Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng
Quote Hay Nhất 🎖 1001 Câu Nói Hay Nhất

Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng ❤️10 Bài Hay Nhất

Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng ❤️ 10 Bài Hay Nhất ✅ Tuyển Tập Những Cách Phân Tích Tác Phẩm Đặc Sắc Mang Đậm Hào Khí Dân Tộc.

Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng

Trước khi đi vào phân tích bài thơ Phú sông Bạch Đằng, đừng quên lập dàn ý chi tiết để thuận tiện hơn trong quá trình viết văn nhé!

I. Mở bài:

Giới thiệu về tác giả Trương Hán Siêu: Là người cương trực, học vấn uyên thâm được vua và dân nhà Trần tin cậy.
Giới thiệu bài thơ Phú Sông Bạch Đằng chuẩn bị phân tích: hoàn cảnh ra đời, nội dung.

II. Thân bài:

  • Cảm xúc của nhân vật khách trước sông Bạch Đằng
  • Nhân vật “khách”: Là sự tự xưng của tác giả, tạo nên lối chủ-khách đối đáp thường dùng trong thể phú.
  • Tâm thế du ngoạn: Giương buồm, giong gió, lướt bể, chơi trăng, mải miết.

→ Tư thế ung dung, tự do. Tác giả là người có tâm hồn tự do, phóng khoáng.

  • Hành trình du ngoạn của tác giả:
  • Các địa danh Trung Quốc: Nguyên Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt, đầm Vân Mộng.

→ Những địa danh được biết đến qua sách vở, qua sự tưởng tượng. Tác giả là người có vốn hiểu biết phong phú, sâu rộng.

  • Các danh lam thắng cảnh Đại Việt: Đại Than, Đông Triều và dừng chân ở Bạch Đằng – dòng sông của chiến công lịch sử vẻ vang của dân tộc.

→ Tác giả yêu thiên nhiên, thiết tha với quê hương, đất nước. Với quá khứ hào hùng của dân tộc.

  • Cách nói cường điệu: Sớm Nguyên Tương – chiều Vũ Huyệt, hành trình dài được khách thực hiện trong một ngày.

→ Không gian, thời gian của cuộc hành trình đã nâng cao tầm vóc của khách, say sưa, chủ động đến với thiên nhiên.

  • Các bô lão kể về những chiến tích trên sông Bạch Đằng
  • Hình ảnh bô lão: Có thể là những nhân vật có thật, là các vị cao niên ở hai bên bờ sông. Cũng có thể là hư cấu, sự phân thân của tác giả để khách quan kể về những chiến công trên sông Bạch Đằng.
  • Thái độ của các bô lão với khách: “vái”, “thưa”- hiếu khách, tôn kính khách.

→ Chuẩn bị kỹ lưỡng, binh lực hùng hậu, hào khí ngút trời.

  • Diễn biến trận đánh:
  • Cách nói “được thua chửa phân”, “bắc nam chống đối”, hình ảnh phóng đại “nhật – nguyệt phải mờ, bầu trời đất sắp đổi”

→ Trận đánh gay go, quyết liệt, giằng co căng thẳng.

  • Quân giặc: “những tưởng gieo roi một lần quét sạch Nam bang bốn cõi”

→ Kiêu căng, hống hách, ngạo mạn

  • Kết thúc trận đánh: Hung đồ hết lối, khác nào…chết trụi.

→ Thủ pháp so sánh tăng cấp tô đậm, nhấn mạnh thất bại thảm hại, nhục nhã, ê chề của kẻ thù.

→ Khẳng định tình yêu và niềm tự hào dân tộc.

  • Lời suy ngẫm, bình luận của các bô lão về những chiến công
  • Nguyên nhân thắng lợi: đất trời cho nơi hiểm trở, nhân tài giữ được cuộc điện an, đại vương coi thế giặc nhàn.

→ Nhấn mạnh ba yếu tố làm nên thắng lợi thiên thời – địa lợi – nhân hòa. Trong đó nhấn mạnh vai trò của con người.

  • Mượn quy luật của tự nhiên để khái quát quy luật của con người: Mọi dòng sông đều dồn về biển cả. Những kẻ bất nghĩa sẽ tiêu vong, anh hùng lưu danh muôn đời.
  • Lời của khách:
    Ca ngợi sông Bạch Đằng dòng sông lịch sử, dòng sông anh hùng.
    Ca ngợi đức độ, tài năng hai vị thánh quân Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông.
    Ca ngợi cuộc sống thanh bình của dân tộc.
  • Nghệ thuật:

Bố cục chặt chẽ, cách kể tả sinh động
Xây dựng các hình tượng nhân vật sinh động, đặc sắc mang ý nghĩa triết lí.
Ngôn ngữ cô đọng, trong sáng, hào hùng.

III. Kết bài:

Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài phân tích thơ Phú Sông Bạch Đằng
Mở rộng: Sông Bạch Đằng là đề tài, niềm cảm hứng lớn trong văn chương với rất nhiều tác phẩm nổi tiếng khác.

👉Bên cạnh Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng Chia sẻ đến bạn bài Phân Tích 2 Khổ Thơ Đầu Bài Tràng Giang ❤️️ Văn Mẫu

Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng Ngắn Gọn

Giới thiệu đến bạn mẫu phân tích bài thơ Phú Sông Bạch Đằng hay và ấn tượng nhất dưới đây, xem ngay nhé!

“Phú sông Bạch Đằng” – một tác phẩm tiêu biểu cho đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại Việt Nam. Tác giả Trương Hán Siêu đã bằng những hoài niệm quá khứ để thể hiện lòng yêu nước. Niềm tự hào dân tộc về chiến công lừng lẫy trên sông Bạch Đằng.

Mở đầu bài Phú sông Bạch Đằng là lời giới thiệu nhân vật “khách”. Thực tế đây chính là tác giả, một người có tâm hồn ưa du ngoạn, khám phá và tự do phóng khoáng:

“Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió chơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết”

Trong hành trình du ngoạn cả thực tế và trong tưởng tượng của mình. Nhân vật khách đã đi qua biết bao danh lam thắng cảnh. Bao gồm cả của Trung Quốc và Đại Việt ta. Khi dừng chân trên sông Bạch Đằng. Nhân vật khách đã được đắm chìm trong không gian cảnh sắc muôn màu của sông Bạch Đằng:

“Bát ngát sóng kình muôn dặm…
Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô”

Vẻ đẹp trong cảnh sắc thiên nhiên nơi chiến tích sông Bạch Đằng vừa mang vẻ hùng vĩ. Với hình ảnh “sóng kình muôn dặm” lại có vẻ kỳ vĩ tráng lệ với đuôi trĩ một màu thướt tha. Bên cạnh đó còn ẩn chứa nét huyền ảo đầy thơ mộng “Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu”

Tuy nhiên, là nơi chiến tích xưa nên cảnh sông Bạch Đằng không thiếu đi vẻ hoang vu, đìu hiu. Những hàng lau sợi bên sông cực tả vẻ hoang vu, lạnh lẽo. Thêm vào đó là cảnh “giáo gãy, xương khô” nơi chiến trường xưa đẫm máu.

Hình tượng các bô lão xuất hiện đã mang đến những câu chuyện kể về chiến tích trên sông Bạch Đằng:

“Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã
Cũng là bãi đất xưa, Ngô chúa phá Hoằng Thao…”

Các bô lão không chỉ kể ra các chiến công tiêu biểu lừng lẫy lịch sử. Mà còn tái hiện lại khung cảnh chiến trường xưa một cách hào hùng, chân thực và sống động. “thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới”, “hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói”.

Sau thời khắc sống lại những giây phút hào hùng thắng lợi của quân dân ta. Các bô lão đã nhận định về nguyên nhân dẫn đến thắng lợi:

“Quả là: Trời đất cho nơi hiểm trở
Cũng nhờ: Nhân tài giữ cuộc điện an”

Trong đó, ba yếu tố được nhấn mạnh đến chính là thiên thời – địa lợi – nhân hòa. Vai trò của con người là yếu tố quan trọng nhất. Đặc biệt hình ảnh của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn được so sánh với những người hùng thế hệ xưa. Như một lời khẳng định sức mạnh, sự anh minh, tài năng lãnh đạo nghĩa quân của ông

Trong bài phú, riêng hai bài ca cuối bài được chuyển sang thể lục bát. Đó là bài ca của các bô lão và lời ca của kẻ khách:

“Sông Đằng một dải dài ghê…
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”

“Anh minh hai vị thánh quân…
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao”

Lời ca của các bô lão đã ca ngợi hình tượng con sông Bạch Đằng mênh mông, rộng lớn và hiểm trở. Thể hiện niềm tự hào về dòng sông lịch sử. Đồng thời khẳng định một quy luật tất yếu muôn đời kẻ bất nghĩa sẽ tiêu vong. Người anh hùng sẽ được lưu danh muôn đời.

Qua bài “Bạch Đằng giang phú”, người đọc nói chung và nhân dân Việt Nam ta nói riêng. Được ôn lại những trang lịch sử dân tộc vẻ vang, hào hùng. Củng cố thêm niềm tự hào và tự tôn dân tộc. Đồng thời người đọc có ấn tượng sâu sắc bởi đây là bài phú viết bằng chữ Hán được xếp vào loại hay bậc nhất văn học trung đại Việt Nam.

👉Ngoài Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng Ngắn Gọn, bật mí đến bạn Phân Tích Vội Vàng Khổ 1 ❤️️ Top 10 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng Lớp 10

Gửi bạn tham khảo mẫu phân tích bài thơ Phú Sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu vô cùng đặc sắc dưới đây.

Trong văn chương trung đại, thiên nhiên được miêu tả khá nhiều. Các nhà văn, nhà thơ tìm đến thiên nhiên trong những tâm trạng khác nhau. Cao Bá Quát đến với thiên nhiên để bộc lộ tâm trạng chua xót bất đắc chí.

Nguyễn Bỉnh Khiêm thì đến với thiên nhiên để bày tỏ đạo lí thanh cao trước thói đời bon chen danh lợi… Ở bài Phú sông Bạch Đằng, Trương Hán Siêu đã tìm đến thiên nhiên trong một tâm trạng khác.

Mở đầu bài phú, nhà thơ đưa người đọc vào một thế giới hùng vĩ, bao la của những Cửu Giang, Ngũ Hổ, Tam Ngô, Bách Việt.Là những nơi khách đã từng đi qua, khách tỏ ra là một con người có tâm hồn phóng khoáng, tự do:

Giương buồm trong gió chơi vơi,

Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.

Phải chăng khách nói đến Tử Trường để bày tỏ tâm hồn đồng điệu của mình với người xưa. Đi xa, đâu phải chỉ để tiêu dao, ngắm hoa vọng nguyệt. Mà quan trọng hơn là tìm đến nơi cha ông ta đã lập chiến công to lớn. Đã làm vẻ vang cho lịch sử để chiêm ngưỡng, ngợi ca và suy ngẫm.

Điều này, chứng tỏ vị thế vị khách thật cao đẹp, chí khí thật hào hùng. Người đọc có thể nhận thấy vẻ đẹp ấy trong chính lời kể đầy tự hào của khách. Điều quan trọng là nó đã đưa đến cho người đọc ấn tượng khá rõ về những khung cảnh thiên nhiên rộng lớn. Góp phần thể hiện niềm ham thích tự do, phóng khoáng của nhân vật khách.

Cảm hứng về cuộc viễn du mở đầu bài phú, thực ra chỉ là sự chuẩn bị một không khí thích hợp trước khi đi vào thế giới hùng vĩ của sông Bạch Đằng lịch sử.

Ấn tượng đầu tiên mà Trương Hán Siêu đưa đến cho người đọc. Là sự bề thế rộng lớn và sức sống bền bỉ muôn đời của Bạch Đằng giang. Con sông này thật hùng vĩ, bởi nó rộng bát ngát và dài muôn dặm.

Trước cảnh sông nước hùng vĩ và thơ mộng ấy, tác giả cảm thấy vui buồn lẫn lộn. Đây là chiến trường ác liệt xưa kia, ta thắng lớn. Nhưng kể sao cho hết những hi sinh mất mát với bao giáo gãy, xương khô. Ở đoạn thơ này, ta thấy một nỗi buồn cao đẹp qua những câu thơ có âm hưởng trầm lắng, với điệu cảm khái:

Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu

Sau này, Nguyễn Trãi khi thăm cảnh Bạch Đằng cũng có nỗi buồn tương tự. Trong bài Cửa biển Bạch Đằng. Nhà thơ cũng thấy dáng núi dường như vẫn còn in dấu vết thất bại của kẻ thù. Cũng bâng khuâng nhìn dòng nước trôi mà hoài cổ:

Ngạc chặt kình băm non lởm chởm;
Giáo chìm gươm gãy bãi tầng tầng

Dòng sông tìm bóng dạ bâng khuâng.

Tuy vậy, cảm hứng chính của Bài phú sông Bạch Đằng là sự ngợi ca chiến công oanh liệt của dân tộc ta trên dòng sông lịch sử này. Từ những câu thơ trữ tình ở đoạn trên, đến đoạn hai, tác giả chuyển sang những câu thơ tự sự mượn lời các bô lão. Sự xuất hiện của họ làm cho việc miêu tả chiến trận thêm sinh động. Đồng thời việc chuyển ý được tự nhiên.

Các bô lão tiếp chuyện khách với tư cách đại diện cho nhân dân địa phương. Họ tôn kính khách và tự hào kể lại trận chiến năm xưa.

Trận thuỷ chiến được khắc họa thật cô đọng. Với những câu thật cô đọng. Với những câu ngắn từ 4 đến 6 âm tiết:

Thuyền bè muôn đội,
Tinh kì phấp phới.
Tì hổ ba quân,
Giáo gươm sáng chói.

Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ
Bầu trời đất chừ sắp đổ.

Bằng cách ngắt nhịp nhàng, bằng lối đối ngẫu chặt chẽ. Bằng một loạt hình động không khí trận mạc quyết liệt trên sông. Người đọc có thể hình dung khá rõ sự đông đảo của lực lượng tham chiến. Lẫn khí thế quyết chiến của hai bên và sự khốc liệt, dữ dội của một cuộc chiến mà cả hai đều ngang tài, ngang sức.

Trong quan niệm của cha ông ta xưa, trời bao giờ cũng công minh, chính trực, đứng về phía chính nghĩa, trừng phạt kẻ bạo tàn. Thêm vào đó, ta lại có điều kiện tự nhiên hiểm yếu (Trời đất cho nơi hiểm trở). Lại có người tổ chức lãnh đạo kiệt xuất với đường lối chiến thuật, chiến lược đứng đắn.

Do đó, địch thua nhục nhã và ta đã thắng vang dội. Nước sông tuy chảy hoài từ đó tới nay, trải qua bao tháng năm nhưng cái nhục ấy vẫn không rửa nổi. Ở đây, Trương Hán Siêu dẫn tích bên Tàu để nói về các trận đánh trên Bạch Đằng giang từ thời Ngô Quyền đến Trần Hưng Đạo.

Các bô lão không nói nhiều đến phía quân ta chỉ nhấn mạnh lòng biết ơn sâu nặng: Tái tạo công lao – Nghìn đời ca ngợi. Cũng đủ cho người đọc cảm nhận một cách sâu sắc tầm vóc to lớn của chiến thắng Bạch Đằng trong sự nghiệp bảo vệ giang sơn gấm vóc của quân dân đời Trần.

Điều đáng lưu ý, khi nói về quân địch, các bô lão nhấn mạnh vào yếu tố tinh thần. Rõ ràng, lời các bô lão có ý nghĩa sâu sắc. Chuẩn bị dẫn đến những lời bình ở phần tiếp theo:

Những người bất nghĩa tiêu vong,
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh.

Lời bình này trở thành chân lí của muôn đời, sống mái cùng Bạch Đằng giang hùng vĩ. Ở đây cũng như phần đầu, thời gian và không gian được tác giả thể hiện đan xen với nhau.

Với tâm trạng hân hoan, khách vừa đề cao công lao to lớn của các vị anh hùng đời Trần. Vừa bày tỏ niềm tin vào sức sống mãnh liệt và tương lai tươi sáng của đất nước. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tới các yếu tố đức cao của dân tộc. Sự nhìn nhận của khách về chiến thắng cố chiều sâu triết lí.

Phú sông Bạch Đằng là một bài phú có bố cục chặt chẽ. Nhịp điệu thay đổi linh hoạt phóng khoáng, lời văn cô đọng, dồi dào cảm xúc. Khi thì xót thương nhớ tiếc, khi thì vui sướng tự hào.

👉Bên cạnh Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng Lớp 10, Khám phá ngay cách Nghị Luận Về Bài Thơ Tỏ Lòng ❤️️ Mẫu Nghị Luận Văn Học

Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng Đoạn 1 Ngắn

Dưới đây là mẫu phân tích bài thơ Phú Sông Bạch Đằng Đầy khí thế hào hùng, theo dõi ngay và luôn nhé!

“Bạch Đằng giang phú” – một bài phú tiêu biểu xuất sắc nhất trong thể phú của văn học Việt Nam thời kì trung đại. Qua bài phú, tác giả Trương Hán Siêu không chỉ ca ngợi truyền thống anh hùng kiên cường bất khuất của dân tộc. Mà còn thể hiện niềm tự hào về cảnh đẹp quê hương đất nước.

Vẻ đẹp cảnh sắc thiên nhiên sông nước Bạch Đằng được tác giả tái hiện qua cái nhìn. Và cảm nhận của nhân vật “khách”. Tuy nhiên có thể hiểu kẻ “khách” chính là tác giả, ngay từ những câu đầu tiên tác giả đã giới thiệu về kẻ khách là người thích du ngoạn, tự do và phóng khoáng:

“Khách có kẻ…
Lướt bể chơi trăng mải miết”

Nhân vật “khách” đã liệt kê ra những địa danh qua hiểu biết.Và qua thực tế du ngoạn, sớm chiều rong ruổi thưởng ngoạn. Trong đó hàng loạt các địa danh nổi tiếng của Trung Quốc được nhắc đến như: sông Nguyên, sông Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt, Đầm Vân Mộng.

“Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương…
Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều.”

Kẻ khách tự khẳng định rằng “Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết”. Như để nói lên vốn hiểu biết sâu rộng và phong phú của mình. Hơn thế còn nhắc tới “tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”. Như bày tỏ hoài bão lớn lao và sự khoáng đạt trong tâm hồn của mình.

“Đến sông Bạch Đằng thuyền bơi một chiều…
Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô”

Sông Bạch Đằng hiện lên với vẻ đẹp hùng vĩ, hiểm trở “sóng kình muôn dặm”. Nhưng lại không kém phần mĩ lệ, trữ tình “Thướt tha đuôi trĩ một màu”. Trên những đợt sóng dữ dội ấy là những đoàn thuyền nối đuôi nhau như đuôi chim trĩ lặng lẽ trôi trên sông vượt qua những đợt sóng kình.

Những chứng tích đó là minh chứng cho lịch sử hào hùng của dân tộc. Nhưng cũng khiến cho lòng người không tránh khỏi niềm tiếc thương cho những mất mát, hy sinh.

“Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu…
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”

Trước là sự tự hào vì chiến tích nơi đây thì giờ là nỗi buồn thảm thương lặng người vì sự chết chóc do chiến tranh gây ra, buồn vì giá trị lịch sử cũng theo thời gian mà bị mai một đi, các động từ “buồn, thương, tiếc” góp phần khắc họa rõ tâm trạng ảm đạm, ngậm ngùi khôn nguôi của nhân vật khách trước cảnh sông Bạch Đằng.

Như vậy qua đoạn mở đầu của bài “Bạch Đằng giang phú”. Tác giả Trương Hán Siêu đã đưa người đọc trải qua nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Từ niềm tự hào về chiến tích lịch sử vẻ vang của dân tộc đến niềm buồn thương tiếc nuối vì những giá trị lịch sử đã dần phai mờ, mai một.

👉Bên cạnh Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng Đoạn 1 Ngắn, chia sẻ đến bạn bài Phân Tích Đàn Ghita Của Lorca ❤️ 10 Bài Cảm Nhận Hay Nhất

Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng Đoạn 2 Ngắn

Tặng bạn bài văn phân tích về thơ Phú Sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu dưới đây, xem ngay để có thêm gợi ý làm bài nhé!

Trương Hán Siêu là một danh nhân văn hoá thời Trần. Sinh thời, ông để lại nhiều tác phẩm, hiện còn 17 bài thơ và 2 bài văn xuôi. Trong đó xuất sắc nhất phải kể đến bài “Phú Sông Bạch Đằng” – áng thiên cổ hùng văn của lịch sử văn học Việt Nam, cùng phân tích bài thơ để cảm nhận hào khí dân tộc nhé.

Tác phẩm của ông là tiêu biểu cho tình yêu và niềm tự hào dân tộc trước chiến công trên con sông Bạch Đằng. Đồng thời khắc họa một cách chân thật và sinh động, hào hùng những cuộc chiến đẫm máu đầy anh dũng của nhân dân ta ngày xưa thông qua đoạn thứ hai của bài phú.

Đoạn thơ bắt đầu với hình ảnh các bô lão lê gậy bái phỏng kẻ làm khách:

“Bên sông bô lão hỏi,
Hỏi ý ta sở cầu.
Có kẻ gậy lê chống trước,
Có người thuyền nhẹ bơi sau”

Các bô lão có thể là những hình ảnh thực. Những con người mà tác giả gặp trên sông, cũng có thể chỉ là sự hư ảo từ chính những tâm tư, tình cảm của tác giả tạo lên.

Tác giả đã gợi cho người đọc nhớ về hình ảnh của điện Duyên Hồng năm xưa với lời đồng thanh: “quyết đánh” đầy hào hùng. Như tạo điểm nhấn để đưa người đọc quay về con đường lịch sử, trở về với quá khứ. Để rồi theo lời của các bô lão ấy mà làm sống lại những trang sử oai hùng một thời:

“Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng Nhị Thánh bắt Ô Mã,
Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao.”

Các bô lão kể về cuộc chiến của Trần Hưng Đạo năm 1288 – trận chiến với chiến thắng vang dội khi bắt sống được Ô Mã. Và tiêu diệt hàng vạn quân xâm lược, khiến cho:

“Bạch Đằng một cõi chiến tràng,
Xương bay trắng đất, máu màng đỏ sông.”

Nhưng cũng lại không quên ngược dòng lịch sử để nhấn mạnh thêm về trận chiến của Ngô Quyền năm 938. Khi đã dùng mưu đại phá quân Nam Hán một cách tài tình. Qua đó nói lên rằng nơi đây, Sông Bạch Đằng là thánh địa lưu dấu muôn trùng chiến công của dân tộc. Để khẳng định rằng đây là chiến địa đáng tự hào trên đất Việt ta.

Từ nhịp thở dài, nhẹ nhàng, hoài niệm. Tác giả chuyển qua nhịp thơ ngắn, xúc tích, tạo lên vẻ hào hùng, dứt khoát. Để khắc hoạ lên khí thế hùng hồn của thế chiến thời bấy giờ:

“Thuyền bè muôn đội, tinh kỳ phấp phới,
Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói.”

Với các con số ước lệ chỉ những sự vô cùng, vô tận và biện pháp phóng đại hùng biện, các hình ảnh đối lập giữa địch và ta làm cho người đọc tưởng chừng có thể chứng kiến đội quân ta ngày ấy, hùng mạnh, anh dũng, khí thế ngút trời.

Tác giả đã mượn điển tích Bồ Kiên của nước Tần, mượn ý này để cho ta thấy rõ khí thế quân Nguyên khi vào đánh nước ta – quân đông tướng mạnh, tự tin vào thực lực của bản thân, khí thế cũng rềnh vang một cõi. Càng tôn lên thói hống hách, ngạo mạn của bọn chúng.

Trận đánh đó làm cho đất trời phải rung chuyển, thế sự phải xoay vần:

“Trận đánh được thua chửa phân,
Chiến luỹ bắc nam chống đối.
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,
Bầu trời đất chừ sắp đổi.”

Một trận đánh có thể nói là “kinh thiên động địa”. Trương Hán Siêu đã dùng lời lẽ làm ta hình dung ra tầm vóc của trận đánh tựa như sánh ngang với tầm vóc vũ trụ.

Phần kết cả bức tranh hào hùng ấy. Tác giả tạo một nét chấm phá dứt khoát. Khẳng định một chiến thắng vẻ vang của dân tộc:

“Thế nhưng: Trời cũng chiều người,

Trận Hợp Phì giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.”

Tác giả lại tiếp tục nhắc đến điển tích về hai trận đánh Xích Bích của Tào Tháo và Hợp Phì của Bồ Kiên – hai trận đánh nổi tiếng của những nhân vật lỗi lạc trong lịch sử để nhấn mạnh sự thất bại nhục nhã của giặc.

Với giọng điệu đầy nhiệt huyết mang âm hưởng hào hùng, khí thế tự hào, tác giả đã thành công kể lại cuộc chiến nơi bãi sông Bạch Đằng một cách sinh động và hào khí.

Qua đó bài phân tích về tác phẩm thơ Phú sông Bạch Đằng, tác giả ca ngợi nhân dân ta, ca ngợi cuộc chiến thắng anh dũng và bộc lộ niềm tự hào, tình yêu nước mãnh liệt của tác giả trước con sông Bạch Đằng vĩ đại chảy dài theo dòng lịch sử.

👉Ngoài Phân Tích Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng Đoạn 2 Ngắn, tham khảo ngay Cảm Nhận Bài Thơ Từ Ấy ❤️️ 10 Bài Văn Cảm Nhận Của Em

Trên đây là tuyển tập những cách phân tích về bài thơ Phú Sông Bạch Đằng hay và đầy ý nghĩa! Cảm ơn bạn đã tham khảo tại scr.vn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *