối sinh hoạt dân dã. Khi trở về với thiên nhiên trở về với làng xóm. Tác giả thực sự hòa mình với thôn quê thuần hậu, người đọc có thể nhận thấy được cuộc sống thanh đạm, một cuộc sống dường như cũng đã mang lại thú vui an nhàn, thảnh thơi mùa nào thức nấy.

Thực sự đó là một cuộc sống được nhiều người ngưỡng mộ mà chẳng mấy ai có được. Chỉ là một cảnh sinh hoạt đời thường đơn giản nhưng nó lại thể hiện sự đồng điệu nhịp bước của thiên nhiên, đồng điệu với con người.

Cũng chính từ những thứ sinh hoạt đời thường này tác giả đã đến với hai câu kết, với sự đúc kết tinh thần, triết lí sống cao đẹp nhất:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Điển tích “cội cây” xuất hiện như mang được ngụ ý muốn nói rằng phú quý công danh là thứ phù phiếm và đồng thời cũng chỉ là áng phù vân trôi nổi có rồi lại mất như một giấc mơ mà thôi. Và qua đây ta có thể nhận thấy đây cũng chính là một thái độ rất đáng trọng bởi tác giả đã sống trong thời đại mà chế độ phong kiến bắt đầu khủng hoảng. Trong xã hội đó khi nền tảng đạo đức nho giáo bị phá vỡ, rạn nứt và thực sự đó là thời đại mà con người lấy tiền làm thước đo cho mọi giá trị khác.

Tóm lại, Nhàn đã thể hiện rõ sự kết hợp hài hòa giữa triết lí và trữ tình thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân cách ẩn sĩ Nguyễn bỉnh Khiêm. Đồng thời tác phẩm cũng thể hiện rõ một tâm hồn yêu thiên nhiên, hòa mình cùng thiên nhiên, phủ nhận danh lợi, làm gương cho bao thế hệ mai sau nữa.

Có thể bạn sẽ thích 🌟 Phân Tích Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm 🌟 10 Bài Hay

Trình Bày Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Hay Nhất – Mẫu 2

Đón đọc bài văn mẫu trình bày cảm nhận về bài thơ Nhàn hay nhất được chọn  lọc và chia sẻ dưới đây:

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ nổi tiếng của văn học trung đại, cũng là một bậc ẩn sĩ với lẽ sống thanh cao, không vướng bụi trần, Nhàn chính là một trong những bài thơ thể hiện rất rõ quan niệm sống, triết lý nhân sinh của nhà thơ.

“Một mai một cuốc một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Để ý thấy, nhịp thơ 2/2/3, với giọng điệu chậm rãi, âm điệu nhẹ nhàng, gợi ra cuộc sống an nhàn thanh thản của nhà thơ nơi thôn dã. Điệp từ một xuất hiện với tần suất dày đặc cho thấy tất cả đã sẵn sàng, chu đáo. Hình ảnh Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện trong câu thơ trên giống như một lão nông tri điền và một bậc tao nhân mặc khách, ông cáo quan về ở ẩn, tránh xa chốn quan trường bụi bặm về ẩn nơi thôn dã vui với thú điền viên, hòa mình với thiên nhiên cảnh vật.

Từ “thơ thẩn” dã toát lên phần nào tư thế và tâm thế của nhân vật trữ tình, thoải mái, ung dung tự tại mà cũng đầy kiêu ngạo như một lời thách thức với đời rằng mặc ai vui thú nào, ta đây vẫn say sưa với thú điền viên, với thú an nhàn, qua đó phần nào giúp ta thấy được sự gắn bó của nhà thơ với nông thôn, với cuộc sống dân dã, bình dị đời thường. Khi ấy, có thể khái quát ngắn gọn “nhàn” ở trong hai câu thơ mở đầu này là ung dung trong phong thái, thảnh thơi trong tâm hồn, vui với thú điền viên.

Sang đến hai câu tiếp theo, những quan điểm mới mẻ của Nguyễn Bỉnh Khiêm lại tiếp tục được hé mở:

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao”

Nơi vắng vẻ là nơi ít người, là chốn quê dân dã bình yên, cuộc sống thanh nhàn vô âu, vô lo, nơi tâm hồn con người được hòa nhập với thiên nhiên, thư thái không vướng bận vào vòng danh lợi. Ngược lại, chốn lao xao là chốn quan trường với những ganh đua, ganh ghét, là cửa ải danh lợi ồn ào, phiền não. Như vậy, có thể thấy ở đây nhà thơ sử dụng lối nói ngược mang hàm nghĩa mỉa mai: Người khôn vậy mà cứ đến chốn lao xao sống, như con thiêu thân lao đầu vào ngọn đèn.

Họ có biết đâu ở đấy đầy rẫy những ganh đua, đố kị, mưu sâu kế hiểm thâm độc, sống ở đó con người luôn luôn phải mệt mỏi, phải suy nghĩ đắn đo, vạch mưu tính kế, liệu có vui sướng được chăng? Hóa ra, cái dại của nhà thơ lại là cái dại khôn. Cái khôn của người hóa ra là cái khôn của dại. Cái dại của Nguyễn Bỉnh Khiêm là “Đại trí như ngu”- cái dại của kẻ hiểu được quy luật vần xoay của thế sự nhân sinh:

“Dưới công danh đeo khổ nhục
Trong dại dột có phong lưu”

Như vậy, triết lí nhàn ở trong hai câu thơ thực lại là nhàn gắn với sự thanh cao, không bị vướng vào vòng danh lợi, đấu đá luẩn quẩn.

Tiếp đến hai câu luận, triết lí “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm lại mang những cảm nhận sâu sắc, mới mẻ hơn:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Qua hai câu thơ, có lẽ người đọc đều nhận ra những hình ảnh dân dã quen thuộc, bình dị của chốn thôn quê. Trở về với thiên nhiên, với xóm làng, tác giả thật sự hòa mình với cuộc sống thôn quê, cuộc sống của người nông dân chất phác đôn hậu, cuộc sống thanh đạm an nhàn. Mùa nào thức nấy, chẳng cần phải lo lắng, bon chen. Như vậy, nhàn trong hai câu luận là sống thuận theo tự nhiên.

Đến câu kết, dường như toàn bộ tâm tư phía trên của nhà văn mới được bộc lộ trọn vẹn:

“Rượu, đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Trong câu thơ trên, có sử dụng điển tích chỉ phú quý công danh chỉ là ảo mộng, chỉ là áng phù vân trôi nổi, có rồi lại mất như một giấc mộng mà thôi. ở đây từ đó ta có thể thấy thái độ coi thường phú quý, vinh hoa, xem chúng chỉ là những điều phù phiếm thoáng hiện rồi lại vụt bay. Đó quả thực là một thái độ sống rất đáng trân trọng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bởi ông sống trong chế độ phong kiến khủng hoảng, nền tảng đạo đức bắt đầu rạn nứt, thời đại con người lấy tiền ra để đo mọi thứ.

Trong lúc xã hội đảo điên vì thứ vật chất phù phiếm, nhất thời, ông tỏ thái độ xem thường tất cả. Đó chính là cánh cửa hé mở cho người đọc thấy thái độ muốn tìm đến với sự thanh cao, khước từ phú quý lợi lộc ảo vọng.

Bài thơ tuy ngắn gọn, nhưng đã gửi gắm phần nào nỗi niềm sâu sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đồng thời là những bài học về chân giá trị vĩnh hằng cho hậu thế.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Văn Mẫu Cảm Nhận Bài Nhàn Ngắn Gọn – Mẫu 3

Tham khảo văn mẫu cảm nhận bài Nhàn ngắn gọn dưới đây sẽ giúp các em học sinh tham khảo cách hành văn súc tích.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ, nhà chính trị lỗi lạc thế kỉ XVI. Ông được mệnh danh là Tuyết Giang Phu Tử với những tác phẩm để đời. Bài thơ ” Nhàn” của ông là một trong những sáng tác tiêu biểu thể hiện tư tưởng của một bậc đại nho về triết lý sống ” Nhàn”, được viết trong giai đoạn nhà thơ đang vê ở ẩn.

Sự an nhàn trong tâm hồn chính là điểm nhấn của bài thơ, được thể hiện ngay trong nhan đề bài thơ. Mở đầu bài thơ tác giả đã viết hai câu thơ đề rất giản dị, mộc mạc:

“Một mai một cuốc một cần câu
Thơ thẩn dù ai vui thú nào”

Điệp từ “Một’ được tác giả nhắc lại ba lần trong một câu thơ. Tuy là một nhưng trong câu thơ lại không thể hiện sự cô đơn mà nó lại toát lên sự nhàn hạ. Hình ảnh chiếc ” cuốc” càng gợi sự giản dị gần gũi như đồng ruộng như làng quê dân dã.

” Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người chọn chốn lao xao”

Trong hai câu thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc họa chân dung và tính cách con người mình một cách vô cùng sinh động tự nhiên. Tác giả còn sử dụng những từ trái nghĩa để làm nổi bật lên ý nghĩa sâu sắc của câu thơ “ta dại” tìm nơi “Vắng vẻ” “người khôn” tìm chốn ” xôn xao”. Hai cụm từ “vắng vẻ” và “xôn xao” thể hiện sự ngược nghĩa nhau nhưng thể hiện quan điểm sống của tác giả vô cùng mạnh mẽ.

Trong thời xưa ai đỗ đạt có học thức đều muốn được ra làm quan, được phụng sự triều đình. Tuy nhiên triều đình cũng là nơi xô bồ với những phức tạp. Tự nhận mình dại người khôn xong lựa chọn ấy liệu có thật sự là dại? Những hành động này bị bọn người tham vinh hoa phú quý cười chê, nhạo báng bởi cho rằng ông thật “dại”.

” Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”

Trong hai câu thơ này thể hiện sự sung sướng an nhàn của tác giả sau khi về ở ẩn. Một bức tranh đồng quê yên vui thanh tịnh, thể hiện sự khoan khoái lạc quan trong sâu thẳm tâm hồn tác giả.

Trong hai câu thơ này tác giả đã nhắc tới đầy đủ 4 mùa trong một năm, và mùa nào tác giả cũng có những niềm vui riêng dành cho mình. Mùa thu thì măng, mùa đông thì được ăn giá. Mùa xuân thì được thả mình trong hồ sen, của mùa hè thì được tắm ao cá. Cảnh sắc thôn quê thật là đẹp, thật nên thơ hữu tình, Nguyễn Bỉnh Khiêm tha hồ hưởng thụ, bỏ qua những hỷ- nộ- ái- ố chốn quan trường.

Một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của “lão nông nghèo”. Mùa nào đều tương ứng với thức ăn đấy, tuy không có sơn hào hải vị. Nhưng những thức ăn có sẵn này lại đậm đà hương vị quê nhà, khiến tác giả an phận và hài lòng. Mùa thu có măng trúc ở trên rừng, mùa đông ăn giá.

Chỉ với vài nét chấm phá Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “khéo” khen thiên nhiên đất Bắc rất hào phóng, đầy đủ thức ăn. Đặc biệt câu thơ “Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” phác họa vài đường nét nhẹ nhàng, đơn giản. Nhưng toát lên sự thanh tao không ai sánh được. Một cuộc sống dường như chỉ có tác giả và thiên nhiên, mối quan hệ tâm giao hòa hợp nhau.

Đến hai câu thơ kết dường như đúc kết được tinh thần, cốt cách cũng như suy nghĩ của Nguyễn Bình Khiêm:

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiếm bao”

Hai câu thơ này là triết lý và sự đúc rút Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thời gian ở ẩn. Đối với một con người tài hoa, có trí tuệ lớn như thế này thì thực sự phú quý không hề là giấc chiêm bao.

Bài thơ ” Nhàn” là một trong những bài thơ tiêu biểu của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Qua đó ta thấy chiều sâu tư tưởng của bậc đại nho. Đó là triết lý sống ” Nhàn” của người xưa, triết lý có phần ảnh của đạo giáo.

Đọc nhiều hơn dành cho bạn ☀️ Phân Tích Thu Điếu Nguyễn Khuyến ☀️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Văn 10 Chi Tiết – Mẫu 4

Bài văn mẫu cảm nhận về bài thơ Nhàn văn 10 chi tiết dưới đây sẽ giúp các em học sinh nắm được nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Nền văn học trung đại đồ sộ đã mang đến cho chúng ta nhiều áng thơ hay, mang giá trị lớn lao. Trong số đó, không thể không nhắc đến bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm, một bài thơ đề cao triết lí sống thanh cao của những vị danh nho đương thời:

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp
Nhìn xem phú quý, tựa chiêm bao”

Câu thơ đầu mở ra những hình ảnh quen thuộc: “mai, cuốc, cần câu” đều là những công cụ gắn liền với thôn dã, làm hiện lên nhân vật trữ tình với tư thế của một lão nông biết đến ruộng vườn, nhất định không phải tư thế đạo mạo của một bậc đại nho. Câu thơ ngắt nhịp thoải mái, sử dụng lặp lại từ “một” khiến lời thơ vang lên như một tiếng sấm rạch ròi, chứng tỏ nhà thơ đón lấy cuộc sống hết sức vui sướng, niềm vui vì được làm điều mình thích.

“Thơ thẩn” là trạng thái ung dung, nhàn nhã, thoải mái, tác giả cảm thấy tự tin vì sự lựa chọn của mình. “Ai” là đại từ phiếm chỉ, khẳng định người khác có thú vui riêng và tác giả cũng vậy. Hai câu đầu khẳng định nhàn không phải là lánh đời mà là sự lựa chọn cho mình có một không gian sống mà mình thấy thích thú, tự do tự tại

Hai câu đầu là lối sống tự do tự tại, hòa mình vào cuộc sống chung thì hai câu sau là sự lí giải sâu sắc về sự lựa chọn ấy:

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao

“Ta” là nhà thơ, “người” là ai, chắc chắn không phải là thiên hạ mà là những kẻ ham công danh lợi lộc. Hai câu thơ có thể hiểu nơi vắng vẻ không phải là nơi lánh đời mà là nơi bản thân mình cảm thấy thích thú, sống thoải mái khác hẳn với chốn quan trường. Chốn thiên nhiên nơi đây là nơi thích hợp nhất để Nguyễn Bỉnh Khiêm tránh xa thói đời ô tập, để giữ cho tâm hồn mình luôn trong sáng và thanh sạch hơn.

Bằng cách nói ngược “dại” mà thực chất là “khôn”, còn “khôn” nhưng thực chất lại là “dại”, tác giả đã sáng suốt lựa chọn lối sống đối lập với bao người, thoát khỏi chốn lợi danh, ganh đua để sống an nhiên và tự tại.

Nhàn là trở về với cuộc sống tự nhiên, thoát khỏi vòng ganh đua lợi lộc, thói tục, không bị vướng vào tiền tài, địa vị và giữ cho tâm hồn mình luôn khoáng đạt bởi:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”

Mùa nào thì gắn với sự vật ấy, đều có sẵn trong tự nhiên không phải vất vả kiếm tìm. Đây là hình ảnh của cuộc sống tự cung tự cấp nhưng vẫn hết sức đủ đầy và vui vẻ. Phải chăng tác giả đã đan xen vào đó triết lí vô vi của đạo giáo : Không làm gì can thiệp vào quy luật của tự nhiên mà để chúng tự phát triển, đề nghị con người có lối sống thuận theo tự nhiên hay sao?

Thức ăn có sẵn trong tự nhiên tuy đạm bạc nhưng không phải là món ăn khoái khẩu, nhưng lại là cái nhàn thanh cao chứ không phải cái nhàn tục của hạng người phú quý, biếng nhác. Vì vậy câu thơ nghe nhẹ bẫng mà thanh thản, lâng lâng một niềm vui, cái nhẹ tênh của một cuộc sống không cần gắng gượng.

Tuy nhiên đến với cuộc sống nhàn phần nào cũng bởi đời ô trọc mà thôi. Có vẻ nhà thơ nhàn mà chưa thực sự nhàn, vẫn nhắc đến chuyện công danh:

“Rượu đến cội cây ta vẫn uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Hai câu thơ sử dụng điển Thuần Phong Vũ, thể hiện một cái nhìn bi quan về công danh khi thấy chúng chỉ tựa như một giấc chiêm bao, là áng phù vân, không có giá trị đích thực, không có ý nghĩa. Bởi vậy từ đó thi gia muốn nói con người coi thường phú quý, đứng cao hơn phú quý và không làm nô lệ cho nó. Với cái nhìn như thế, tác giả đã hoàn toàn quay lưng vào công danh, lấy nhàn làm chân lí sống. Vần thơ của cụ Nguyễn có sức cảnh tình với con người cần phải sáng suốt trước lợi lộc trước mắt.

Bài thơ “Nhàn” đề cao một nhân cách sống, một lối sống thanh cao, tránh xa lợi lộc tầm thường, hướng đến lối sống thiện tâm. Tuy nhiên, đặt trong hoàn cảnh thời đại mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đang sống, đó không phải là một giải pháp tốt để có thể cải tạo và thay đổi xã hội.

Mời bạn tham khảo 🔥 Bình Giảng Câu Cá Mùa Thu 🔥 Bình Giảng Thu Điếu

Cảm Nhận Bài Nhàn Nâng Cao – Mẫu 5

Bài văn mẫu cảm nhận bài Nhàn nâng cao dưới đây sẽ mang đến cho các em học sinh những  nội dung nghị luận văn học chuyên sâu.

Trong rất nhiều đóng góp của cho nền văn hóa dân tộc, đóng góp lớn lao cho sự nghiệp giáo dục được nhiều nhà khoa học đánh giá cao. Tất cả thành tựu giáo dục ở thời Mạc, không thể không nhắc tới công lao của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông chính là những tượng đàio thơ ca tiêu biểu của Việt Nam. Trong những tác phẩm nổi tiếng của ông có bài thơ “Nhàn” như một lời phê phán, một lời oán trách nhẹ nhàng trước cuộc sống đầy bon chen, ích kỉ. Đồng thời, nêu cao tinh thần lạc quan, khí tiết thanh cao của một người coi danh lợi.

Tác phẩm được sáng tác trong hoàn cảnh ông chán ghét cảnh quan trường và trở về ở ẩn tại làng quê. Đây cũng chính là cách xử thế quen thuộc của ông cũng như các nhà nho cùng thời trước bất bình của hiện thực chốn quan trường bị đồng tiền làm mờ mắt và thể hiện khí thế thanh cao trong sạch muốn tìm thú vui nơi thuên nhiên, cây cỏ. Nhà thơ sáng tác bài thơ này để thể hiện quan điểm và dại khôn ở đời

Những câu thơ đàu tiên hiện lên với bao điều thú vị nơi thôn quê bình dị:

Một mai , một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Nhịp thơ 2/2/3 thể hiện được lối sống thanh nhàn.“ Mai, cuốc” đều là những dụng cụ củ nông dân dùng để đào xới đất. Tác giả đã sử dụng biện phát liệt kê để chỉ hàng loạt các dụng cụ bình dị, tái hiện lên hình ảnh của một người nông dân thực thụ với những thú vui hòa mình cũng với thiên nhiên, câu cỏ. Câu cá một hoạt động thanh nhàn của mọi nho sĩ khi về quê ở ẩn. Dáng vẻ thơ được phác họa trong câu thơ độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự.

Điệp từ”một” cho thấy mọi thế đã đầy đủ sẵn sàng và chu đáo tác giả chọn cách sống hoàn toàn đối lập với những kẻ tham danh vọng, sống một lối sống xô bồ nơi quan trường. Từ láy “ thơ thẩn” hiện lên với một sự thư thái nghỉ ngơi mông lung, không còn vướng bận đến việc triều chính mà tự do tự tại nơi chốn thiên nhiên giản dị. “Ai” ở để ám chỉ người đời, những kẻ sống bon chen, tìm kiến tham vọng. Những kẻ này sẽ mãi chẳng thể kiếm được niềm vui sự thảnh thơi của chính bản thân mình.

Câu thơ tiếp theo tác giả dùng cách nói ngược để nói về sự khôn dại ở đời:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người dến chốn lao sao”

Câu thơ thể hiện được quan niệm khôn dại ở đời. Nhà thơ dùng cách nói ngược để nói về sự khôn dại ở đời. Đằng sau câu thơ ấy chính là ngụ ý ám chỉ cuộc sống thực tại đúng nghĩa. Tác gủa đã sử dụn Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Bỉnh khiêmg nghệ thuật đối lập giữa “ta” với “người”, “vắng vẻ” với “lao xao” để phản ánh sự thực giữa một nơi là quan trường bon chen mưu lợi , một nơi lag nông thôn bình dị chất phát. Dại – khôn còn là cách nói ám chỉ những kẻ ngu ngốc sống vùi mình vì danh lợi, bì đồng tiền làm mờ mắt mà đánh mất đi nhân tích.

“ Nơi vắng vẻ” là nơi ít người không ai cầu cạnh ta, ta không cần cạnh ai, nơi yên tĩnh hoàn hợp vơi thiên nhiên. Ở đây tác giả ẩn dụ chỉ ;;ối sông thanh bạch không màng danh lợi, hòa hợp bới thiên nhiên. “Chốn lao xao” là nơi ồn ào, nơi có cuộc sống sang trọng quền thế con người sống bon chen, đua danh lợi sống thủ đoạn trái ngược hoàn toàn với cuộc sống vắng vẻ. Chính ra cách lựa chọn của nhà thơ khi về với chốn bình yên quê nhà mới chính là khôn, sống đúng với bản thân yên bình mới thấy cuộc sống vui tươi thoải mái nhất.

Nhà thơ cảm nhận được rất rõ tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

“Măng, giá” đều là nhưng món ăn thôn quê có sẵn trong tự nhiên, thanh sạch chứ khong khắc khổ hết sức quen thuộc với con người nông dân. Mùa xuân tắm hồ sen, mùa hạ tăm ao. Cuộc sống hiện lên vô cùng giản dị.

Nghệ thuật liệt kê, đan xen bốn mùa xuân- hạ- thu- đông trôi qua hết sức nhàn hạ thoảnh mái và hiện lên một cuộc sống lạc quan không hề vướng bận đến miếng cơm manh áo, một tinh thần lạc quan trước cuộc sống thanh tao. Nhà thơ chìm đắm trong thiên nhiên, ăn uống rất thanh cao đạm bạc mùa nào thức ấy có gì ăn nấy không cầu kì cao lương mỹ vị.

“Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

Tác giả mượn điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say, nằm ngủ quên dưới cây hòe mộng thấy mình giàu sang mơ quan trường để ám chỉ danh lợi phú quý chỉ là giấc mơ chiêm bao, thể hiện rõ được thái độ coi thường danh vọng, tiền bạc phú quý chỉ như một giấc mơ dưới gốc cây hòe thoảng qua không có ý nghĩa gì.

Tìm rượi để uống cho say để mơ, say để bừng tỉnh chí tuệ, khẳng định lẽ sống đẹp của mình “ coi thường phú quý danh lợi” chân trọng cái tồn tại vĩnh hằng cuat thiên nhiên và nhân cách sống. Trong câu thơ còn có chút sự hờn trách, bất lực trước sự đời, đâu đâu cũng là cuộc sống hư danh.

Tác phẩm đã thể hiện được quan niệm sống của tác giả rời xa phú quý để giữ cốt cách thanh cao, không màng phú quý để được sống hòa hợp với thiên nhiên, cây một lối sống không vướng bận, không bon chen. Nghệ thuật thơ đối lập, nói ngược đã góp phần làm nên thành công trong tác phẩm.

Bài thơ “ nhàn” đã thể hiện được quan niệm cũng nhơ cách sống của tác giả. Cho thấy một vẻ đẹp cuộc sống đạm bạc mà bình dị mag thanh cao. Nét đẹp tâm hồn con người mới đáng quý.

Đừng bỏ qua 🔥 Sơ Đồ Tư Duy Phú Sông Bạch Đằng 🔥 8 Mẫu Ngắn Hay

Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Của Học Sinh Giỏi – Mẫu 6

Đón đọc bài văn cảm nhận về bài thơ Nhàn của học sinh giỏi dưới đây để trau dồi những ý văn hay và đặc sắc.

Cuộc sống của mỗi con người như thế nào, ngoài những tác động bên ngoài, điều quan trọng quyết định cuộc sống nằm sâu bên trong mỗi cá nhân. Đó là họ lựa chọn thế nào thì cuộc sống của họ như thế. Ta có thể bắt gặp nhiều những lối sống giàu sang phú quý, nhưng cũng không ít gặp lối sống bình dị, thanh cao.

Nguyễn Bỉnh Khiêm – một nhà thơ nổi tiếng của dân tộc ta đã chọn một cuộc sống bình yên, thôn dã bỏ qua danh lợi tầm thường. Những bài thơ của ông đều thể hiện rõ điều đó, trong đó có bài thơ “Nhàn” – bài thơ thật nhẹ nhàng mà đặc sắc đến lạ thường.

“Nhàn” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú, ra đời trong khoảng thời gian Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cáo quan về quê ở ẩn. Mở đầu tác phẩm, nhà thơ mở ra trước mắt chúng ta cuộc sống lao động nơi thôn quê thật bình dị, nhẹ nhàng, khác hẳn chốn quan trường xô bồ, bát nháo đầy ganh đua, tranh đấu:

“Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Xuất hiện trước mắt độc giả là những công cụ lao động giản dị ở nơi thôn quê: “mai, cuốc, cần câu”. Chỉ trong một câu thơ đầu, tác giả đã kết hợp đến ba biện pháp nghệ thuật: điệp ngữ, liệt kê, số từ “một”, qua đó ta đã thấy rõ được tâm thế của nhà thơ. Ông chọn cho mình một lối sống thanh nhàn giống như những người nông dân, với những công việc lao động, thú vui tao nhã bên ruộng vườn, ao cá.

Nhịp thơ chậm kết hợp với cụm từ ” thơ thẩn” càng thấy rõ được sự thú vị trong tâm hồn tác giả. Tâm trạng của nhà thơ là sự vui vẻ đón nhận cuộc sống mới nơi thôn quê bình dị, mặc kệ người đời ngoài kia vui vẻ tìm chốn vui chơi ồn ào, náo nhiệt.

Tiếp đến hai câu thực, tác giả đã bàn về “dại, khôn”:

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao”

Đọc đến hai câu này, chắc hẳn sẽ có người thắc mắc, nhưng phân tích kỹ, ta lại thấy lối viết độc đáo trong hàm ý của tác giả. “Nơi vắng vẻ” là một nơi bình yên, thanh thản, tránh xa vòng danh lợi. “Chốn lao xao” một nơi đông người, cuộc sống bon chen, đầy đấu đá, tranh giành dễ dẫn đến sự căng thẳng. Tác giả đã tự nhận mình “ta dại” vì đã tìm nơi vắng vẻ và khen người khác “khôn” vì tìm đến chốn lao xao.

Nhưng ở đây, ta có thể thấy rõ quan điểm của tác giả, ông chọn lối sống thanh nhàn vậy không phải vì để lẩn tránh hay sợ hãi mà ông muốn lựa chọn một nơi yên bình để giữ cho tâm hồn mình thanh cao. “Dại mà khôn”, “khôn mà dại” – một cách nói ngược để nhấn mạnh cách chọn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là phù hợp với chính mình.

Đến hai câu luận, tác giả đã cho ta biết rõ hơn về cuộc sống ở nơi thôn quê diễn ra thế nào:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Chỉ vẻn vẹn hai câu thơ, tác giả đã khái quát lại được bốn mùa xuân hạ, thu, đông với đặc trưng của từng mùa. Qua đây, ta có thể thấy cuộc sống của của tác giả vui vẻ ra sao, bình yên thế nào khi mọi thứ đều hòa hợp với thiên nhiên, cảnh vật. Mùa thu, có thể kiếm măng trúc về ăn, mùa đông ăn giá đỗ, mùa xuân ra hồ sen thưởng thức vẻ đẹp của hoa, mùa hạ thì đắm chìm mình trong làn nước mát nơi hồ ao.

Đây đều là những thứ có sẵn trong tự nhiên, không phải là cao lương mĩ vị nhưng vô cùng đạm bạc, thanh cao. Cuộc sống của ông chính là sống hòa hợp với thiên nhiên, là lao động và hưởng thành quả từ nó, không phải tranh giành đấu đá nơi quan trường, kiêng dè dặt người trên kẻ dưới, quan trọng hơn ông muốn quay lưng lại với cái danh lợi:

Rượu, đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

Đến hai câu kết của bài, tác giả đã sử dụng điển cố, điển tích để kết luận lại cái triết lý nhân sinh của mình. Dựa vào điển tích này, ông đã xem phú quý, công danh chỉ như là một giấc mơ viển vông, không có ý nghĩa, qua đó cũng bộc lộ thái độ coi thường danh lợi, không xem trọng nó. Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn hướng tới một lối sống bình dị, nơi mà tâm hồn ông được tự do, được hòa hợp với thiên nhiên.

Tác giả đã rất thành công trong việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật như liệt kê, phép đối, số đếm, điệp ngữ, điển tích… Kết hợp với đó là những hình ảnh thơ mộc mạc, giản dị của thôn quê như “mai, cuốc, cần câu, giá, măng trúc..” cho thấy một lối sống đầy triết lý của tác giả. Bài thơ “Nhàn” cho ta thấy một tâm hồn thanh cao, một trí tuệ uyên thâm được thể hiện qua lối sống đạm bạc, nhàn hạ, vui thú điền viên của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Cuộc sống hiện đại ngày nay mang đến cho con người nhiều thành tựu mới, cũng mang đến nhiều lợi ích, nhưng bù lại con người lại phải lao động vất vả hơn, luôn căng thẳng mệt mỏi trong sự bộn bề của từng ngày. Tuy nhiên cũng tùy vào từng cách chọn của từng người, khi họ chọn một cuộc sống giàu sang thì phải chạy đua, làm việc cật lực.

Còn nhiều người mong muốn tâm hồn mình được tự do (không mang ý nghĩa lẩn tránh cuộc sống), hòa mình vào thiên nhiên, có thể lựa chọn cách sống như của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hãy sống một cuộc sống mà bạn muốn, làm sao để cho cốt cách của ta thanh cao trong mọi hoàn cảnh của đời sống!

Chia sẻ 🌼 Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng 🌼 15 Bài Hay Nhất

Nêu Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Học Sinh Giỏi Đặc Sắc – Mẫu 7

Bài văn nêu cảm nhận bài thơ Nhàn học sinh giỏi đặc sắc dưới đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích trong quá trình làm bài.

Để “lánh đục về trong”, rời xa chốn quan trường rối ren, tham tàn, các nhà nho xưa thường chọn cho mình cuộc sống ẩn dật. Bên cạnh Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến…, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là một trong số những nhà nho nổi tiếng với lối sống thoát tục này. Bài thơ “Nhàn” đã thể hiện được cuộc sống đạm bạc và nhân cách cao quý của Bạch Vân Cư Sĩ.

Khác với cuộc sống lúc làm quan trong triều đình, cuộc sống khi về ở ẩn của Nguyễn Bỉnh Khiêm thật giản dị:

“Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Chỉ với hai dòng thơ trên, bạn đọc có thể hình dung ra được một lão ông đang ung dung, thảnh thơi với cuộc sống của mình. “Mai” là dụng cụ lao động được con người sử dụng vào công việc đào đất, đào giếng. “Cuốc” dùng để lật xới đất, làm tơi xốp đất. Nhờ có cuốc mà những người nông dân có thể trồng rau, lúa, ngô, khoai, sắn phục vụ cho đời sống.

Cần câu dùng để câu cá, cải thiện bữa ăn hàng ngày hoặc cũng có thể đó là một thú vui tao nhã của nhà thơ nhằm mục đích thư giãn. Mai, cuốc, cần câu đều là những vật dụng không thể thiếu của nhà nông và dường như Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trở thành một lão nông dân thực thụ khi có những vật dụng ấy trong tay.

Tuy mỗi loại chỉ có “một” nhưng đối với nhà thơ thì bấy nhiêu đó cũng đủ khiến ông hài lòng. Từ láy “thơ thẩn” bộc lộ sự ung dung tự tại, hài lòng với cuộc sống tự cung tự cấp ở hiện tại. Dù cho biết bao con người ngoài kia có “vui thú nào” thì ông vẫn một lòng kiên định với lối sống ấy. Ông tự lao động để tạo ra thành quả, không phụ thuộc vào bất kì ai và không có ai lay chuyển được mình. Một cuộc sống như vậy chẳng phải là rất “nhàn” hay sao?

Bữa ăn hàng ngày của ông cũng rất đạm bạc, dung dị:

“Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Mùa nào thức ấy, mùa thu có măng trúc, mùa đông có giá đỗ. Mùa xuân có hồ sen để tắm, mùa hạ thì tắm ao. Nhịp sinh hoạt của bốn mùa xuân – hạ – thu – đông cứ tiếp nối và xoay tròn như vậy. Nhịp thơ nhịp nhàng diễn tả sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên. Con người trở nên thanh cao hơn nhờ sự hòa hợp này.

Măng, giá không phải là những món cao lương mĩ vị, nó chỉ là sản vật bình thường mà bất cứ nơi núi rừng nào cũng có. Nguyễn Bỉnh Khiêm không hề cảm thấy thực tại thiếu thốn hay khổ cực mà ngược lại, ông vui thú với cuộc sống giống như một lão nông của mình.

Không chỉ thể hiện cuộc sống giản dị, đạm bạc, bài thơ “Nhàn” còn thể hiện sự thanh cao trong nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao”

Sự đối lập giữa “ta”- “người”, “dại” – “khôn”, “nơi vắng vẻ” – “chốn lao xao” đã cho người đời thấy được quan niệm về cuộc sống của tác giả. “Nơi vắng vẻ” là nơi thoát tục, bình yên, không vướng bận đến chuyện triều chính chốn quan trường. “Chốn lao xao” là chốn quan trường thị phi, nơi mà con người có thể lọc lừa, chèn ép, giẫm đạp lên nhau vì lợi ích cá nhân. Nơi đó có những con người tranh giành nhau danh lợi, tranh giành nhau chức quyền.

“Ta dại” ta tìm chốn yên bình để sống một cuộc đời trong sạch, không lo toan, bon chen với người đời. Tác giả tự nhận mình là kẻ ngu dại để nhường cho người đời cái “khôn” nhưng thực chất đó là cái dại của con người có bản lĩnh, tài năng, đức độ. Đó là cái dại của con người nhìn thấu được thời cuộc. Thành ngữ cổ có câu “Đại trí nhược ngu” được hiểu là “kẻ tài trí giả như ngu dốt”. Họ thường không bộc, khoe khoang sự tài giỏi của mình mà luôn khiêm nhường.

Cách nói “ta dại” – “người khôn” là cách nói hóm hỉnh đồng thời cũng pha chút mỉa mai bởi “ta dại” nhưng đó là cái dại của người khôn còn cái khôn của người thực chất lại là cái dại. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm đến nơi vắng vẻ với tâm thế chủ động để tránh xa danh lợi tầm thường, tránh xa những thứ làm ảnh hưởng đến nhân cách của con người.

Có ai đảm bảo được rằng chốn quan trường sẽ không có sự đua chen, giành giật hay các thủ đoạn nhẫn tâm để giành lấy lợi ích, danh tiếng về mình? Có ai đảm bảo được rằng nơi ấy sẽ không có sự đấu đá lẫn nhau giữa các thế lực? Tác giả lựa chọn nơi vắng vẻ để được nhàn tâm và nhàn thân chẳng phải là một sự lựa chọn khôn ngoan hay sao?

Ông cho rằng phú quý tựa như một giấc mơ mà chúng ta không thể chìm đắm mãi được:

Rượu, đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.

Danh lợi, địa vị, chức quyền chỉ là những thứ phù du và con người cần phải tỉnh táo để không bị nó cám dỗ. Men say nồng của rượu có thể làm cho con người mất tỉnh táo nhưng không vì thế mà Tuyết Giang Phu Tử bị đánh lừa. Dưới tán cây mát mẻ của chốn thôn quê dân dã ông cũng thưởng thức vị ngon của rượu và ông cũng nhận ra phú quý, lợi danh chỉ là một giấc chiêm bao có thể biến mất bất cứ lúc nào. Nhân cách của ông trở nên cao đẹp hơn khi ông không chỉ nghĩ cho riêng mình mà ông còn nghĩ cho nhiều người khác.

Ông cảnh tỉnh người đời bằng hai chữ “nhìn xem” rất dứt khoát. Chúng ta hãy nhìn nhận, xem xét thật kĩ càng để có một cuộc đời trong sạch, ý nghĩa vì suy cho cùng giá trị mỗi con người do nhân cách, lối sống quyết định chứ không phải do của cải hay danh lợi. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện rõ thái độ coi thường danh lợi và khẳng định sự đúng đắn trong lựa chọn của chính mình. Chẳng vậy mà trong bài “Ngụ hứng” ông đã viết:

Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ?
An nhàn ngã thị điện trung tiên!”

(Cao khiết, ai là kẻ sĩ trong thiên hạ?
An nhàn, ta là tiên trong đời!)

Với cuộc sống vừa nhàn thân lại vừa nhàn tâm ấy, tác giả tự nhận mình là tiên khách. Ông tìm thấy sự thanh nhàn trong cuộc đời ẩn dật và luôn tự hào về cuộc sống mà bản thân đã chọn.

Có thể nói, bài thơ “Nhàn” đã làm nổi bật cuộc sống thoát tục, hòa hợp với thiên nhiên đất trời và nhân cách cao khiết của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Có lẽ vì điều đó mà bài thơ vẫn tồn tại cùng dòng chảy của văn học suốt hơn bốn thế kỉ đến nay.

SCR.VN tặng bạn 💧 Nghị Luận Bình Ngô Đại Cáo 💧 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Nhàn Đầy Đủ Nhất – Mẫu 8

Tham kháo tiếp mẫu Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Nhàn sẽ giúp các bạn có thêm kinh nghiệm, biết cách sử dụng từ ngữ để diễn đạt bài viết của mình hay hơn nhé.

Bài Nhàn trong Bạch vân quốc ngữ thi thuộc về chủ đề triết lí xã hội. Mà tập trung nhất là triết lí Nhàn. Nhàn với Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là một cứu cánh mà là một phương thức tư duy một triết lí. Cho nên Nhàn là khái niệm chữ không phải là tâm trạng.

Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. Những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên. Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch.

Hành trình hưởng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong qui luật ấy, tìm về với nhân dân. Đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy. Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị:

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dù ai vui thú nào

Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quí của nhà nho tìm về cuộc sống. Dáng vẻ thơ thẩn được phác hoạ trong câu thơ thật độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự.

Trạng Trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân sinh vững bền. Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người kiếm chốn lao xao

Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai, những vui thú nào về ranh giới nhận thức cũng như chỗ đứng giữa cuộc đời. Phép đối cực chuẩn đã tạo thành hai đối cực: một bên là nhà thơ xưng Ta một cách ngạo nghễ, một bên là Người. Một bên là dại của Ta, một bên là khôn của người; một nơi vắng vẻ với một chốn lao xao.

Mượn cách nói ấy, nhà thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi phù hoa giữa chốn lao xao . Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi vắng vẻ – không vướng bụi trần.

Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản:

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất đắm mình trong bả vinh hoa. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hoà hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông. Nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư .

Quan niệm về chữ Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Hai câu luận đã thể hiện dược cái nhìn của 1 nhà trí tuệ lớn, có tính triết lí sâu sắc, vận dụng ý tượng sáng tạo của điển tích Thuần Vu. Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm phú quí không phải là một giấc chiêm bao. Mà ông đã xem đó chỉ là một giấc chiêm bao không có thực.

Như vậy qua bài thơ ta đã hiểu được quan niệm sống nhàn và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Coi thường danh lợi, luôn giũ dược tâm hồn thanh cao hòa hợp với thiên nhiên, đề cao lối sống của những nhà nho giáo giàu lòng yêu nước nhưng do hoàn cảnh nên phải sống ẩn dật.

Mời bạn tham khảo ☀️ Sơ Đồ Tư Duy Bình Ngô Đại Cáo ☀️ 12 Mẫu Hay

Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Nhàn Đạt Điểm Cao – Mẫu 9

Bài văn nêu Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Nhàn bạn đọc cần tham khảo. Mong rằng với bài văn mẫu này sẽ giúp bạn hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà nho uyên thâm nổi tiếng trong thời kì phân tranh Trịnh – Nguyễn. Sống trong thời loạn lạc, ông không ủng hộ thế lực phong kiến nào mà tìm đường lui về quê ẩn dật theo đúng lối sống của đạo Nho.

Bài thơ Nhàn là một trong những tác phẩm viết bằng chữ Nôm, rút trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập của ông. Bài thơ cho thấy một phần cuộc sống và quan niệm sống của tác giả trong xã hội loạn lạc hiện thời.Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên trong bài thơ là cuộc sống giản dị, đạm bạc (đơn giản) nhưng thanh cao, trong sạch.

Mở đầu bài thơ là hai câu thơ:

“Một mai một quốc một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Với cách sử dụng số đếm:” một” rất linh hoạt, nhịp thơ ngắt nhịp đều đặn 2/2/3 kết hợp với hình ảnh những dụng cụ lao động nơi làng quê: mai, cuộc, cần câu cho ta thấy những công cụ cần thiết của cuộc sống thôn quê .

Chính những cái mộc mạc chân chất của những vật liệu lao động thô sơ ấy cho ta thấy được một cuộc sống giản dị không lo toan vướng bận của một danh sĩ ẩn cư nơi ruộng vườn, ngày ngày vui thú với cảnh nông thôn. Không những thế, những câu thơ tiếp theo tiếp tục cho ta thấy được cái bình dị trong cuộc sống thôn quê qua những bữa ăn thường ngày của ông:

“Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”

Món ăn của ông là những thức có sẵn ở ruộng vườn, mùa nào thức nấy: măng, trúc, giá,…. những món rất giản dị đời thường. Cuộc sống sinh hoạt của cụ giống như một người nông dân thực thụ, cũng tắm hồ, tắm ao. Hai câu thơ vẽ nên cảnh sinh hoạt bốn mùa của tác giả, mùa nào cũng thong dong, thảnh thơi. Qua đó ta thấy được một cách sống thanh cao, nhẹ nhàng, tránh xa những lo toan đời thường.Ngoài thể hiện cuộc sống đời thường tác giả còn thể hiện triết lí sống, nhân cách của ông:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao “

Tìm nơi “vắng vẻ” không phải là xa lánh cuộc đời mà tìm nơi mình thích thú được sống thoải mái, hoà nhập với thiên nhiên, lánh xa chốn quan trường, lợi lộc để tìm chốn thanh cao.”Chốn lao xao” là chốn vụ lợi, chạy theo vinh hoa, lợi ích vật chất, giành giật hãm hại lẫn nhau. Rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm cho cách sống nhàn nhã là xa lánh không quan tâm tới danh lợi.

Tác giả mượn lời nói của đòi thường để diễn đạt quan niệm sống của mình mặc người đời cho là khôn hay dại. Đó cũng chính là quan niệm của Nho sĩ thời loạn vẫn tìm về nơi yên tĩnh để ở ẩn.Nghệ thuật đối: “ta” đối với “người”, “dại” đối với “khôn”, “nơi vắng vẻ” đối với “chốn lao xao” tạo sự so sánh giữa hai cách sống, qua đó khẳng định triết lí sống của tác giả. Không những thế hình ảnh thơ cuối như lần nữa khẳng định triết lí sống của tác giả:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Trong hơi men nồng nàn cùng sự bình yên của làng quê nhà thơ nhận ra phú quý quả thật chỉ là một giấc chiêm bao. Nó cũng sẽ mau chóng tan thành mây khói.

Bài thơ thể hiện được quan niệm của nhà thơ về cuộc đời, đồng thời ta thấy được cuộc sống an nhàn của nhà thơ nơi thôn dã. Đó là một cuộc sống vô cùng giản dị và bình an, đạm bạc nhưng lại rất thanh cao. Nguyên Bỉnh Khiêm đẫ thể hiện lên một tâm hồn một nhân cách sống rất bình dị đời thường, một cốt cách cao đẹp.

Có thể bạn sẽ thích 🌟 Phân Tích Chinh Phụ Ngâm 🌟 19 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Cảm Nhận Về Quan Niệm Sống Nhàn Qua Bài Thơ Nhàn – Mẫu 10

Cảm Nhận Về Quan Niệm Sống Nhàn Qua Bài Thơ Nhàn để hiểu hơn về một quan niệm sống đẹp của người ẩn sĩ với tâm hồn thanh cao, nhân cách cao đẹp này.

Nguyễn Bỉnh Khiêm từ bỏ chốn quan trường triều Mạc về quê dạy học và sống nhàn tản, sống hòa hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao vượt lên trên danh lợi. Quan niệm sống nhàn của vị Trạng Trình ấy được thể hiện qua bài thơ ” Nhàn” viết bằng chữ Nôm, rút trong tập “Bạch Vân quốc ngữ thi”. ” Nhàn” là quan niệm sống, là lời tâm sự về cuộc sống, sở thích cá nhân.

Sau khi dâng sớ vạch tội và xin chém đầu 18 lộng thần nhưng vua không chấp nhận, Nguyễn Bỉnh Khiêm cáo quan về quê dạy học, sống nhàn như một “lão nông tri điền thực sự”. Cuộc sống thuần hậu, nhàn tản diễn ra hàng ngày với:

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”.

Nhịp điệu thơ thong thả như chính nhịp sống giữa thôn quê yên bình với “mai”, “cuốc”, “cần câu”. Điệp từ “một” chỉ số đếm cụ thể lần lượt liệt kê ra các danh từ chỉ công cụ lao động bình dị kết hợp với nhịp thơ 2/2/2 đã tạo ra tâm thế sẵn sàng, chu đáo trong lao động.

Từ láy “thơ thẩn” phác họa cho ta thấy tư thế an nhiên, tự tại và cuộc sống thuần hậu, chất phác của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đại từ phiếm chỉ “ai” nói về mọi người mải lo “vui thú nào” trái ngược với ông chỉ thích quanh đi quẩn lại với những thú vui thiên nhiên. Tâm trạng thanh thản, và thanh cao với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông- mùa nào thức ấy.

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”.

Cuộc sống đạm bạc từng ngày trôi qua vô cùng thư thái với những món ăn quê mùa, dân dã “măng trúc”, “giá” do sức lao động của mình làm ra, cùng với nếp sinh hoạt bình thường, giản dị “tắm hồ sen”, ” tắm ao”. Nghệ thuật liệt kê ở hai câu thơ đã khắc họa bức tranh tứ bình về cuộc sống đạm bạc mà thanh cao với bốn mùa có những đặc trưng riêng.

” Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao”.

Dại- khôn ở đời là cách nhìn của mỗi người, bởi nước luôn chảy xuống thấp còn con người luôn muốn hướng lên cao mà đi. Ở hai câu thơ này, ta thấy được hai cách sống trái ngược giữa “ta” và “người”. So sánh tương phản và biện pháp đối: dại- khôn, vắng vẻ- lao xao đã chỉ ra sự đối lập giữa nhân cách – danh lợi.

Vị Trạng Trình của một thời làm quan dưới triều Mạc tự nhận mình là “dại” nhưng rất tỉnh táo trong lựa chọn cách sống. Cách nói đùa vui, ngược nghĩa làm giọng thơ trở nên hóm hỉnh, sâu cay. Nhưng chứa đựng một tầm nhìn sáng suốt, nổi bật lên vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ là cách ông nhận ra cái khôn-dại thực sự ở đời.

Sống thanh cao và chan hòa với tự nhiên là quan niệm sống nhàn xuyên suốt bài thơ. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chọn cách sống ngược lại với người đời, ông đứng bên ngoài nhìn thói đời bon chen, ngươi lừa, ta gạt để tranh giành phú quý.

Bài thơ ” Nhàn” làm nổi bật nhân cách, trí tuệ sáng ngời, một quan niệm sống phù hợp với hoàn cảnh xã hội có nhiều biểu hiện suy vong thời bấy giờ. Mỗi thời mỗi khác, nhưng quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong hoàn cảnh ấy rất đáng quý, đáng được trân trọng, ngợi ca.

Tham khảo trọn bộ 🌹 Phân Tích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 🌹 15 Mẫu Hay Và Đặc Sắc Nhất

Cảm Nghĩ Bài Thơ Nhàn Lớp 10 – Mẫu 11

Tham khảo bài văn cảm nghĩ bài thơ Nhàn lớp 10 dưới đây để nắm được những định hướng làm bài cụ thể.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ nổi bật và tiêu biểu trong nền văn học trung đại Việt Nam. Thơ ông không chỉ là tiếng cười chua chát, thấm đẫm những triết lý sâu cay mà thơ ông còn mang những quan niệm sống tích cực. Bài thơ “Nhàn” là một bài thơ hay và tiêu biểu cho hồn thơ và nhân cách sống của ông, quan niệm sống nhàn được ông thể hiện vô cùng bình dị mà tinh tế.

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Câu thơ mở đầu thật gần gũi, thân thương, với những vật dụng trong cuộc sống thuần nông của người dân Việt, tác giả bằng lòng, thong dong và thảnh thơi với của sống ao sâu, ruộng vườn. Số từ “một” với biện pháp tu từ liệt kê tạo nên nhịp điệu cho câu thơ lại vừa diễn tả được tâm thế sẵn sàng, ung dung trong công việc của nhà thơ.

Dẫu nơi phồn hoa đô hội, người người có vui với những thứ xa hoa, với những phù phiếm thì nhà thơ vẫn “thơ thẩn” với thú vui ruộng vườn, chẳng bận tâm chi đến chuyện danh lợi, vật chất hư ảo ấy. Câu thơ thứ hai cho thấy được sự kiên định trong cách lựa chọn lối sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Công việc gần gũi với mảnh đất quê nhà, sinh hoạt của ông cũng gắn với thiên nhiên, hoà hợp với thiên nhiên. Những thức ăn đạm bạc như măng trúc, giá,…được tác giả kết hợp với danh từ chủ mùa cùng cách ngắt nhịp 3/3 như một sự chấp nhận và hài lòng với cuộc sống bình dị mà thanh đạm ấy.

Sự đủ đầy giàu sang không có nhưng bù lại là có thiên nhiên cùng người bầu bạn tâm tình, cùng nuôi sống và làm đẹp cho thú” nhàn” của nhà thơ. Hai câu thơ dường như khắc họa một bức tranh tứ bình về cảnh sinh hoạt của con người giữa thiên nhiên với bốn mùa, rất đỗi chân thực mà gần gũi, yêu thương. Có lẽ, lúc này đây nhà thơ đang rất tự hào với cuộc sống thanh đạm mà mình chọn lựa, lấy lẽ tự nhiên làm nguồn vui để di dưỡng tinh thần mình, sống xã lánh đời với đầy rẫy những xảo trá, bất công:

” Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao”

Nhà thơ tự nhận mình là “dại”, chọn chốn “vắng vẻ” nơi không có tranh giành, mưu đoạt mà chọn chốn đồng ruộng, tâm hồn được tự do, thanh thản, được chọn lựa sở thích, lẽ sống cho mình. Người “khôn” lại đến chốn thị thành đông đúc, nơi quan trường hiểm ác, tư lợi, tranh giành địa vị, quyền cao, chức tước.

Bằng nghệ thuật tương phản, tác giả đã vạch rõ sự đối lập giữa kẻ dại, người khôn, giữa cuộc sống nhàn với cuộc sống xô bồ, vội vàng nơi phố xá để một lần nữa khẳng định sự lựa chọn trong cách sống của mình là đúng đắn, là kiên định.

Lối sống nhàn đã mang lại cho nhà thơ những thú vui tao nhã, bản thân được là chính mình giữa đời sông, được tận hưởng hết tất thảy mọi vẻ đẹp của thiên nhiên, được sống trong sự đùm bọc, yêu thương của những người dân nghèo mà thiện lương, khó khăn về vật chất mà tình cảm đong đầy, ấm áp. Cách nói ngược “dại”, “khôn” của tác giả như một sự mỉa mai hóm hỉnh về đời sống nơi quan trường hiểm độc, đầy những mưu lợi, ích kỷ.

Khôn mà hiểm độc là khôn dại
Dại vốn hiền lành, ấy dại khôn”

Có lẽ, chính vì vậy mà đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, những giàu sang, phú quý vật chất chẳng đáng để đong đếm với sự giàu sang nơi đáy sâu tâm hồn:

“Rượu đến cội cây, ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Mượn điển cố thời Đường, tác giả đã thể hiện thái độ coi thường phú quý, xa hoa. Với nhà thơ, công danh đến thì dùng chẳng cần chỉ phải tính toán, bọn chen, xua nịnh mà có được. Giờ đây, phú quý như một giấc chiêm bao vậy, rồi cũng tàn và tận theo thời gian, khi tỉnh giấc, sau cùng vẫn chỉ có mình ta trơ trọi, mơ gì giàu sang phú quý, mơ những giấc mộng đẹp về ăn yên, ấm no cho dân mình thật đáng quý biết bao. Một lần nữa, nhà thơ khẳng định chắc chắn về lẽ sống của mình, chẳng màng danh lợi, coi thường phú quý, công danh.

Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, sống nhàn không phải là sống ích kỉ, thoát ly thực tại để giữ cho riêng mình, mà là lối sống thanh cao giữa cuộc đời, sống trọn vẹn và gắn bó với nhân dân, với dân tộc. Bởi vậy mà trong thơ ông vẫn luôn đau đáu chuyện thế thái nhân tình, vẫn dành trọn tấm lòng mình cho dân, cho nước.

Khám phá thêm 💕 Sơ Đồ Tư Duy Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 💕 7 Mẫu Chọn Lọc

Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Facebook – Mẫu 12

Chia sẻ bài văn cảm nhận bài thơ Nhàn facebook dưới đây để các em học sinh cùng tham khảo và vận dụng khi làm bài.

Nền văn học trung đại của nước ta có nhiều tác giả tài năng cùng với các tác phẩm đặc sắc. Nhắc đến văn học trung đại không thể không nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm với bài thơ Nhàn. Bài thơ được ông viết khi đã về quê ở ẩn. Mặc dù tựa đề bài thơ là Nhàn nhưng đó không phải là nhàn cư vi bất thiện mà thái độ sống, triết lí sống của tác giả.

Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh rất đời thường:

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Trước mắt người đọc hiện lên hình ảnh một người nông dân tay cày, tay cuốc. Ngoài việc ruộng vườn, thú vui của họ là ngồi câu cá. Đó là một cuộc sống đầy thư thái, ung dung không vương chút bụi trần. Cuộc sống cứ thơ thẩn với những niềm vui của riêng mình, không quan tâm đến những thú vui của người khác.

Sang đến hai câu thơ tiếp theo nhân vật trữ tình hiện lên với triết lý nhàn:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao

Hai câu thơ có sự đối lập giữa nơi vắng vẻ và chốn lao xao, giữa ta và người, giữa khôn và dại. Cảm nhận ban đầu ta nghĩ tác giả như đang đi ngược lại với đời sống, ngược lại với người đời. Tác giả có dại thật không khi chọn cuộc sống ở một nơi thôn quê vắng vẻ? Đọc những câu thơ tiếp theo ta biết chắc chắn câu trả lời là không.

Những người chọn cuộc sống ở chốn lao xao cho rằng mình là người nhưng thực tế, nơi đó là nơi có quá nhiều cạm bẫy. Những con người tham lam thường tìm cách dìm người khác xuống để nâng mình lên. Tác giả chọn cho mình cuộc sống an nhàn, tránh xa danh lợi để giữ cho mình khí chất thanh cao. Đó là cuộc sống hòa mình vào thiên nhiên, giản dị đời thường với:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Cuộc sống nơi thôn quê thứ gì cũng sẵn. Mùa nào thức nấy. Mùa thu có măng trúc, mùa đông có giá. Cuộc sống gắn liền với hồ sen, với ao. Con người khi không phải lo lắng đến địa vị, danh vọng, không phải lo lắng đến cơm áo gạo tiền thì khi ấy mới thật sự là cuộc sống đáng mơ ước. Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm thật đáng ngưỡng mộ.

Từ cuộc sống nhàn của mình, tác giả đã đúc kết ra một triết lý sống:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Công danh, phú quý chỉ là áng phù vân trôi nổi. Có được nó dễ dàng thì cũng nhanh chóng mất đi. Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, phú quý chỉ như một giấc chiêm bao mà thôi. Thời điểm tác giả viết bài thơ này là lúc mà chế độ phong kiến bắt đầu khủng hoảng. Tác giả chọn cuộc sống nhàn tức là chọn cuộc sống không màng đến vinh hoa phú quý. Tác giả đang tự tìm kiếm sự thanh thản trong tâm hồn của mình, không để dục vọng làm vẩn đục tâm hồn.

Qua bài thơ này, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Triết lý sống của tác giả cũng là triết lý sống mà thế hệ sau nên theo đuổi.

Chia sẻ cùng bạn 🌹 Phân Tích Đoạn Trích Chí Khí Anh Hùng 🌹 15 Bài Văn Mẫu

Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn Facebook Chọn Lọc – Mẫu 13

Đón đọc bài văn mẫu cảm nhận về bài thơ Nhàn facebook chọn lọc dưới đây để có thêm những gợi ý làm bài phong phú hơn.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong số những nhà thơ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam nói riêng, văn học Việt Nam nói chung. Những sáng tác của ông luôn thể hiện rõ nét những triết lí và bài học giáo huấn sâu sắc. Bài thơ “Nhàn” là một trong số những sáng tác xuất sắc và tiêu biểu nhất của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đặc biệt, đọc bài thơ, người đọc thấy hiện lên rõ nét hình tượng người ở ẩn với nhiều phẩm chất, vẻ đẹp đáng trân quý.

Trước hết, hình tượng người ở ẩn trong bài thơ “Nhàn” hiện lên là một người có cuộc sống ung dung, tự tại và giản dị.

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

Trong hai câu thơ mở đầu bài thơ, tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khéo léo sử dụng thành công biện pháp điệp ngữ “một” được lặp đi lặp lại nhiều lần kết hợp với phép liệt kê “mai”, “cuốc”, “cần câu” – những vật dụng quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống của người lao động.

Từ đó, tác giả đã gợi lên hình ảnh một người nông dân với tư thế an nhàn. Thêm vào đó, với việc sử dụng từ láy “thơ thẩn’ giàu sức gợi đã lột tả tâm thế thảnh thơi, ung dung, không vướng ưu tư, muộn phiền. Như vậy, với hai câu thơ đầu, tác giả đã khéo léo thể hiện hình ảnh người ở ẩn đang sống cuộc sống như một người nông dân, ung dung, tự tại và giản dị.

Thêm vào đó, hình tượng người ở ẩn trong bài thơ còn hiện lên là một người sống trong sạch, tránh xa vòng danh lợi để giữ tâm hồn, nhân cách thanh sạch của mình.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao.

Có thể dễ dàng nhận thấy “nơi vắng vẻ’ và “chốn lao xao” là những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng. Nếu “nơi vắng vẻ” là nơi tĩnh tại của thiên nhiên, bình yên trong tâm hồn thì “chốn lao xao” lại chính là chốn quan trường – nơi luôn chứa đầy những bon chen, giành giật quyền tước, danh vị.

Hai câu thơ, với nghệ thuật đối độc đáo và đặc sắc “ta” – “người”, “dại” – “khôn”, “nơi vắng vẻ” – “chốn lao xao” đã thể hiện một cách chân thực và rõ nét thái độ của tác giả, đó là sự khẳng định lối sống của chính bản thân mình, “lánh đục tìm trong”, tránh xa vòng danh lợi, quyền quý để tìm lấy sự tĩnh tại trong tâm hồn.

Không dừng lại ở đó, người ở ấn trong bài thơ còn là một người sống giản dị và hòa mình vào thiên nhiên rộng lớn.

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Hai câu thơ đã vẽ nên khung cảnh cuộc sống của hình tượng người ở ẩn giữa chốn quê nhà. Những món ăn dân dã, đời thường như măng, giá. Những thói quen sinh hoạt rất đỗi giản dị, hòa mình vào thiên nhiên, vạn vật. Tất cả những thói quen ăn uống, sinh hoạt ấy nó không gợi lên cái khó khăn, vất vả mà hơn hết cho thấy sự thảnh thơi, ung dung, hòa mình vào thiên nhiên, cây cỏ, vạn vật.

Cuối cùng, hình tượng người ở ẩn trong bài thơ hiện lên với triết lí nhàn sâu sắc và những vẻ đẹp nhân cách cao quý, đáng trân trọng.

Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

Với việc mượn điển tích giấc mộng đêm hòe: Coi phú quý tựa như một giấc chiêm bao, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện sự tự thức tỉnh của bản thân và khuyên mọi người nên coi vinh hoa, phú quý, danh vị chỉ như một giấc chiêm bao, những thứ phù phiếm.

Để rồi, qua hai câu thơ ấy, người đọc thấy ánh lên một quan niệm, một triết lí nhàn với ý nghĩa độc đáo, sâu xa. Mỗi người nên tránh xa chốn vinh hoa, phù phiếm xem chúng chỉ như những giấc chiêm bao để giữ cho tâm hồn mình được thanh sạch. Đồng thời, cần sống ung dung, giản dị và hòa hợp với thiên nhiên, vạn vật.

Với ngôn ngữ tự nhiên mà giàu chất triết lí cùng những điển cố, điển tích, bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã xây dựng thành công hình tượng người ở ẩn với nhiều vẻ đẹp, phẩm chất đáng trân trọng.

Mời bạn đón đọc 🌜 Phân Tích Nỗi Thương Mình 🌜 12 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Viết một bình luận