Phân Tích Chinh Phụ Ngâm ❤️️ 19 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Chinh Phụ Ngâm ❤️️ 19 Bài Văn Mẫu Hay Nhất ✅ Tuyển Tập Bài Nghị Luận Văn Học Đặc Sắc Phân Tích Tác Phẩm Nổi Tiếng Của Đặng Trần Côn.

Dàn Ý Phân Tích Chinh Phụ Ngâm Lớp 10

Lập dàn ý phân tích Chinh phụ ngâm lớp 10 sẽ giúp các em học sinh nắm được bố cục và luận điểm cơ bản của bài viết. Tham khảo mẫu phân tích Chinh phụ ngâm dàn ý chi tiết như sau:

1.Mở bài phân tích Chinh phụ ngâm:

  • Giới thiệu về tác giả Đặng Trần Côn
  • Giới thiệu nội dung cần phân tích – tác phẩm Chinh phụ ngâm và trích đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

2.Thân bài phân tích Chinh phụ ngâm:

a. Phân tích nỗi cô đơn, sầu tủi của người chinh phụ (16 câu thơ đầu đoạn trích Chinh phụ ngâm):

  • “Dạo hiên vắng”: Trước hiên nhà, những bước đi chậm rãi, nặng nề.
  • “Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen” Hành động buông rèm xuống, kéo rèm lên lặp lại trong vô thức diễn tả nỗi chán chường, tô đậm thêm nỗi cô đơn trong khuê các.
  • “Ngoài rèm thước chẳng mách tin”: Trông chờ một tiếng lành từ chim thước từ xa nhưng chẳng có, nàng đành ngậm ngùi bên chiếc đèn khuya.
  • “Trong rèm dường đã có đèn biết chăng” Tìm đến đèn để tâm giao cho vơi nỗi ưu sầu, mà đèn nào có biết, nào có thấu được tâm can kẻ cô đơn.
  • Người chinh phụ buồn bã trong khuê phòng với ánh đèn dầu hiu hắt mà xót thương cho số phận mình, tủi hổ cho cảnh lẻ loi, đơn chiếc vì chia ly của mình.
  • Nỗi bi thiết của lòng nàng cất lên trong từng tiếng thơ ai oán, vừa như trách móc, vừa như xót xa cho thân phận.
  • Đèn dần tàn, thời gian vẫn vậy cứ trôi đi, một mình, một bóng, gặm nhấm nỗi cô độc, sầu tủi, nỗi chán chường vì lẻ loi tận cùng “Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”.
  • Lòng người buồn tủi, nỗi sầu thương nhuốm lên cả vị thời gian, màu không gian: Tiếng gà “eo óc” đếm thời gian trong đêm lạnh. Bóng hòe “phất phơ rủ bóng” ngẩn ngơ bốn bề. Thiên nhiên có thanh, có sắc mà chẳng có lấy chút niềm vui dù là nhỏ bé
  • Mỗi khắc thời gian trôi qua đều nặng nề, khó khăn tựa như một năm dài.
  • Trong nỗi buồn tủi, sầu muộn, cô độc đến cùng cực ấy, người chinh phụ cố vực dậy tinh thần mình bằng việc tìm đến những thú vui đời thường. Nhưng trớ trêu thay, mọi thứ dường như đều trở nên gượng gạo, bất lực trước tâm trạng chinh phụ.

b. Phân tích nỗi nhớ thương chồng tha thiết của người chinh phụ (8 câu thơ cuối đoạn trích Chinh phụ ngâm):

  • Càng cô đơn, tuyệt vọng, nỗi nhung nhớ lại càng dâng trào, mãnh liệt.
  • Người chinh phụ nhớ thương chồng tha thiết nhưng đành bất lực vì khoảng cách quá xa xôi.
  • “Non Yên” một hình ảnh ẩn dụ cho sự xa xôi, cách trở của người chinh phụ và kẻ chinh phụ.
  • Vì nỗi nhớ thương da diết, không biết làm gì hơn, nàng đành gửi nỗi nhớ theo gió đông đến “Non Yên”.
  • Từ láy “thăm thẳm”, “đau đáu” kết hợp với cụm danh từ “đường lên bằng trời” đã đặc tả nỗi nhớ khôn nguôi, mênh mông và cao rộng đến tận cùng trong người chinh phụ.

c. Phân tích giá trị nghệ thuật của tác phẩm Chinh phụ ngâm:

  • Giọng thơ trầm buồn, khắc khoải, da diết, trầm lắng
  • Khắc họa nội tâm nhân vật tài tình, tinh tế thông qua hành động nhân vật, yếu tố ngoại cảnh, độc thoại nội tâm
  • Các biện pháp tu từ: So sánh, điệp từ, từ láy.

3.Kết bài phân tích Chinh phụ ngâm:

Khẳng định lại vẻ đẹp và giá trị của tác phẩm.

Tham khảo trọn bộ 🌹 Phân Tích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 🌹 15 Mẫu Phân Tích Chinh Phụ Ngâm Hay Nhất

Mở Bài Phân Tích Chinh Phụ Ngâm Hay Nhất

Đón đọc gợi ý mở bài phân tích Chinh phụ ngâm hay nhất được chia sẻ dưới đây giúp các em học sinh có cách bắt đầu bài viết thật ấn tượng.

Văn học thế kỉ XVIII là văn học của những tiếng nói cảm thương, cảm thông cho số phận bất hạnh của người phụ nữ. Ngoài kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du ta cũng không thể không nhắc đến tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Tác phẩm là tiếng lòng thiết tha, thổn thức của người phụ nữ khi có chồng phải ra chiến trận. Tâm trạng của nhân vật được thể hiện rõ nhất qua đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

Theo các cứ liệu lịch sử, vào đầu đời vua Lê Hiển Tông, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long. Triều đình phải cất quân ra trận, nhiều trai tráng phải từ giã gia đình, người thân ra trận. Có bao nhiêu những chàng trai lên đường thì có bấy nhiêu người phụ nữ, người vợ ở nhà trong nhớ thương, buồn tủi. Tác giả Đặng Trần Côn đồng cảm với nỗi niềm của người phụ nữ để nói lên nỗi lòng của họ bằng một ngòi bút tài hoa.

Kết Bài Phân Tích Chinh Phụ Ngâm Khúc

Gợi ý viết kết bài phân tích Chinh phụ ngâm khúc dưới đây sẽ giúp các em học sinh nắm được cách đưa ra đánh giá về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Bằng thể thơ song thất lục bát dân tộc, giọng thơ thống thiết, bi thương kết hợp với các biện pháp tu từ và điển cố điển tích, trích đoạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã thể hiện rõ tài năng miêu tả và khắc họa tâm lí nhân vật của tác giả Đặng Trần Côn. Qua đó, chúng ta thấy được bi kịch trong nỗi cô đơn và nỗi nhớ “thăm thẳm” của những người chinh phụ luôn “đau đáu” trông mong tin tức của người chinh phu nơi biên ải xa xôi.

Trang thơ khép lại mà nỗi xót xa, đớn đau của người chinh phụ vẫn còn đó. Chiến tranh thực tàn khốc, đã đẩy con người vào những nỗi đau tinh thần khôn xiết. Niềm khát khao hạnh phúc của người chinh phụ trong tác phẩm thật đáng trân trọng, đó cũng là niềm khao khát của con người trong mọi thời đại.

Chia sẻ thêm cùng bạn 🍀 Cảm Nhận Về Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 🍀 15 Mẫu Đặc Sắc

Phân Tích Tác Phẩm Chinh Phụ Ngâm – Mẫu 1

Đón đọc bài văn hoàn chỉnh phân tích tác phẩm Chinh phụ ngâm dưới đây giúp các em học sinh có được cho mình những định hướng làm bài cụ thể.

“Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.”

Văn học Việt Nam đã từng chứng kiến biết bao những cuộc chia li, tiễn biệt đầy lưu luyến như thế. Và ở thế kỉ thứ XVIII, “Chinh phụ ngâm” một tác phẩm lấy từ đề tài chia li trong chiến tranh đã của Đặng Trần Côn đã cho chúng ta thấy được một cuộc tiễn biệt thấm đẫm tâm trạng, đằng sau đó là nỗi đau người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã làm nỗi bật lên nỗi lẻ loi cô đơn cùng những nhớ mong, và có cả những khao khát hạnh phúc của người chinh phụ.

Nhà văn Tô Hoài đã từng khẳng định: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”. Thời đại của Đặng Trần Côn là thời kì mà chiến tranh các tập đoàn phong kiến diễn ra liên miên và phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra khắp nơi, nhà nhà sống trong cảnh loạn lạc, khói lửa, đâu đâu cũng thấy cảnh lầm than, tang tóc.

Khi thời đại đưa cho ông một đề tài quen thuộc “hiện thực chiến tranh”, bằng cảm hứng nhân đạo của mình, Đặng Trần Côn đã chiếu ngòi bút của mình xuống những nỗi đau của người phụ nữ trong chiến tranh để cất lên tiếng nói của con người thời đại, tiếng nói oán ghét chiến tranh phi nghĩa, tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc qua khúc tự tình trường thiên “Chinh phụ ngâm”.

Xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, qua nỗi niềm của người chinh phụ có chồng ra trận, tác giả đã đã để cho người đọc cảm nhận nỗi đau thương trong chiến tranh của cả hai phía người ra trân và người ở lại. Nếu ở nơi chiến địa, chinh phu đang từng ngày từng giờ đối mặt với cái chết thì chinh phụ nơi quê nhà cũng đang mòn mỏi chờ đợi trong vô vọng, và chìm đắm trong muộn phiền. Ba sáu câu thơ trong đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” như tích tụ nỗi đau, nỗi nhớ thương và niềm khao khát hạnh phúc lứa ở tầng sâu nhất của tác phẩm.

Mở đầu đoạn trích, tác giả đã khắc họa bức chân dung tâm trạng của người chinh phụ trong tình cảnh cô đơn, lẻ loi, ngày qua ngày mong ngóng tin chồng:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”

Giữa một không gian tịch mịch “vắng” và “thưa”, người chinh phụ hiện lên như hiện thân của nỗi cô đơn. Nàng đi đi lại lại, những bước chân của nàng không phải là bước chân “xăm xăm” khi nghe thấy tiếng gọi của tình yêu, hạnh phúc của nàng Kiều mà những bước chân ấy gieo xuống từng bước như gieo vào lòng người đọc những thanh âm của sự lẻ loi cô độc. Nàng hết buông rèm rồi lại kéo rèm để hướng ra ngoài, hướng về nơi biên ải xa xôi kia để mong ngóng chút tin tức của chinh phu nhưng không có dấu hiệu hồi đáp lại.

Nhịp thơ chậm, kéo dài như ngưng tụ cả không gian và thời gian. Dường như hành động nàng đang lặp đi lặp lại một cách vô thức bởi tâm trí nàng giờ đây đang dành trọn cho người chồng nơi chiến trường đầy hiểm nguy. Những thao tác trữ tình ấy đã lột tả được tâm tư trĩu nặng và cảm giác bế tắc không yên của người chinh phụ. Trong nỗi bồn chồn khắc khoải ấy, nàng mong ngóng một một người có thể sẻ chia những tâm tư nhưng tất cả chỉ có một ngọn đèn khuya leo lét:

“Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiếp mà thôi
Buồn rầu chẳng nói nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Ngọn đèn vừa chứng kiến vừa soi tỏ nỗi cô đơn của người phụ nữ xa chồng. Khi đối diện với ngọn đèn là người phụ nữ đáng thương ấy đang tự đối diện với chính mình, dưới ánh sáng của ngọn đèn mà tự phơi chải nỗi đau của chính mình. Để rồi những tâm tư ấy bật thành lời tự thương da diết “Hoa đèn kia với bóng người khá thương”. Nàng thấy mình chỉ như kiếp hoa đèn kia mỏng manh và dang dở, thấy sự tàn lụi ở ngay trước mắt mình. Nếu ngọn đèn không tắt đồng hành với người phụ nữ trong ca dao thắp lên nỗi nhớ thương:

“Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt”

Ngọn đèn trong đêm với Thúy Kiều đã trở thành nhân chứng của nỗi đau của người con gái tài sắc:

“Một mình một ngọn đèn khuya
Áo đầm giọt tủi tóc se mái đầu”

Thì hình ảnh ẩn dụ ngọn đèn của người chinh phụ soi bóng trong đêm lại là sự hiện diện của lẻ loi, đơn chiếc, trống trải. Hình ảnh hoa đèn và bóng người như phản chiếu vào nhau để diễn tả nỗi cô đơn đên héo úa canh dài, đến hao mòn cả thể chất.

Dường như nỗi niềm ấy đã vo tròn, nén chặt đè nặng trong lòng người chinh phụ, và trở thành nỗi “bi thiết” không thể nói lên lời, là nỗi “buồn rầu” đến não nề, đến thương cảm. Bức chân dung người phụ nữ ấy không chỉ gợi lên qua những bước chân, động tác, cử chỉ, qua gương mặt buồn rầu, qua dáng ngồi bất động trước ngọn đèn khuya mà còn nổi bật lên trên nền của không gian và thời gian:

“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”

Hình ảnh “bóng hòe phất phơ” suốt ngày dài cùng biện pháp lấy động tả tĩnh với sự xuất hiện âm thanh “tiếng gà eo óc suốt” đêm thâu như tô đậm nỗi cô đơn, triền miên của nhân vật trữ tình. “Eo óc” đó là âm thanh thưa thớt trong một không gian rộng lớn, hiu quạnh có cảm giác tang tóc, tang thương đã bộc lộ sâu sắc nỗi chán chường của chủ thể trong đêm thâu. Nàng đã thức trọn năm canh để nghe thấy tận sâu trong đáy lòng mình nỗi sầu, nỗi đau vô hình ấy.

Từ láy “phất phơ” đã biểu đạt một cách tinh tế dáng điệu võ vàng của người chinh phụ, tâm trạng của một người vợ ngóng chờ từng chút hình ảnh của người chồng. Tâm trạng của nhân vật trữ tình như đang thấm đẫm, lan tỏa cả trong thời gian và xuyên suốt cả thời gian. Tác giả đã biến thời gian thành thời gian tâm lí, không gian thành không gian cảm xúc bằng bút pháp ước lệ và nghệ thuật so sánh trong hai câu thơ:

“Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tự miền biển xa”
Câu thơ theo đúng nguyên tác của Đặng Trần Côn:
“Sầu tựa hải
Khắc như niên”

Chỉ thêm hai từ láy “dằng dặc” và “đằng đẵng” nhưng sự chán chường, mệt mỏi kéo dài vô vọng của người chinh phụ trở nên thật cụ thể, hữu hình và có cả chiều sâu trong đó. Kể từ khi chinh phu ra đi, một ngày trở nên dài lê thê như cả một năm, những mối lo toan, nỗi buồn sầu như đông đặc, tích tụ đè nặng lên tâm hồn người phụ nữ đáng thương ấy. Từng ngày, từng giờ, từng phút người chinh phụ vẫn đang chiến đấu với nỗi cô đơn, chiến đấu để thoát khỏi cuộc sống tẻ nhạt của chính mình:

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”

Điệp từ “gượng” được điệp đi điệp lại ba lần trong bốn câu thơ tiếp theo đã thể hiện sự nỗ lực vượt thoát ấy của người chinh phụ. Nàng gượng đốt hương để kiếm tìm sự thanh thản thì lại rơi sâu hơn vào cơn mê man. Nàng gượng soi gương để chỉnh trang nhan sắc thì lại chỉ thấy những giọt sầu. Nàng gượng tìm đến với âm nhạc để giải tỏa thì nỗi âu lo về duyên cầm sắt và tình loan phượng lại hiện hình.

Dường như nàng đang mang trong mình quá nhiều những nỗi lo sợ, lo lắng, bởi thế, người chinh phụ không những không thể giải tỏa được nỗi niềm bản thân mà còn như chìm sâu hơn vào nỗi bi thương xót xa.

Nỗi cơ đơn, lẻ loi của người chinh phụ được đã đặc tả bằng bút pháp trữ tình đa dạng để độc giả có thể cảm nhận được tâm trạng ấy của nhân vật trữ tình ngay cả khi ngày lên cũng như khi đêm xuống, luôn đồng hanh cùng người chinh phụ cả khi đứng, khi ngồi, lúc ở trong phòng và ngoài phòng và bủa vây khắp không gian xung quanh. Sự cô đơn ấy đã làm hao gầy cả hình dáng và héo úa cả tâm tư và người chinh phụ như đang chết dần trong cái bọc cô đơn ấy.

Sống trong không gian cô đơn ấy, nàng chỉ biết nhớ về người chồng nơi biên ải xa xôi kia với một tấm lòng thủy chung, sắt son:

“Lòng này gửi gió đông có tiện
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Non yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”

Người chinh phụ đã gom hết những yêu nhớ, thương xót và cả lòng thủy chung của mình vào gió đông, nhờ cơn gió mùa xuân ấm áp gửi tâm tư thầm kín của mình đến non Yên. Những hình ảnh có tính tượng trưng ước lệ như “gió đông”, “non Yên”, “trời thăm thẳm” vừa gợi ra không gian rộng lớn vô tận nói lên khoảng cách xa xôi giữa chinh phu và chinh phụ vừa biểu đạt được tấm lòng chân thành, nỗi nhớ nhung vô hạn của người vợ nơi quê nhà.

Phải chăng ngọn gió đông đánh thức tâm hồn chinh phụ cũng chính là ngọn gió xuân đánh thức giấc mộng ái ân khuê phòng trong “xuân tứ” của nhà thơ Lí Bạch:

“Cỏ non xanh biếc vùng Yên
Cành dâu xanh ngà ở bên đất Tần
Lòng em đau đớn muôn phần
Phải chăng là lúc phu quân nhớ nhà
Gió xuân có biết chi mà
Cớ chi lọt bức màn là tới ai”

Nhưng nỗi thương nhớ của người chinh phụ người ta còn thấy được cả dư vị của nỗi đau, sự ngậm ngùi, xót xa:

“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”

Hai từ láy “thăm thẳm” và “đau đáu” đã biểu đạt trực tiếp sắc thái củ nỗi nhớ thương ấy của người chinh phụ. Nếu hai từ “thăm thẳm” gợi nên trường độ của nỗi nhớ nhung trải dài dằng dặc, triền miên trong không gian thì độ sâu của nỗi nhớ được thể hiện qua từ “đau đáu”. Hình ảnh đường lên trời mù mịt, xa xăm cũng giống như bi kịch nỗi nhớ mong của nàng chẳng biết đâu là bến bờ, chẳng biết đến khi nào người chồng trở về để kết thúc cái bi kịch ấy.

“Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”

Cảnh vật xung quanh chính là tâm cảnh bởi nó đã được nhìn bởi đôi mắt đẫm lệ, đã nhuốm màu tâm trạng của chủ thể trữ tình. Ý thơ đã đúc kết qui luật cảm xúc và có sự gặp gỡ với ý thơ của Nguyễn Du trong kiệt tác “Truyện Kiều”:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Câu thơ như một tấm bản lề khép lại nỗi nhớ nhung sầu muộn dẫn người đọc đến với nỗi sầu muộn của người chinh phụ trong câu thơ sau. Trong bức tranh mùa đông được gợi mở, tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh bất ngờ để cực tả nỗi sầu muộn và cảm giác lạnh lẽo trong lòng người phụ nữ:

“Sương như búa bổ mòn gốc liễu
Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô”

Nỗi đau đớn sầu muộn ấy khi thì nặng nề như búa bổ, khi thì nặng nề như cưa xẻ còn “gốc liễu” “cảnh ngô ấy phải chăng chính là hiện thân của người phụ nữ đang mòn mỏi chờ chồng. Cả dung nhan và tâm hồn nàng dường như đang bị tàn phá không phải chỉ bởi cái lạnh lẽo của sương tuyết mà còn là cái lạnh lẽo, cô đơn đang bủa quanh. Mùa đông của thiên nhiên nhiên giờ đây đã hóa thành mùa đông của cuộc đời người chinh phụ.

“Giọt sương phủ bụi chim gù
Sâu tường kêu vẳng chuông chùa nện khơi”

Tiếng chim gù trong bụi cây sương phủ, tiếng côn trùng nỉ non não nề trong đêm sương phải chăng nhà thơ muốn bật lên tiếng lòng tê buốt lạnh giá của người chinh phụ? Phải chăng không chỉ là tiếng sâu tường bên cạnh “vẳng” ra, tiếng chuông chùa từ xa “nện” lại mà đó còn là những cơn sóng dữ dội, tha thiết và nhức nhối đang cuộn lên trong lòng người phụ nữ ấy?

Tất cả những âm thanh như đang xoáy sâu vào tâm hồn, ăn mòn tâm trí của chinh phụ. Với sự thành công của biện pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc của thi ca cổ điển nhà thơ không chỉ tô đậm ấn tượng lạnh lẽo của bức tranh mùa đông mà còn đang phơi bày thế giới nội tâm lạnh giá của người chinh phụ. Nếu không phải là một ngòi bút khắc họa tâm lí sắc sảo chắc chắn sẽ không thể miêu tả tâm trạng của người chinh phụ sâu sắc và tinh tế đến thế.

Tưởng chừng như người chinh phụ sẽ mãi chìm đắm trong nỗi sầu muộn ấy, nhưng trong giây lát nàng đã đến với những khao khát của hạnh phúc lứa đôi qua bức tranh hoa nguyệt lộng lẫy của thiên nhiên:

“Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc
Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên
Lá màn lay động gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm
Hoa đãi nguyệt, nguyệt in một tấm
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiêt đâu”

Bức tranh hoa nguyệt lộng lẫy ấy đã được nhà thơ khắc họa bằng thủ pháp trùng điệp liên hoàn tạo ra những hình ảnh lồng xoáy vào nhau, những lớp hình ảnh giao hòa. Hoa phô bày vẻ đẹp dưới ánh trăng vàng và vầng trăng tỏa sáng lại phản chiếu bóng hình hoa trên mặt đất. Sắc hoa ngời lên dưới nguyệt và cuối cùng kết tinh lại ở hình ảnh đẹp nhất, một biểu tượng ý nghĩa nhất: nguyệt và hoa giao hòa quấn quýt lẫn nhau.

Phải chăng chính sự giao hòa của thiên nhiên, tạo vật đã đánh thức niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi thầm kín trong lòng chinh phụ bấy lâu? Nhưng phải chăng cũng bởi thế mà nỗi đau về sự lẻ loi lại quay lại với nàng mà còn như khơi sâu thêm hơn nữa? Đến thiên nhiên vô tri vô giác còn có cảm giác hạnh phúc lứa đôi, còn nàng, nàng chỉ có một mình với một tấm lòng thủy chung chờ đợi chồng nơi khuê phòng này, chờ những hạnh phúc ái ân sẽ trở về.

Cùng với hình ảnh, âm điệu của lời thơ cũng trở nên tha thiết, nồng nàn như những con sóng của niềm khao khát đang dâng lên trong lòng người chinh phụ. Đến đây, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đã đạt đến mức điêu luyện. Nếu ở đoạn thơ trên tác giả đã gửi tình vào cảnh thì ở đoạn sau tác giả đã để cho cảnh gợi tình. Những hình ảnh mĩ lệ của hoa lồng nguyệt và nguyệt lồng hoa hết sức mĩ lệ đã thể hiện hết sức tế nhị những khao khát thầm kín và mãnh liệt của người chinh phụ – đó cũng là những khát vọng trần thế và nhân bản của con người.

Bên cạnh tài năng miêu tả tâm lí nhuần bằng nhiều bút pháp được thể hiện qua thể thơ song thất lục bát mềm mại của tác giả, dịch giả Hồng Hà Nữ Sĩ còn thành công khi sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt một cách tinh tế và thanh nhã .Chính sự kết hợp của ngôn ngữ giàu về “thể chất” của Nguyễn Gia Thiều với cái linh hồn ngôn ngữ của Đoàn Thị Điểm đã làm cho ngôn ngữ bài thơ truyền tải được mọi cung bậc cảm xúc tinh tế nhất trong diễn biến tâm trạng của người chinh phụ.

Tác phẩm đã góp phần vào tiếng nói đấu tranh, tố cáo chiến tranh phong kiến chia rẽ hạnh phúc lứa đôi đồng thời khẳng định quyền sống, quyền hạnh phúc nhân bản nhất của con người. Đó cũng là giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc nhất của tác phẩm. Những vần thơ khép lại nhưng dường như nỗi đau của người chinh phụ vẫn còn đó. Niềm khao khát về một hạnh phúc từ đây mà trở thành niềm khao khát của cả một thời đại và thúc giục con người hành động để đạt dành được hạnh phúc mà mình đáng có.

Giới thiệu tuyển tập 🍀 Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ 🍀 15 Mẫu Hay

Phân Tích Chinh Phụ Ngâm Ngắn Gọn – Mẫu 2

Tham khảo bài văn mẫu phân tích Chinh phụ ngâm ngắn gọn với đây với cách viết súc tích và cô đọng ý văn.

Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” được trích từ tác phẩm “Chinh phụ ngâm” nguyên tác bằng chữ Hán của tác giả Đặng Trần Côn. Trích đoạn viết về tình cảnh và tâm trạng của người chinh phụ phải sống trong cô đơn buồn khổ khi chồng ra trận không có tin tức cũng không rõ ngày trở về. Người đọc cảm nhận được nỗi đau khổ trong cô đơn, chia lìa, khao khát tình yêu và được sống trong hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ.

Mở đầu đoạn trích, tác giả đã khắc họa nỗi cô đơn, lẻ loi đầy xót thương của người chinh phụ, có người phụ nữ nào lại không cảm thấy cô đơn buồn tủi khi người chồng đi lính, giờ đây chỉ còn lại một mình, từng hành động của người chinh phụ cứ lặp đi lặp lại trong vô thức:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”

Bước chân vừa đi vừa đếm, đi qua đi lại vô nghĩa rồi lại ngồi buông cuốn rèm lên xuống không biết bao nhiêu lần, tất cả cho thấy người phụ nữ như đang hồn bay phách lạc, chỉ có thân thể hoạt động trong vô thức, bần thần. Hai chữ “vắng” và “thưa” tô đậm thêm khung cảnh vắng vẻ, cô quạnh và sự cô đơn lẻ bóng của người chinh phụ khi xa chồng.

Tâm thế chờ đợi tin tức của chồng khiến người chinh phụ luôn thấp thỏm, chờ ngóng tin lành từ chim thước nhưng “thước chẳng mách tin”, trông ngóng ngọn đèn nhưng tiếc thay đèn chỉ là vật vô tri vô giác, không thể lắng nghe và thấu hiểu nỗi lòng của người chinh phụ.

“Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”

Hình ảnh “hoa đèn” gợi đến sự tàn lụi, ngọn bấc cháy hết chỉ còn lại tàn hoa rơi rụng, cũng như nỗi lòng ngóng trông của người chinh phụ chỉ nhận lại sự bặt vô âm tín, vẫn rơi vào cảnh trống trải, leo lắt một mình. Tiếng gà “eo óc”, bóng hòe “phất phơ” mang giá trị gợi tả cực cao về sự hoang vắng, lặng lẽ đến lạnh người của cảnh vật, đó cũng chính là sự giá băng trong lòng người phụ nữ cô đơn.

Nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ đã lan tỏa khắp không gian, cảnh vật, làm gia tăng sự cách biệt về thời gian không gian một cách đáng sợ:

“Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”

Một giờ ngóng trông tin tức của chồng kéo dài như là một năm, mối sầu thương nhớ chất chứa trong lòng lại như biển cả mênh mông, từ láy “đằng đẵng” và “dằng dặc” như cực tả thêm nỗi cô đơn trĩu nặng trong lòng người chinh phụ. Mang trên mình nỗi lòng nặng trĩu ấy làm sao người phụ nữ có hứng thú với công việc gì, chính vì vậy, mọi việc làm đều trở nên gượng gạo, gò ép chính mình “hương gượng đốt”, “gương gượng soi”, “gượng gảy phím đàn”.

Muốn đốt hương cho khuây khỏa cõi lòng nhưng hồn lại mê mải, soi gương chẳng còn thấy khuôn mặt chỉ thấy dòng nước mắt, muốn gảy đàn ôn lại kỉ niệm lại sợ đàn đứt dây mang những điềm gở, hung tin về chồng. Tất cả đều ẩn chứa sự bất an, lo lắng không yên của người chinh phụ, nơi chiến trường đao binh ác liệt không biết liệu chồng mình có được bình an vô sự trở về. Nàng muốn đem lòng thương nhớ ấy gửi đến cho chồng nhưng ước muốn ấy của nàng là viển vông, không bao giờ có thể thực hiện được:

“Non yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”

Những từ láy “thăm thẳm” và “đau đáu” vừa gợi sự xa cách giữa vợ – chồng lại vừa đặc tả nỗi lòng nhớ thương dai dẳng, khôn xiết của người chinh phụ. Ở hai câu thơ cuối, ta cảm nhận được niềm khao khát tìm kiếm sự đồng cảm cũng như bến bờ hạnh phúc đôi lứa, mái ấm gia đình đang thôi thúc, cháy bỏng trong lòng người chinh phụ. Lúc này cảnh vật và con người đã cùng hòa tan vào nỗi buồn, chẳng còn sự khác biệt giữa nỗi buồn của con người và u buồn của cảnh vật.

Có thể nói, đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” Đặng Trần Côn mang đến cho chúng ta không chỉ là một số phận người phụ nữ nói riêng mà đó chính là số phận chung của những người phụ nữ trong chế độ xã hội phong kiến xưa. Những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã khiến họ phải xa chồng, mất đi mái ấm hạnh phúc, đẩy họ vào hoàn cảnh cô đơn, lẻ loi, buồn khổ.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Chinh Phụ Ngâm Phân Tích Ngắn Nhất – Mẫu 3

Tài liệu văn Chinh phụ ngâm phân tích ngắn nhất dưới đây sẽ giúp các em học sinh nhanh chóng ôn tập để chuẩn bị cho bài viết  trên lớp.

Trong xã hội phong kiến ngày xưa có rất nhiều các tác phẩm nói về nỗi khổ tâm của người phụ nữ có chồng phải rời xa gia đình đi chiến trận. Thậm chí có những khi đó là những cuộc chiến tranh phi nghĩa. Nỗi khổ của họ là những nỗi đau đớn, dằn vặt mà không thể nói ra được thành lời, chỉ có thể giữ tâm trạng cô đơn ấy trong lòng.

Và trong các tác phẩm văn học của thế kỉ XVIII nói riêng, phong kiến nói chung, chúng ta không thể không nhắc tới tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của tác giả Đặng Trần Côn cùng nghệ thuật diễn Nôm xuất sắc của Đoàn Thị Điểm.

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen
Ngoài rèm thước chẳng báo tin
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”

Mở đầu là bốn câu thơ song thất lục bát làm cho người đọc phải suy ngẫm, như thoang thoảng đâu đây nét buồn mang mác, như nỗi lòng lo âu, sầu muộn của người phụ nữ ngày ngày trông ngóng tin chồng nơi chiến trận. Mới ngày nào vợ chồng còn sánh bước bên nhau, yêu thương sâu đậm mà nay trong căn phòng, ngoài hiên nhà chỉ còn bóng dáng lẻ loi của người vợ bên trong bức rèm nhìn ra xa xăm.

Nàng ngày ngày ngóng trông tin người chồng nơi xa, trông chờ tiếng kêu của những con chim thước từ nơi chiến trường bay về, mang người chồng của nàng bình an nơi chiến trận. Ấy vậy mà nàng trông mãi mà không thấy tin lành từ phương xa. Đêm đêm, nàng vẫn một mình bên ngọn đèn, thế nhưng, đèn dẫu sao vẫn còn ngọn lửa tỏa ánh sáng ấm áp, còn nàng, lòng của nàng lại lạnh lẽo, mỏi mòn chờ người thương. Liệu ánh đèn ấm áp kia có hiểu:

“Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”

Tiếp theo đó là hai câu thơ lục bát, đều là những câu thơ mang ý nghĩa so sánh. Trong trái tim của người chinh phụ thì giờ đây, mỗi phút mỗi giây đối với nàng thật dài, như là cả một thế kỉ. Cũng giống như nhà thơ Xuân Quỳnh đã từng viết:

“Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ”

Tình yêu của nàng, nỗi nhớ nhung của nàng xa thăm thẳm, tựa như đại dương mênh mông không nhìn thấy bến bờ. Và cùng với nó, thời gian chờ đời càng dài, lòng nàng lại càng “tựa miền biển xa”.

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại ngùng”

Chỉ bốn câu thơ nhưng lại có tới ba dòng “gượng”. Nàng gượng soi gương, gượng đốt hương trong căn phòng rồi lại gắng gượng gảy từng phím đàn. Thế nhưng nàng lại nhận ra, dù nàng có cố gắng làm cho mình đẹp, cố gắng đốt hương thơm cho căn phòng hay gảy nên khúc nhạc quen thuộc của nàng thì cũng không còn ai ở bên cạnh để lắng nghe nỗi lòng của nàng, thưởng thức bề ngoài xinh đẹp của nàng cùng tiếng đàn trầm bổng nữa rồi.

Than ôi! Đó có lẽ là những điều đau khổ và tuyệt vọng nhất của người phụ nữ. Để rồi từng phím đàn không còn được mượt mà, đằm thắm như ngày xưa nữa. chỉ còn lại những” phím loan ngại ngùng” như tình yêu của đôi uyên ương đã bị xa cách nghìn khơi.

“Lòng này gửi gió đông có tiện
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”

Nếu như ở đoạn đầu, nàng chờ tin lành từ những chú chim tước từ phương xa báo tin, thì nay nàng đành phải gửi tình cảm của mình cho ngọn gió Đông kia. Liệu rằng, cơn gió ấy có thể đi đến bên chàng, nói cho chàng biết những điều tâm sự, nỗi niềm thương yêu của nàng hay không. Nỗi lòng của nàng giờ đây đã cao tựa như đường lên bầu trời mất rồi, liệu bao giờ chàng mới có thể trở về bên nàng được đây?

“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
Cảnh buồn người tha thiết lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”

Bốn câu thơ cuối, nhịp thơ đã chậm đi rất nhiều, như thấm vào lòng người đọc, như tiếng vọng ai oán, đượm vào từng nhánh cây, ngọn cỏ. Như câu thơ: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Giờ đây, người chinh phụ đã không còn niềm vui nào nữa, dường như mọi vật xung quanh cũng ảnh hưởng bởi tâm tư và tình cảm của nàng vậy, như nỗi nhớ “đau đáu” của nàng dành cho người chồng bị cuốn vào cuộc chiến tranh phi nghĩa.

Tóm lại, bài thơ “Chinh phụ ngâm khúc” đã nói lên tình cảm da diết của người vợ dành cho người chồng, ca ngợi tình yêu chung thủy của hai người. Nhưng cũng đồng thời lên án chiến tranh phi nghĩa đã làm bao gia đình phải tan nát, làm vợ phải xa chồng, con phải xa cha, cha mẹ xa con,…

Mặt khác, tác phẩm cũng đã phản ánh lên ý thức về cuộc sống, niềm khao khát bảo vệ hạnh phúc gia đình. Đó cũng là các lí do mà “chinh phụ ngâm khúc” đã tạo dấu ấn rất riêng biệt trong nên văn học của thế kỉ 18 mà vẫn còn có giá trị to lớn cho tới tận bây giờ.

Gợi ý cho bạn 🌳 Cảm Nhận 8 Câu Đầu Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 🌳 10 Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Chinh Phụ Ngâm Nâng Cao – Mẫu 4

Bài văn mẫu phân tích Chinh phụ ngâm nâng cao dưới đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh.

Cảm hứng nhân đạo là mạch nguồn xuyên suốt chiều dài của văn học dân tộc. Đặc biệt là trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ 18 – đầu thế kỉ 19, nước ta có nhiều biến động dữ dội về mặt lịch sử, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra đòi lật đổ triều đình phong kiến, quyền sống, quyền hạnh phúc của con người bị đe dọa nặng nề.

Cũng trong giai đoạn này, lần đầu tiên, hình ảnh người phụ nữ được đề cập đến một cách phổ biến trong tác phẩm của nhiều tác giả. Nổi bật trong số đó có “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm. Người chinh phụ sau buổi tiễn đưa chồng ra trận trở về, tưởng tượng cảnh chiến trường mà xót xa, lo lắng cho chồng, ái ngại cho tình cảnh của chính mình. Tâm sự ấy đã được thể hiện rất sâu sắc qua đoạn trích:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

Hai câu mở đầu đoạn trích tái hiện hình ảnh của người chinh phụ một mình ở nhà, hết đi ra ngoài hiên lại vào trong phòng, cuốn rèm lên rồi lại rủ rèm xuống. Những động tác, cử chỉ lặp đi được lặp đi lặp lại nhiều lần như không mục đích, diễn ra theo sự chi phối của sự xáo động trong tâm hồn.

Thời gian dường như trôi đi một cách nhàm chán, nặng nề, tẻ nhạt, ẩn giấu trong trạng thái tâm lí khắc khoải, bồn chồn, không biết chia sẻ cùng ai. Bước chân của người chinh phụ dường như chung một nhịp với bước chân của người cung nữ cô độc đáng thương trong “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều

“Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ”.

Bước chân ấy lại càng đối lập với bước chân nàng Kiều của Nguyễn Du: “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Bước chân của Kiều ngập tràn hạnh phúc, yêu thương, còn bước chân của người chinh phụ nặng trĩu tâm tình, thương nhớ và xót xa. Nhìn bên ngoài, đó là cuộc sống an nhàn, thảnh thơi nhưng thực tế, người thiếu phụ đang phải sống trong cuộc sống tội nghiệp, đáng thương: chồng đi biền biệt, tuổi xuân phai tàn.

Nỗi cô đơn, lẻ loi, khắc khoải nào ai có thấu? Trong tâm sự của người chinh phụ có nhắc đến chim thước, tiếng chim đó trong hoàn cảnh này vẫn im bặt khiến người chinh phụ phải lên tiếng trách móc. Lúc đầu nghĩ rằng may ra có đèn biết tâm sự của mình nhưng rồi nghĩ lại đèn có biết cũng bằng không:

“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu nói chẳng nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Đèn có biết vì đã thức cùng nàng trong những đêm thâu vời vợi, chứng kiến nàng trằn trọc. Ngọn đèn ấy ta đã gặp trong ca dao, nỗi thương nhớ của người con gái. Đèn chẳng biết vì ngọn đèn vô tri đâu có thể an ủi được nàng. “Chẳng” được lặp lại nhiều lần ngoài ý phủ định sự tồn tại của chim thước còn nhấn mạnh nỗi vô vọng, cô sầu của người chinh phụ.

Hỏi là để kiếm tìm sự tri âm, kiếm tìm mối đồng cảm. Nhưng ngọn đèn lại không thể thấu tỏ nỗi cô đơn của nàng. Ba lần từ “chẳng” xuất hiện là 3 lần nhân vật trữ tình rơi vào sự thất vọng, tuyệt vọng, vô vọng của nỗi buồn đau, cô lẻ. Nhưng càng thất vọng, tuyệt vọng, khao khát được sẻ chia lại càng mạnh mẽ.

Người chinh phụ đành trở về, thấm thía nỗi vô vọng của mình. Bóng người là hình ảnh người thiếu phụ mà ngọn đèn hắt in lên. Hình ảnh thơ gợi về sự lụi tàn, héo úa, mòn mỏi suốt canh dài. Những hình ảnh thẩm mĩ giúp truyền tải sự lẻ loi, thao thức ngóng trông. Bóng người còn gợi đến chiếc bóng của Vũ Nương, khi xa chồng còn có bé Đản là niềm an ủi. Còn người chinh phụ thì vò võ đêm dài, không người an ủi, còn cách nào khác ngoài trò chuyện với ngọn đèn, trò chuyện với chính mình.

Từ hình ảnh chiếc bóng, ta cũng hình dung ra tâm trạng Thúy Kiều khi tiễn Thúc Sinh:

“Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”

Thương cho đèn cũng là thương cho mình, hai đối tượng vừa khác biệt vừa đồng nhất. Do vậy, những uẩn ức trong lòng chỉ mình nàng biết, chỉ mình nàng đau. Những chữ “biết”, “bị thiết”, được láy lại đã cực tả cảm giác cô đơn. Điều đó cũng khẳng định tài của dịch giả trong sự chuyển hóa và hiện thực hóa tâm trạng nhân trữ tình qua lớp ngôn từ giàu tính biểu cảm. Những sáng tạo về hình ảnh thơ của Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn còn thể hiện niềm xót thương vô hạn, bản cáo trạng đanh thép những tội ác mà chiến tranh phi nghĩa gây ra.

Nỗi sầu muộn triền miên của người chinh phụ xuyên qua cả không gian, thời gian:

“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”

Những câu thơ hướng về ngoại cảnh còn là những câu thơ diễn tả nội tâm. Đêm nghe tiếng gà eo óc là âm thanh của tâm trạng, được lắng qua tâm tư nhức nhối, bức xót của nhân vật trữ tình suốt năm canh. Ngắm nhìn bóng hòe không phải là thời gian nhàn rỗi mà đó là hình ảnh người chinh phụ đang đếm từng thời khắc trôi đi.

“Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”

Người chinh phụ có những cảm nghĩ về thời gian thật đặc biệt. So với nguyên tác, Đoàn Thị Điểm đã sáng tạo thêm những láy từ biểu cảm, một thời khắc đợi chờ dài tựa cả năm, mối sầu miên man tựa biển khơi được tâm lí hóa. Mối sầu hiện lên nặng trĩu, đằng đẵng, dằng dặc đến khôn nguôi, ôm trùm cả không gian. Trong trạng thái cô đơn sầu muộn, người chinh phụ gắng gượng để thoát khỏi sự cô đơn:

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”

Những gắng gượng để vượt thoát sự cô đơn rốt cuộc cuộc cũng chìm vào bi kịch. Đốt hương để căn phòng thêm ấm áp, xua tan sự giá lạnh. Gượng soi gương để tìm kiếm hình ảnh khác. Tìm đến tiếng đàn để cho lòng khuây khỏa. Thế nhưng, mọi nỗ lực của người chinh phụ dường như không được như mong muốn. Khi đốt hương thì càng chìm vào nỗi sầu miên man. Soi gương lại càng thấm sâu hơn tâm trạng cô đơn.

Gắng đánh đàn nhưng ngón đàn không thể vang lên, lo sợ dây đứt phím chùng- dấu hiệu không may mắn trong tình chồng vợ. Người chinh phụ xuất hiện sau khi tiễn chồng ra trận đã thấm thía cảm giác chờ đợi đến mòn mỏi và nỗi cô đơn đến héo úa tâm hồn trong tình cảnh lẻ loi. Sau trạng thái bế tắc đến cao độ, âm điệu của những câu thơ trở nên nhẹ nhõm, cảm xúc thơ tươi sáng hơn. Tứ thơ, cảm xúc thơ như vùng dậy khỏi căn phòng bé nhỏ đề hòa điệu với thế gian:

“Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.”

Lòng này hay nghìn vàng để nói về tấm lòng tha thiết, trần quý đáng giá nghìn vàng. Điệp từ “gửi” bộc lộ sự tha thiết, khát vọng mãnh liệt của người chinh phụ những mong được sẻ chia cùng chồng. Niềm thương nỗi nhớ của người chinh phụ gửi đến núi Yên Nhiên xa xôi thuần túy mang tính ước lệ, không phải nơi người chồng đang chinh chiến mà gợi không gian xa xôi, cách trở, rợn ngợp, heo hút:

“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi”

Nơi mà người ra chiến trận không biết ngày trở về, để lại nơi quê nhà bao người phụ nữ đã hóa vọng phu. Cái không gian xa vời mà nỗi nhớ phải đi qua tiếp tục được khắc họa. Đó là sự xa cách vô hạn của nỗi nhớ, sự xa cách tình chồng vợ giữa chinh phu và chinh phụ khiến nỗi nhớ nhung chìm vào vô vọng.

Nỗi nhớ khi thì thăm thẳm, lúc thì dàn trải được so sánh với đường lên bằng trời. Nỗi nhớ vô hạn, mênh mông, không thể đến đích, không thể đền đáp, không dễ gì đo đếm. Tác giả đã cụ thể hóa và hình tượng hóa nỗi nhớ triền miên, vô tận, choán đầy tâm trí, choáng ngợp không gian, vừa da diết, giằng xé, vừa giày vò tâm trí người chinh phụ. Trời đất thì khôn cùng, nỗi nhớ cũng khôn cùng, suy tưởng thì có hạn, người chinh phụ đành trở về để đối mặt với thực tại:

“Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”

Trở về, hướng ra ngoại cảnh nhưng tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, thiên nhiên cũng thấm đẫm nội tâm con người. Những yếu tố ngoại cảnh soi chiếu vào nhau, cái buồn như dâng lên ở mọi phía, người chinh phụ nhỏ bé càng thêm cô độc, thiểu não.

Đoạn trích đã thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc của người chinh phụ. Trong chuỗi ngày lẻ bóng cô đơn, nàng lo cho chồng, thương cho mình, đau xót cho tình cảnh dở dang, tương lai mù mịt tăm tối. Nghệ thuật nổi bật trong bài thơ là bút pháp tả cảnh ngụ tình, điệp từ, sử dụng nhiều từ ngữ giàu giá trị biểu cảm.

Không chỉ có ý nghĩa về giá trị thẩm mĩ, tác phẩm còn thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả khi lên tiếng tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã hủy hoại cuộc sống hạnh phúc của con người, đề cao khát vọng về tình yêu chân chính. Cùng với “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều, “Tự tình” của Hồ Xuân Hương, “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn sẽ là viên ngọc tỏa sáng mãi trong nền văn học dân tộc với đề tài về người phụ nữ.

SCR.VN chia sẻ 🌼 Phân Tích 8 Câu Đầu Bài Tình Cảnh Lẻ Loi 🌼 13 Mẫu Phân Tích Chinh Phụ Ngâm Cực Hay

Phân Tích Chinh Phụ Ngâm Học Sinh Giỏi – Mẫu 5

Tham khảo bài văn phân tích Chinh phụ ngâm học sinh giỏi dưới đây với những nội dung nghị luận văn học chuyên sâu.

Chiến tranh đã qua đi từ rất lâu nhưng những câu chuyện, tàn dư vẫn còn kéo dài mãi đến tận hôm nay. Những bài học lịch sử. những giai thoại văn học vẫn nhuốm đầy mùi đau thương. Tôi chợt nhớ đến người chinh phụ – chinh phu trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn. Người chinh phụ ngày nhớ đêm mong người chồng nơi chiến trường đã ngậm ngùi thốt lên những lời ngâm xót xa. Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ ấy đột nhiên làm tôi giật mình xót thương…

“Chinh phụ ngâm” có thể nói là một tác phẩm nổi tiếng của Đặng Trần Côn được Đoàn Thị Điểm dịch (bản dịch trong sách Ngữ văn 10). Tác phẩmlà lời độc thoại nội tâm của người vợ có chồng tham gia cuộc chiến do triều đình phong kiến khởi xướng. Người vợ đã khuyên chồng ra phò vua giúp nước mong muốn gây dựng công danh.

Tuy nhiên khi tiễn đưa người chồng đi rồi người vợ nơi quê nhà cô quạnh nhớ thương, khúc ngâm là những nhớ thương, tưởng tượng của người vợ về hình ảnh chồng nơi chiến trường. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” diễn tả tâm trạng trăn trở, lo lắng của người chinh phụ khi đã quá hạn mà chồng vẫn chưa về, nàng gửi trọn tất cả niềm nhớ vào cảnh vật, vào từng hành động mỗi ngày.

Chúng ta đều biết những người yêu nhau sẽ luôn muốn ở cạnh nhau, đặc biệt là khi mới vừa lập gia đình. Và người chinh phụ cũng không ngoại lệ, tình cảm vợ chồng chưa bao lâu mà chàng đã phải ra chiến trường. Ngày đưa tiễn, nàng dặn lòng sẽ chờ nhưng rồi trở về căn phòng trống vắng chỉ có cảnh không còn người, nàng tự trách, tự hỏi cớ sao đôi lứa phải chia lìa nhau? Bao nhiêu nỗi cô đơn, buồn tủi, than trách tuôn trào khi phải chịu cảnh lẻ loi…

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước”

Cứ ngỡ “dạo hiên” ấy nàng đang thảnh thơi chẳng lo nghĩ nhưng thực chất là đang lo lắng, bồn chồn, lòng chẳng yên. Nàng đi đi lại khắp hiên nhà như để giết thời gian đang chậm chạp trôi qua:

“Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen
Ngoài rèm thước chẳng mách tin”

Tấm rèm được kéo lên rồi lại buông xuống như tâm trạng đang rối như tơ vò, day dứt, bồn chồn của nàng. Nếu dạo hiên thì “hiên vắng” – sự cô đơn, lẻ bòng thì khi ngồi trước rèm nàng lại chọn rèm thưa, tại sao? Bởi lẽ chỉ thưa nàng mới có thể mong ngóng tin chồng trở về, nàng hy vọng mong manh rằng qua chút khe hở ấy có thể thấy bóng dáng người chồng thân thương. Tâm trạng u uất, chất chứa nhưng chẳng một ai để chia sẻ, người chinh phụ như tự nhốt mình vào thế giới riêng:

“Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”

Chinh phụ ngồi trước đèntâm sự với ngọn đèn nhưng cũng chính là tự nàng độc thoại với nỗi lòng. Nàng cô độc, nàng khao khát mãnh liệt sẽ có người cùng trò chuyện, cùng lắng nghe tâm tư của nàng nhưng sao mờ mịt, không gian vắng lặng vẫn chỉ một mình nàng. Cuối cùng nàng mượn đèn để gửi gắm nỗi lòng của mình. Ta đã từng thấy hình ảnh đèn xuất hiện nhiều trong ca dao như “Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt?”

Ngọn đèn tượng trưng cho nỗi nhớ, cho những đêm thức trọn mong chờ tin của người ở lại đối với người phương xa. Nhưng càng hỏi người chinh phụ càng lui vào bế tắc, ngọn đèn ấy vốn dĩ chỉ là vật vô tri vô giác làm sao hiểu được? Nàng càng tủi cho phận mình “Hoa đèn kia với bóng người khá thương” – tự xót thương, tự hờn trách thân mình bẽ bàng, cô liêu giữa đêm khuya tĩnh mịch. Người chinh phụ giờ chỉ còn là “bóng người” tàn lụi như hình ảnh hoa đèn lụi tàn khi ngọn dầu đã cạn, một nỗi trống trải, một thân xác không còn sức sống.

Người ta nói “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” có lẽ là đúng! Khi tâm trạng chinh phụ đang trào dâng thì cảnh vật quanh nàng dường như càng sầu bi hơn:

“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gãy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.”

Tiếng gà gáy “eo óc” gợi sự thê lương, sầu thảm. Hòe trong đêm chẳng buồn khoe sắc mà xuôi bóng ủ rủ. Cảnh vật bên ngoài nhuốm màu tang thương, vô hồn càng làm cho người chinh phụ thêm lẻ loi, tủi thân. Nàng ngóng trông chỉ mong khắc giờ trôi qua thật nhanh nhưng thời gian cứ trôi chậm chạp, cứ kéo dài “đằng đẳng” khiến nỗi sầu cũng dày thêm, như một tiếng thở dài buông thả cho tất cả. Một giờ với nàng như một năm dài triền miên, nỗi sầu nhớ chồng thì gửi tận miền biển xa, sâu rộng không bờ bến.

Nghệ thuật so sánh dường như tô đậm, khắc họa rõ hơn, sâu hơn nỗi nhớ bao trùm lên cả thời gian, không gian của người chinh phụ. Nàng cô đơn giữa màn đêm, nàng “gượng” người làm những hành động quen thuộc để giết chết thời gian nhưng dường như không còn tâm trí. Nàng đốt hương để tìm chút lòng thanh thản nhưng càng mê mải, chìm đắm trong mộng mị.

Nàng soi gương thì “lệ lại châu chan” – nỗi buồn rơi vào cực điểm. Nàng gãy đàn, mượn tiếng đàn để giải tỏa nỗi lòng nhưng buồn thay dây đứt, phím chùng – khát khao hạnh phúc bỗng chốc như điềm báo gở, nàng lại âu lo, lại suy nghĩ và buồn sầu hơn. Thực chất ta thấy người chinh phụ khi thực hiện những hành động ấy đều là “gượng” – tự ép bản thân lừa dối cảm xúc nên sầu càng thêm sầu, tự mình nhốt mình trở lại với tâm trạng chán chường, mệt mõi.

Mười sáu câu đầu, hình ảnh người chinh phụ hiện lên lẻ loi, cô đơn với nỗi nhớ thương sâu nặng đến mức nàng quên mất thực tại, chìm vào chiêm bao. Cũng đúng thôi, người vợ nào chẳng thế khi bóng dáng người chồng cứ mù mịt, bặt tin suốt ngần ấy năm…

Nếu những dòng thơ đầu hình ảnh người chinh phụ hiện lên với từng nỗi nhớ chỉ thoáng thấy qua cảnh vật thì tám câu cuối nỗi nhớ đã tuôn trào, bật ra thành tiếng, thành hình. Chinh phụ đem nỗi nhớ ấy gửi cho gió đông, nhờ gió đem đến cho người chồng của mình nơi chiến trường:

“Lòng này gửi gió đông có tiện
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên”

Người chinh phụ giờ vẫn bặt vô âm tín, nàng chỉ biết chàng ở biên ải xa xôi mà chỉ có gió mới giúp nàng mang nhớ thương gửi đến nơi chàng. Nỗi nhớ dày hơn, nhạy hơn khi nhịp thơ, điệp từ liên tục lặp lại, đồn dập, tha thiết:

“Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.”

Từ láy gợi độ sâu, độ rộng của nỗi nhớ xuất hiện liên tục “thăm thẳm”, “đau đáu” – thời gian, không gian lúc này như một đơn vị để đo lường cho nỗi nhớ. “Thăm thẳm đường lên bằng trời” – có ai biết đường lên trời ấy dài bao nhiêu? Nỗi nhớ cứ kéo dài mãi không biết là bao lâu, bao xa, thậm chí chuyển sang hòa vào trời xanh rộng lớn.

Nếu thời gian là độ dài của nỗi nhớ, không gian là độ rộng thì lòng chinh phụ chính là độ sâu của nỗi nhớ. “Đau đáu” là khát vọng nhưng cũng chính là vô vọng, bao nỗi nhớ nhờ gió gửi tận trời cao nhưng đổi lại chỉ là sự lo sợ rằng chàng nơi biên cương liệu có biết lòng nàng đang ngày đêm mong nhớ? Và nếu biết có lẽ chàng đã trở về…

Nhớ thương gửi trọn vào cảnh vật, tâm trạng con người cũng hòa chung vào cảnh vật. Người chinh phụ nhìn cảnh vật mà chạnh lòng hay ta tự hỏi chính lòng chinh phụ đang sầu nên nhìn cảnh chỉ nhuốm màu đau thương? “Cảnh buồn người thiết tha lòng” hay lòng người gieo rắt nỗi sầu cho cảnh? Có lẽ chỉ lòng người chinh phụ mới hiểu rõ. Hay lòng nàng giờ đã buốt giá:

“Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”

Đêm đã vê khuya, sương rơi thấm đẫm những cành cây trong đêm, thấm cả tâm hồn đã nguội của chinh phụ, làm tâm hồn nàng trở nên giá buốt hơn. Tiếng côn trùng bật lên trong đêm càng gợi sự cô quạnh, nhưng cũng chính là tiếng lòng nàng đang rung lên hồi chuông buông xuôi bất lực, Nỗi sầu nhớ lúc này hòa vào tiếng mưa, vào tự nhiên, lẫn vào âm thanh sầu thảm của đêm tối. Con người, tâm trí nàng đã tan theo làn mưa đêm…

Thiết nghĩ để khắc họa hình ảnh người chinh phụ cùng nỗi nhớ sâu nặng ấy tác giả đã rất tinh tế trong việc lựa chọn từ ngữ, hình ảnh. Từng từ như ghim vào tâm can người đọc, từng hình ảnh như vẽ ra một chinh phụ “dạo bước hiên vắng”, “gượng gãy ngón đàn”,… Kết hợp với nhịp thơ dào dạt của thể thơ song thất lục bát càng làm người đọc như cuốn vào từng cung bậc cảm xúc, trôi theo tâm trạng của người chinh phụ.

Bút pháp nghệ thuật tài hoa, ngôn từ giản dị mà sâu sắc, cảnh – tình như hòa trộn vào nhau, điều này đã giúp tác giảthành công trong việc chiếm trọn cảm xúc của độc giả. Người chinh phụ ấy khao khát sự đồng cảm mãnh liệt nhưng đến cuối cùng vẫn chỉ một mình.

Nàng còn quá trẻ, nàng vẫn còn sự nồng cháy trong tình yêu đôi lứa, mặn nồng của hạnh phúc vợ chồng, Ấy thế mà chiến tranh đã cướp đi điều tưởng chừng đơn giản đó để rồi bỏ lại nàng cô đơn, lẻ bóng, ngóng trông tin người thương trong vô vọng. Mượn hình ảnh người chinh phụ không chỉ để nàng nói lên nỗi nhớ thương, tình cảnh lẻ loi mà qua đó còn là tiếng nói lên án chiến tranh phi nghĩa, đấu tranh đòi quyền hạnh phúc lứa đôi trong tình yêu. Và quan trọng là khát khao được sống hạnh phúc giữa thời bình.

Khép lại bài thơ nhưng hình ảnh người chinh phụ ngồi trước gương lệ châu chan vẫn cứ ám ảnh tâm trí tôi mãi. Tôi thương nàng, thương cho số phận lẻ bóng, thương cho kiếp phụ nữ đang ở lứa tuổi xuân thì đã chịu cảnh đơn chiếc. Giật mình, tôi chợt nghĩ có lẽ xã hội phong kiến còn rất nhiều nữa những người chinh phụ như nàng. Những suy nghĩ cho số phận của họ cứ thường trực trong tôi…

“Khắc giờ đằng đẳng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”

SCR.VN tặng bạn 💧 Phân Tích 12 Câu Đầu Tình Cảnh Lẻ Loi 💧 8 Bài Văn Hay

Phân Tích Đoạn Trích Chinh Phụ Ngâm Đặc Sắc – Mẫu 6

Đón đọc bài văn phân tích đoạn trích Chinh phụ ngâm đặc sắc dưới đây để trau dồi cho mình những ý văn hay và sinh động.

Trong nửa đầu thế kỉ XVIII, trước tình cảnh rối ren, loạn lạc cùng những cuộc nội chiến diễn ra liên miên khiến nhiều gia đình rơi vào bi kịch chia li, tác phẩm “Chinh phụ ngâm” ra đời đã tái hiện thành công nỗi khát khao hạnh phúc của con người, đồng thời thể hiện tiếng nói lên án đối với những cuộc chiến tranh phi nghĩa. Trích đoạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã diễn tả nhiều cung bậc trạng thái cảm xúc khác nhau của người chinh phụ.

Nỗi niềm tâm trạng của người chinh phụ được khắc họa qua ngoại cảnh với hiên vắng, rèm thưa:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

Hình ảnh “hiên vắng” – không gian vắng vẻ, tịch liêu và sự cô lẻ của lòng người cùng căn phòng chật hẹp, tù túng “trong rèm, ngoài rèm”. Các tính từ vắng, thưa gợi sự trống vắng, quạnh hiu. Thời gian đêm khuya được gợi lên từ hình ảnh ngọn đèn – tín hiệu quen thuộc tăng thêm sự hoang vắng, rợn ngợp của không gian.

Đêm khuya là khoảng thời gian con người đối diện với tiếng lòng sâu thẳm nhất của lòng mình. Với biện pháp ngụ tình đặc sắc kết hợp biện pháp đối lập, những câu thơ đã thể hiện âm điệu tha thiết, buồn thương, tâm trạng cô đơn của người chinh phụ đã thấm vào cảnh vật.

Trong tâm trạng đó, nàng chỉ biết “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước”. Đó là hành động thể hiện trạng thái lặp đi lặp lại, nhấn mạnh sự bồn chồn, lo lắng. Tác giả đã sử dụng nhịp thơ chậm rãi, khoan thai để tái hiện bước đi âm thầm, lặng lẽ, nặng nề, chất chứa đầy tâm trạng của người chinh phụ. Và rồi, nàng hết buông rèm xuống lại kéo lên nhiều lần.

Qua những hành động lặp đi lặp lại đó, chúng ta có thể thấy được tâm trạng bồn chồn, khắc khoải không yên thường trực, quẩn quanh trong tâm hồn người chinh phụ. Ngày ngày, nàng ngồi bên chiếc rèm thưa, trông ra bên ngoài ngóng chờ tin chim thước: “thước chẳng mách tin” , cũng là mong tin chồng nhưng không có hồi âm. Đặc biệt, tác giả đã sử dụng thành công biện pháp nghệ thuật ẩn dụ thông qua hình ảnh ngọn đèn:

“Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết”

Hình ảnh ngọn đèn là một tín hiệu thẩm mĩ quen thuộc để khắc họa nội tâm của nhân vật trữ tình. Trong ca dao, chúng ta đã bắt gặp nỗi nhớ thương của cô gái được gửi gắm thông qua chi tiết ngọn đèn: “Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt”. Ở đây, người chinh phụ đối diện với ngọn đèn trong đêm cô quạnh, trong lòng nàng vang lên câu hỏi tu từ tha thiết: “Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”. Và rồi, nàng tự trả lời trong sự bế tắc: “Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”.

Câu hỏi tu từ “đèn biết chăng” nhấn mạnh nỗi nhớ da diết khắc khoải trong sự xót xa. Đồng thời, điệp ngữ bắc cầu “đèn biết chăng – đèn có biết” đã nhấn mạnh sự cô đơn, chán chường, tuyệt vọng đến khôn cùng của người chinh phụ.

Dường như không thể kìm nén được nỗi đau, nàng đã trực tiếp bộc lộ nỗi niềm: “Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi / Buồn rầu nói chẳng nên lời”. Đó là nỗi cô đơn, sầu tủi đến bi thương, thảm thiết không nói nên lời của người chinh phụ, chỉ riêng mình nàng biết và chịu đựng. Nỗi đau “buồn rầu” như cứa vào trái tim đang tê tái của nàng.

Dường như, càng gắng gượng vượt thoát khỏi nỗi cô đơn thì người chinh phụ càng chìm sâu vào bi kịch tâm trạng đó:

“Hương gượng đốt hồn đà mê sải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Duyên ương kinh đứt, phím loan ngại chùng.”

Động từ “gượng” thể hiện hành động đầy gượng gạo được điệp lại ba lần đã nhấn mạnh nỗi cô đơn, sầu tủi không lối thoát của người chinh phụ. Nàng cố đốt hương để tìm kiếm lại hương vị hạnh phúc lứa đôi nhưng “hồn càng mê mải” – tâm trạng càng chìm đắm mê man trong nỗi buồn; gượng soi gương để sửa soạn lại nhan sắc nhưng “lệ lại châu chan”, không thể ngăn được dòng lệ tuôn rơi vì xót xa tủi phận.

Nàng gảy đàn nhưng nỗi sầu lại càng thêm chồng chất và lo sợ những điều chẳng lành về hạnh phúc lứa đôi: “phím loan ngại chùng”. Dù tâm trạng xoáy sâu vào bi kịch của sự cô đơn, của những dự cảm chẳng lành nhưng nàng vẫn một lòng hướng về người chinh phu nơi biên ải xa xôi với sự trông ngóng, mong chờ:

“Lòng này gửi gió đông có tiện
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên

Cánh buồm người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”

Không gian ngoại cảnh được mở rộng theo chiều kích cao rộng của miền non Yên, gợi nên khoảng cách địa lí xa xôi. Đồng thời, đó cũng chính là không gian tràn ngập nỗi nhớ trong tâm tưởng của nhân vật trữ tình. Tác giả đã sử dụng hàng loạt từ láy như “thăm thẳm”, “đau đáu”, “thiết tha” kết hợp cùng biện pháp điệp ngữ: “non Yên – non Yên”, “đường lên bằng trời – trời thăm thẳm” để nhấn mạnh nỗi đau đớn khôn nguôi cùng nỗi sầu tủi luôn thường trực trong tâm hồn người chinh phụ.

Lúc này, cảnh vật cũng mang nặng tâm trạng và chất chứa sự buồn thương: “cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun”. Bút pháp tả cảnh ngụ tình – một trong những bút pháp đặc trưng của thơ ca trung đại đã được tác giả vận dụng thành công để khắc họa nỗi lòng của nhân vật.

Đối diện với không gian tĩnh mịch, tịch liêu, dường những giọt sương đêm không chỉ thấm đẫm cành cây kẽ lá mà còn thấm đượm cả tâm hồn giá buốt của nàng. Tiếng côn trùng được khắc họa qua bút pháp “lấy động tả tĩnh” đã nhấn mạnh sự cô quạnh, hiu hắt của cảnh vật. Phải chăng đó cũng chính là tiếng lòng yếu đuối đang vang lên trong sự sầu tủi bất lực của nàng. Tâm trạng sầu thảm của nàng đã hòa cùng tiếng mưa và cảnh vật.

Như vậy, thông qua việc sử dụng những hình ảnh ước lệ tượng trưng, bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã tái hiện thành công bức tranh tâm trạng đầy phức tạp nhưng thống nhất của người chinh phụ. Các cung bậc khác nhau của nỗi nhớ đã được khắc họa một cách sinh động nhưng đều thể hiện tiếng lòng thiết tha của trái tim người phụ nữ thủy chung, khao khát hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình.

Qua đó, chúng ta có thể thấy được tiếng nói đồng cảm, xót thương của tác giả đối với bi kịch của người phụ nữ cùng sự lên án, phê phán những cuộc chiến tranh phi nghĩa trong thời buổi xã hội phong kiến rối ren, loạn lạc.

Tiếp theo đón đọc 🌹 Phân Tích 8 Câu Giữa Bài Tình Cảnh Lẻ Loi 🌹 10 Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Bài Chinh Phụ Ngâm Chi Tiết – Mẫu 7

Bài văn phân tích bài Chinh phụ ngâm chi tiết dưới đây sẽ giúp các em học sinh nắm vững những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Chiến tranh – hai từ nghe sao mà đau thương, nó đã để lại bao hậu quả, về sự chia li, sự mất mát. Từ thời xa xưa, chiến tranh luôn xảy ra vì muốn giành lại độc lập hoặc xâm chiếm. Dù vì mục đích gì, nó đã làm cho bao gia đình đau khổ trong cảnh chia li, từng ngày ngóng trông lo lắng.

Hiểu được nỗi lòng đó, ở thế kỉ XVIII, tác giả Đặng Trần Côn đã sáng tác bài thơ “Chinh phụ ngâm” về sự mất mát, cô đơn của người phụ nữ, gia đình có chồng đi lính. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã làm nổi bật lên nỗi buồn, lẻ loi, ngày ngày lo lắng cho chồng, và mong rằng có một tương lai hạnh phúc.

Mở đầu đoạn trích, người đọc đã có thể cảm nhận ngay được một bóng hình lẻ loi, cô đơn trong một không gian tĩnh mịch, yên ắng:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”

Các câu thơ không có một từ chỉ người nhưng ta có thể cảm nhận ngay ra một hình ảnh người phụ nữ quá lẻ loi, cô độc trong cảnh đêm “hiên vắng”. Nàng đi đi lại lại, từng bước, từng bước, của sự lo lắng, trông mong.

Những hành động luôn vô thức lặp lại, buông rèm, rồi kéo rèm, nàng hướng ra xa, lòng nàng từng giờ phút chỉ hướng tới chồng mình, trông tin lành. Nhịp thơ chậm, đều đều, như ngưng tụ lại, hình ảnh hiện lên thật rõ nét, sự sáng tác ấy đã mang lại sự đồng của người đọc. Với câu hỏi tu từ, nàng thực muốn biết tin tức của chồng ra sao, lòng bồn chồn khắc khoải với những câu hỏi không có lời đáp.

Nỗi cô đơn ấy, có ai hiểu cho nàng, nàng mong muốn được chia sẻ, nàng chỉ có thể chia sẻ với những vật vô tri, vô giác:

“ Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiếp mà thôi
Buồn rầu chẳng nói nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Trong cảnh đêm tĩnh mịch, còn mỗi ngọn đèn kia làm bạn, nàng hỏi, như để tự trấn an lòng mình. Nhưng càng đối mặt với ngọn đèn, thì nàng chỉ thấy hiện rõ lên hình bóng lẻ loi của bản thân, nàng càng nhận ra “lòng thiếp riêng bi thiếp mà thôi”, rằng chẳng ai, ngoài nàng, đang bị sự cô đơn gặm nhấm từng giây, từng giờ. Hình ảnh ngọn đèn được sử dụng nhiều trong văn thơ, và hình ảnh ẩn dụ của ngọn đèn trong đoạn trích này đang soi lòng của người phụ nữ trông mong chồng, một nỗi buồn rầu đến thương cảm.

Dường như nỗi cô đơn của người chinh phụ đã dần thấm trong từng không gian:

“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”

Tiếng gà gáy đến eo óc, bóng cây hòe rủ phất phơ trong đêm. Ở đây, tác giả đã sử dụng biện pháp tả cảnh ngụ tình, cảnh vật nhuốm màu bi thương vô tận khó mà nắm bắt. Không chỉ về cảnh vật, thời gian của nàng như càng chậm trôi:

“Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền ải xa”

Từng câu thơ thấm đầy tâm trạng. Với từ láy “đằng đẵng” kết hợp với “ dằng dặc” đã làm nổi bật len một nỗi buồn không chỉ kéo dài, mà còn nặng trĩu. Tác giả đang nhấn mạnh thêm về mặt thời gian cũng như không gian, so sánh một giờ bằng một năm, mối sầu bằng biển lớn mênh mông với hai từ láy, như cho thấy tiếng thở dài đáng thương của người thiếu phụ đắm chờ chồng.

Người phụ nữ ấy đang chiến đấu từng giờ với sự cô đơn:

“Hương gượng đốt hồn đà mê sải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Duyên ương kim đứt, phím loan ngại chùng.”

Điệp từ “gượng” được lặp lại tới ba lần, một từ chỉ sự hành động đầy ngượng ngạo, cố gắng làm một cái gì đó. Nỗi buồn của nàng dường như rơi vào đỉnh điểm. Cố đốt hương, rồi chính nàng mê sảng, không tỉnh táo được. Gượng soi gương để chỉnh lại nhan sắc, mà giọt lệ lại càng châu chan. Nàng gảy đàn, mà lòng sợ kim đứt, rồi bao kỉ niệm lại ùa về. Cứ tưởng làm việc gì đó để quên đi nỗi buồn, nhưng không nỗi sầu ấy lại càng thêm chồng chất.

Sống trong sự cô đơn, lo lắng vậy, nhưng lòng nàng vẫn luôn hướng về miền đất xa xôi kia, luôn gìn giữ tấm lòng thủy chung của mình:

Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

Không gian dường như được mở rộng hơn, xa hơn đến tận núi Non Yên. Nàng gom lại những nỗi nhớ, lòng yêu thương sâu sắc tận tâm mình, nhờ gió đông gửi tới cho người biên ải xa xôi. Một hình ảnh ước lệ đã gợi lên khoảng cách địa lí giữa hai con người, nỗi nhớ tràn ra cả không gian rộng lớn, kết hợp với hình ảnh hơi khoa trương về nỗi nhớ nhung rằng nó dài đằng đẵng, và rồi dường như chỉ có kích thước của vũ trụ ấy mới đo được lòng nàng vậy.

Giữa cảnh người và vật có sự tương đồng bởi “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Người chinh phụ nhìn cảnh vật bằng đôi mắt chất chứa buồn thương. Các câu thơ dù đi từ tả tâm trạng đến tả cảnh hay ngược lại thì ta càng thấy sự luẩn quẩn trong lòng người phụ nữ cô đơn, lẻ loi. Từ láy “thiết tha” cho thấy sự dai dẳng không thôi, nó đeo bám người chinh phụ, như muốn cắt da cắt thịt bằng nỗi nhớ mong ấy. Cảnh vật càng cây, sương, mưa, các hình ảnh đều bé nhỏ, mong manh cũng như nàng vậy, khiến nàng càng thêm sầu não.

Dưới ngòi bút của mình, tác giả đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật trong việc diễn tả tâm trạng của người chinh phụ. Ông đã sử dụng các từ láy rất độc đáo kết hợp với biện pháp điệp ngữ, khéo léo trong việc lấy hình ảnh ẩn dụ, các bút pháp ước lệ tượng trưng. Đặc biệt, ông đã rất thành công trong việc “tả cảnh ngụ tình” đã làm nổi bật các cung bậc cảm xúc của người phụ nữ. Thể thơ song thất lục bát với âm điệu réo rắt đã khiến cho người đọc không khỏi đồng cảm, yêu thương người chinh phụ nhiều hơn.

Những vần thơ trong đoạn trích đã vẽ lên một nỗi buồn tâm can của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Qua đó, tác giả muốn lên án tố cáo chiến tranh phong kiến đã làm phá hủy hạnh phúc lứa đôi của con người, đồng thời ông muốn khẳng định quyền được hạnh phúc của con người. Ông đồng cảm với người phụ nữ và luôn mong muốn họ cũng có được hạnh phúc, cho thấy ông là một người có một tư tưởng nhân đạo thật sâu sắc: yêu thương, trân trọng con người.

Đọc nhiều hơn dành cho bạn ☀️ Cảm Nhận Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 16 Câu Đầu ☀️ Tuyển Tập Đặc Sắc

Phân Tích Bài Thơ Chinh Phụ Ngâm Khúc Đầy Đủ – Mẫu 8

Tham khảo bài phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm khúc đầy đủ dưới đây để củng cố lại cho mình những kiến thức xoay quanh tác phẩm.

Chinh phụ ngâm nguyên văn bằng chữ Hán, do Đặng Trần Côn sáng tác. Bản Nôm hiện hành, nhiều ý kiến thống nhất, là của dịch giả Đoàn Thị Điểm. Trước cảnh chiến tranh liên miên đầu thế kỉ XVIII, cảm động trước thời thế, Đặng Trần Côn đã viết Chinh phụ ngâm.

Qua nỗi niềm và tâm trạng cô đơn, tủi hờn của người chinh phụ, tác phẩm đã nói lên sự oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là thể hiện tâm trạng khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. Bản dịch đã thể hiện tài năng của tác giả và dịch giả trong việc thể hiện những trạng thái tâm lí vô cùng tinh tế và phức tạp của người vợ nhớ chồng.

Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh quyền quý, nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập công danh nơi yên ngựa và trở về trong cảnh vinh hoa. Thấm nỗi cô đơn lẻ loi, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang đi qua và hạnh phúc lứa đôi ngày càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn cùng cực. Khúc ngâm thể hiện tâm trạng cô đơn ấy của người chinh phụ. Đoạn trích miêu tả tâm trạng lẻ loi của người chinh phụ trong cảnh chờ chồng.

Đầu đời Cảnh Hưng, chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê – Mạc đánh nhau đến Trịnh – Nguyễn kéo dài cuộc phân tranh, đất nước chia làm hai nửa dưới cái ngai vàng mục ruỗng, rồi khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh nồi da nấu thịt, loạn li chinh chiến, cha mẹ xa con, vợ xa chồng.

Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất thối nát, bộ mặt tàn bạo của chế độ phong kiến và nỗi đau khổ của con người – những nạn nhân của chế độ xã hội ấy. Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm của rất nhiều nho sĩ. Nhiều bản dịch Chinh phụ ngâm ra đời, trong đó bản dịch được cho là của Đoàn Thị Điểm là bản dịch thành công hơn cả vì dịch giả đã gặp được ở đó sự đồng cảm sâu sắc.

Hình tượng nổi bật của Chinh phụ ngâm là hình tượng người chinh phụ héo mòn trong trông ngóng chờ đợi. Người chinh phụ hiện lên trong khúc ngâm với ước vọng công hầu và khát khao hạnh phúc lứa đôi. Được nuôi dưỡng trong nền giáo dục Nho gia, người phụ nữ quý tộc phong kiến cũng từng mong ước, tự hào về hình ảnh một người chồng dũng mãnh:

Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc đao cung
Thành liền mong tiến bệ rồng
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

Thế nhưng sau những ngày mỏi mòn chờ chồng trong tuyệt vọng, nàng rơi vào tâm trạng cô đơn, tuyệt vọng và cất lời oán trách. Qua tâm trạng của người thiếu phụ, khúc ngâm là tiếng nói oán trách chiến tranh phong kiến đã giày xéo lên hạnh phúc lứa đôi.

Chinh phụ ngâm là một tác phẩm trữ tình, từ đầu đến cuối tác phẩm vẫn chỉ là tâm trạng của nhân vật trữ tình – người chinh phụ. Khúc ngâm được phát triển theo mạch tâm trạng và nỗi nhớ nhung của người chinh phụ. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã bao quát được những trạng thái tâm trạng của người chinh phụ. Nội tâm đầy biến động được diễn tả qua những từ ngữ chỉ ngoại hình, tả hành động, tả việc làm của người chinh phụ.

Người thiếu phụ trong Khuê oán của Vương Xương Linh vẫn vô tư trang điểm má hồng để lên lầu biếc ngắm cảnh xuân, chỉ khi ngắm màu dương liễu mới bừng tỉnh và nhận ra cảnh ngộ cô đơn của mình ; còn người chinh phụ này luôn chìm đắm trong nỗi cô đơn. Sự trông đợi mỏi mòn và vô vọng đã khiến nàng trễ nải cả việc điểm phấn tô son, công việc quan trọng nhất của người phụ nữ nơi gác tía lầu son như nàng:

Trâm cài xiêm thắt thẹn thùng,
Lệch vòng tóc rối, lỏng vòng lưng eo.

Nỗi đau buồn của người thiếu phụ trong cảnh đợi chồng đi chiến trận đã khiến nàng mất hết sức lực, như người mộng du trong ngôi nhà của mình:

Há như ai hồn say bóng lẫn,

Sự chờ đợi vô vọng đã khiến nàng tê liệt cả tinh thần. Với việc miêu tả dáng vẻ bề ngoài, tác giả đã lột tả được trạng thái tâm lí phức tạp trong nội tâm của người thiếu phụ. Người thiếu phụ hiện lên với vẻ mệt mỏi và buông xuôi, nỗi cô đơn đã giày vò cả tâm thần và thể xác của người thiếu phụ khiến nàng nhạt phấn phai hương.

Nỗi cô đơn bao trùm cả lên không gian và thời gian, ngày và đêm. Trong và ngoài căn phòng đều tràn ngập nỗi cô đơn. Chỉ có người thiếu phụ đối diện ngọn đèn, tình cảnh lẻ loi càng hiện rõ hơn. Cái vẻ lẻ loi tội nghiệp ấy hiện lên thật rõ ràng với hình ảnh:

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước

Giữa cái không gian tĩnh mịch của đêm, tiếng bước chân chậm rãi như gieo vào lòng người cái âm thanh lẻ loi cô độc. Puskin trên con đường mùa đông vắng vẻ, cô đơn hơn bởi tiếng lục lạc đơn điệu thì người chinh phụ cô đơn hơn khi nghe tiếng bước chân của mình. Nỗi đau đớn âm thầm nhưng quá lớn ấy khiến nàng khao khát có sự đồng cảm. Nhưng chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng mà thôi. Liệu ngọn đèn có thấu hiểu được không hay sức nặng của nỗi cô đơn, của sự nhung nhớ lại dồn cả lên nàng.

Ngọn đèn chỉ là vật vô tri vô giác, “có biết dường bằng chẳng biết”:

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

Cảnh vật không san sẻ mà cộng hưởng cùng nỗi sầu của người chinh phụ khiến nàng đau càng đau, sầu càng sầu. Nỗi chờ đợi ngày càng vô vọng. Dường như người thiếu phụ thức trắng cả năm canh và bị nỗi nhớ nhung giày vò:

Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.

Dịch giả đã sử dụng rất hợp lí những từ ngữ thuần Việt với những chữ như “eo óc”, “phất phơ”, những từ ngữ ấy dùng để tả cảnh nhưng đã chuyển tải được nỗi cô độc, buồn sầu của người thiếu phụ. Nó vừa gợi hình ảnh, vừa gợi tâm trạng. Dáng hoè phất qua bên nọ bên kia gợi nên hình ảnh người chinh phụ vật vã trong nhớ nhung giữa đêm khuya lẻ loi. Đếm từng khắc thời gian trôi đi chậm chạp, nhìn xung quanh thì bốn phía chỉ là cây hoè rủ bóng, nàng chìm ngập trong nỗi cô đơn.

Khi chờ đợi bao giờ thời gian cũng rất dài. Thuý Kiều trong tâm trạng đợi chờ Kim Trọng:

Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!
Giống như tâm trạng người chinh phụ chờ chồng:
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Thời gian cứ dài dằng dặc và không gian thì mênh mông vô tận, người chinh phụ nhỏ bé và đơn độc trước không gian và thời gian. Biết nỗi đợi chờ là vô vọng, nàng đã cố gắng để đưa mình ra khỏi nỗi cô đơn. Gắng gượng điểm phấn tô son, dạo đàn nhưng càng cố gắng vùng vẫy càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng.

Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, cũng nhìn thấy cảnh lẻ loi đơn chiếc. Soi gương thì nước mắt đầm đìa bởi nàng phải đối diện với gương mặt thanh xuân đang mỏi mòn dần và thì xuân sắc đang phũ phàng trôi qua. Khúc đàn loan phượng thì gợi nhớ cảnh chồng vợ chia lìa.

Nỗi đau đớn, tủi hờn của người chinh phụ thể hiện nỗi khao khát hạnh phúc lứa đôi chân chính. Với nỗi niềm cảm thông sâu sắc, tác giả và dịch giả đã thể hiện rất tinh tế và thành công nhưng trạng thái tâm lí phức tạp của người thiếu phụ, qua đó thể hiện thái độ của mình trước những cuộc chiến tranh, binh biến liên miên dưới chế độ phong kiến thế kỉ XVIII.

Tuy tác phẩm không nói rõ tính chất cuộc chiến tranh mà người chinh phu tham gia, song dựa trên những điều kiện lịch sử khi tác phẩm ra đời, có thể nhận thấy, đó không phải là cuộc chiến tranh vệ quốc, mà là cuộc chiến giành giật quyền lực của các tập đoàn phong kiến, những cuộc chiến phi nghĩa.

Dịch Chinh phụ ngâm, dịch giả đã chọn thể thơ song thất lục bát, một thể thơ dân tộc có khả năng lớn trong việc thể hiện tâm trạng của nhân vật, nhất là tâm trạng buồn đau, sầu muộn. Dịch giả đã dịch rất thanh thoát nội dung của nguyên tắc, thể hiện chân thực nỗi buồn của người thiếu phụ phương Đông, mãnh liệt, da diết nhưng kín đáo. Chinh phụ ngâm đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc của ngôn ngữ văn học dân tộc. Với tác phẩm này, tiếng Việt đã chứng minh khả năng diễn tả tư tưởng tình cảm một cách sâu sắc, tinh tế.

Với tấm lòng thương yêu và sự cảm thông sâu sắc với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ, tác giả và dịch giả cất lên tiếng kêu nhân đạo, tiếng kêu phản đối chiến tranh phi nghĩa. Thái độ phản chiến tuy không bộc lộ trực tiếp song lại rất mạnh mẽ. Chiến tranh đã cướp đi của con người hạnh phúc và tuổi trẻ, thậm chí cả mạng sống.

Vì một cuộc chiến, có biết bao người vợ phải xa chồng, phải giam mình trong nỗi cô đơn, buồn tủi như người chinh phụ kia. Có người đón chồng trở về khi tóc đã pha sương, nhưng đó còn là may mắn. Có người đau xót đón tin chồng không trở về sau những ngày mỏi mòn trông đợi.

“Vì ai gây dựng cho nên nỗi này” là lời oán thán nặng nề nhất trong Chinh phụ ngâm, lời ai oán không mạnh mẽ nhưng uất ức và oán trách. Đó là một trong những giá trị của Chinh phụ ngâm. Nhưng cao hơn cả, tác phẩm là sự tiếp nối xuất sắc cảm hứng nhân đạo của nền văn học dân tộc, một lần nữa, những khao khát hạnh phúc chính đáng của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến lại được ủng hộ. Đề tài về thân phận người phụ nữ lại được góp thêm một tiếng nói mới đầy sức mạnh nhân văn.

Tiếp theo đón đọc 🌹 Phân Tích 16 Câu Đầu Bài Tình Cảnh Lẻ Loi 🌹 13 Bài Văn Hay

Chinh Phụ Ngâm Lớp 10 Phân Tích Đơn Giản – Mẫu 9

Văn mẫu Chinh phụ ngâm lớp 10 phân tích đơn giản dưới đây sẽ giúp các em học sinh tham khảo những ý văn ngắn gọn và súc tích.

Tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của tác giả Đặng Trần Côn ra đời vào những năm 40 của thế kỉ XVIII – giai đoạn xã hội rối ren, nội bộ phong kiến mâu thuẫn, chiến tranh loạn lạc diễn ra khắp nơi đã diễn tả thành công bi kịch tinh thần cùng tiếng lòng nhớ thương da diết của những người phụ nữ có chồng ra trận.

Trích đoạn “Tình cảnh của người chinh phụ”, bản dịch của Đoàn Thị Điểm đã thể hiện rõ điều này. Bài thơ đã thể hiện rõ tâm trạng cô đơn sầu muộn của người phụ nữ có chồng ra trận, gián tiếp bộc lộ tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa và đề cao hạnh phúc lứa đôi của con người.

Trích đoạn mở đầu bằng dòng cảm xúc về nỗi cơ đơn, sầu tủi của người chinh phụ qua mười sáu câu thơ đầu. Trước hết, ở mười sáu câu thơ đầu tiên, tác giả đã tái hiện không gian ngoại cảnh cùng hành động, tâm trạng của người chinh phụ:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Thông qua bút pháp ngụ tình đặc sắc, tác giả đã tái hiện bối cảnh không gian của nỗi cô đơn. Giữa sự tĩnh mịch, người chinh phụ lặp đi lặp lại hành động “dạo hiên vắng”. Lúc này, nỗi nhớ nhung sầu muộn đã khiến cho bước chân của nàng mang nặng tâm trạng, trở nên nặng nề hơn. Nàng khắc khoải mong chờ thanh âm của tiếng chim thước – tín hiệu của sự trở về, sự gặp gỡ nhưng chẳng thấy. Trong không gian vắng lặng đó, nàng chỉ biết đối diện với ngọn đèn khuya: “đèn có biết”, “đèn chẳng biết”.

Hình ảnh ngọn đèn là ẩn dụ tượng trưng thể hiện nỗi nhớ cùng sự cô đơn đang bủa vây tâm trí nàng. Ngọn đèn khuya không thể thấu hiểu nỗi niềm của “bi thiết” – nỗi buồn thương xót xa đến không cùng của người chinh phụ, để rồi nàng rưng rưng trong sự thương thân tủi phận: “Hoa đèn kia với bóng người khá thương”. Cảnh vật xung quanh dường như đồng cảm, cộng hưởng với với sự cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ:

“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”

Sự vắng lặng đến tĩnh mịch của cảnh vật đã được tô đậm thông qua thanh âm tiếng gà gáy năm canh. Dưới ánh bình minh mờ nhạt, hình ảnh cây hòe phất phơ rủ bóng đã tái hiện không gian hoang vắng cùng sự buồn bã trong tâm trạng. Đối với người chinh phụ lúc này, bước đi của thời gian “đằng đẵng như niên” khiến mối sầu của nàng càng thêm sầu não “tựa miền biển xa”. Thời gian đã được đong đếm bằng sự cô đơn, buồn tủi trong tâm trạng. Không gian được mở rộng theo chiều kích của nỗi đau, nỗi sầu “tựa miền biển xa”.

Nàng cố gắng vượt thoát chiếc vỏ bọc của sự cô đơn nhưng lại càng chìm sâu vào nỗi tuyệt vọng đến khôn cùng:

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.”

Đối diện với không gian vắng lặng, hiu quạnh, người chinh phụ gắng gượng điểm phấn tô son, dạo đàn để kiếm tìm sự thanh thản nhưng lại càng chạm đến nỗi cô đơn, tình cảnh lẻ loi và sự đơn chiếc. Những cụm từ “hồn đà mê mải”, “lệ lại châu chan” đã nhấn mạnh sự tự ý thức về bi kịch chia li trong hiện tại.

Đối diện với sự tàn phai nhan sắc, trái tim nàng càng khắc khoải nỗi nhớ nhung cùng khao khát sum vầy trong nỗi tuyệt vọng. Những hình ảnh ước lệ “sắt cầm”, “dây uyên”, “phím loan” tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, tình nghĩa vợ chồng đã khiến nỗi nhớ mong của người chinh phụ càng trở nên khắc khoải, thống thiết hơn bao giờ hết. Trong sự tuyệt vọng đó, nàng gửi gắm tiếng lòng của mình theo gió:

“Lòng này gửi gió đông có tiện ?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”

Qua hình ảnh ước lệ “nghìn vàng” – tấm lòng nhớ thương, “gió đông” – ngọn gió mùa xuân thổi từ phương Đông, “non Yên” – nơi chiến trường xa xôi, chúng ta có thể thấy được tấm lòng thủy chung, son sắt, một lòng hướng đến người chinh phu nơi phương xa biên ải xa xôi. Nỗi nhớ ấy càng trở nên khắc khoải thông qua biện pháp điệp ngữ liên hoàn: “non Yên – non Yên”, “đường lên bằng trời – trời thăm thẳm”. Đặc biệt, các từ láy “thăm thẳm”, “đau đáu”, “thiết tha” để diễn tả nỗi nhớ thiết tha cùng nỗi đau tận cùng tâm trạng.

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

Bài thơ kết thúc bằng bức tranh ngoại cảnh qua những nét vẽ về “cảnh buồn” như “cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun”. Tất cả đều gợi lên không khí tang thương, lạnh lẽo, não nề. Cảnh vật đã hòa chung với tiếng lòng não nề của con người. Lòng người dường như trở nên lạnh lẽo trong nỗi cô đơn, tan vỡ, khổ đau.

Thông qua thể thơ song thất lục bát, tác giả đã tái hiện thành công nỗi niềm tâm trạng cô đơn trong âm điệu buồn thương da diết của người chinh phụ. Từ đó, tạo nên giá trị hiện thực qua tiếng nói tố cáo, lên án chiến tranh phong kiến phi nghĩa, những hiểm nguy mà người chinh phu phải đối mặt nơi chiến trường. Tác phẩm còn thấm đẫm giá trị nhân đạo qua những nỗi niềm tâm sự, những cung bậc cảm xúc đầy đau đớn, xót xa, những trống trải, cô đơn cùng khao khát về hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ.

Tiếp tục tham khảo 💕 Phân Tích 8 Câu Cuối Bài Tình Cảnh Lẻ Loi 💕 10 Mẫu Siêu Hay

Phân Tích Người Chinh Phụ Trong Chinh Phụ Ngâm – Mẫu 10

Dưới đây chia sẻ bài văn phân tích người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm để các em học sinh cùng tham khảo.

Trong nền văn học trung đại Việt Nam không biết từ lúc nào mà hình ảnh người phụ nữ đã trở thành đề tài quen thuộc và yêu thích của một số các tác giả nổi tiếng, đặc biệt là vào nửa sau của giai đoạn trung đại. Sự xuất hiện của những cái tên nổi tiếng như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Dữ, Nguyễn Gia Thiều,…

Nội dung mang tính nhân văn, nhân bản sâu sắc khi tập trung nói về thân phận bất hạnh của những con người thấp cổ bé bỏng, tiêu biểu là người phụ nữ dưới chế độ phong kiến hà khắc. Trong số đó không thể không nhắc đến tác giả Đặng Trần Côn với tác phẩm Chinh phụ ngâm nổi tiếng, diễn tả những cung bậc cảm xúc của người phụ nữ ở cuộc sống đời thường, đó nỗi nhớ chồng tha thiết, lòng khát khao hạnh phúc, được hưởng niềm vui điền viên, mong ước được đoàn tụ bên chồng con sau những tháng ngày cách biệt.

Đặc biệt ở đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trong bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm ta lại càng thấy rõ được hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong quá khứ với những nỗi phiền muộn, nhớ nhung khi đất nước loạn lạc, người chồng phải chinh chiến tận biên cương, còn bản thân người chinh phụ đợi chờ trong héo mòn, sầu não.

Tác giả Đặng Trần Côn sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII, quê ở làng Nhân Mục, Thanh Trì (nay thuộc Hà Nội), là người thông minh hiếu học, ngoài Chinh phụ ngâm ông còn có một số tác phẩm chữ Hán như Tiêu Tương bát cảnh, Tùng bách thuyết thoại, Bích câu kỳ ngộ,… Về dịch giả, thì có nhiều tranh xong phần nhiều ý kiến cho rằng bản diễn Nôm được khắc in phổ biến nhất hiện nay là của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, là tác giả nữ được đánh giá cao nhất cả về tài năng lẫn nhan sắc trong nền văn học trung đại Việt Nam.

Về tác phẩm Chinh phụ ngâm, bản gốc tác phẩm được Đặng Trần Côn viết theo thể trường đoản cú, gồm tổng cộng 476 câu thơ. Ra đời dưới thời vua Lê Hiển Tông, trong hoàn cảnh đất nước liên tục xảy ra các cuộc khởi nghĩa nông dân quanh kinh thành Thăng Long, nhiều thanh niên trai tráng được triều đình chiêu mộ đi đánh dẹp, để lại vợ con ở nhà trong nỗi chờ mong khắc khoải.

Bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm được dịch theo thể ngâm khúc kết hợp với thể song thất lục bát của dân tộc, làm cho bản dịch trở nên uyển chuyển, gần gũi và dễ dàng diễn tả được đầy đủ các cung bậc cảm xúc buồn tủi, ai oán của người chinh phụ. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích từ câu 193 đến 216 của bản diễn Nôm tập trung khắc họa hình ảnh người chinh phụ trong nỗi cô đơn, trống vắng, cùng nỗi nhớ chồng tha thiết.

Có thể thấy rằng toàn bộ trích đoạn 36 câu không tập trung khắc họa hình ảnh người chinh phụ thông qua các đặc điểm ngoại hình, mà chỉ yếu tập trung khắc họa tâm trạng của nhân vật thông qua các cử chỉ hành động. Mà ở trong 8 câu thơ đầu đó là nỗi trống vắng cô đơn của người chinh phụ trong trong sự tương quan giữa con người và cảnh vật, trong các hành động vô thức lặp đi lặp lại, trong sự tương quan giữa không gian và thời gian.

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng
Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu chẳng nói nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Từ những câu thơ người ta có thể dễ dàng mường tượng ra một người thiếu phụ, hao gầy buồn bã, ban ngày thì dạo bước một mình bên hiên vắng cốt để cho thong thả, nhưng lại càng thấy mình cô đơn, đếm bao nhiêu bước thì nỗi nhớ chồng cũng đủ bấy nhiêu. Chán nản, người thiếu phụ lại vào phòng hết buông rèm xuống ngồi ngẩn ngơ, rồi lại chốc chốc vén rèm lên, mắt nhìn xa xăm trông ngóng, coi chim thước liệu có có đà báo tin chồng trở về, nhưng cũng lại chỉ thêm thất vọng, sầu não.

Không gian “trong rèm” trở thành một không gian ngột ngạt, chán nản, giam cầm tuổi thanh xuân của người chinh phụ trong nỗi nhớ, nỗi chờ đợi mỏi mòn. “Trong rèm dường đã có đèn biết chăng”, là một câu thơ mang hình ảnh đặc biệt, không gian từ ban ngày đã chuyển sang cảnh đêm tối, khi ngoài trời đã còn chẳng trông rõ trời đất, thì người thiếu phụ lại quay về về với chốn khuê phòng cũ, đối diện cùng ngọn đèn lay lắt.

Đèn soi bóng người trên vách, khiến ta dễ phần nào liên tưởng đến hình ảnh nàng Tô Thị chờ chồng, nói với con cái bóng của mình là cha nó. Thì trong hoàn cảnh này hình tượng ngọn đèn, và người thiếu phụ vò vò một mình một bóng đơn chiếc, cô độc trong cái không gian vắng lặng, quạnh quẽ thật tội nghiệp, đáng thương.

Nàng coi ngọn đèn mờ là người bạn chốn khuê phòng duy nhất, chỉ tiếc rằng đèn biết mà cũng không biết bởi nó vốn vô tri vô giác nào hiểu được nếu sầu khổ của người chinh phụ lẻ loi nên cuối cùng cũng lại là “lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”. Ngắm bấc đèn cháy đỏ rồi lụi tàn, người thiếu phụ lại càng ý thức được thân phận, tuổi xuân của bản thân cũng như bấc đèn đang dần tàn lụi từng chút một trong hiu vắng, cô đơn.

Trong 4 câu thơ tiếp theo hình ảnh người chinh phụ được gợi ra trong cảnh cô đơn của con người khi đứng trước sự lặng lẽ, chán chường của thiên nhiên cùng sự chảy trôi chậm rãi của thời gian.

“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”

Tiếng gà “eo óc” là một từ láy tượng thanh gợi tả cảm giác sầu não, thêm cảnh hòe yếu đuối phủ rợp bốn bên làm cho không gian càng thêm mệt mỏi, vắng lặng, vô cảm. Còn con người trong hoàn cảnh ấy cũng không còn cảm nhận được gì khác ngoài sự chậm rãi khôn cùng của thời gian và nỗi cô đơn, trống trải cứ kéo dài dằng dặc cùng với thời gian trong lòng mình. Cả không gian rộng lớn bỗng thu lại chỉ bằng hình ảnh người chinh phụ ôm nỗi sầu cô đơn, vắng vẻ trong tiếng thở dài.

Dường như không chấp nhận sự chán nản buồn tẻ luôn đeo bám mình, thế nên bản thân người chinh phụ đã cố tìm những giải pháp, những hành động để giải khuây nhằm xóa đi sự cô đơn trống vắng trong lòng.

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”

Nhưng rất tiếc, hình ảnh người chinh phụ lại trở nên đáng thương và tội nghiệp hơn cả khi tất cả những hoạt động đều kèm theo một chữ “gượng”, tức là ban đầu khổ chủ đã không có ý muốn thực hiện. Thế nên gượng đốt hương cho thư thái tâm hồn thì lại càng “mê mải” trong nỗi sầu, nỗi cô đơn.

Cầm gương soi, ngắm nhìn dung nhan lại càng xót xa, tủi hơn, dẫu có xinh đẹp mà trượng phu không có ở đây cũng chẳng có ý nghĩa gì, hơn thế nữa qua gương người chinh phụ lại càng ý thức được sự phai tàn dần của dung nhan đang tiều tụy vì nhớ thương, khiến người không khỏi xót xa. Hoặc khi muốn đàn một bản nhạc cho thư thái tâm hồn thì lòng người chinh phụ lại sợ lỡ đâu dây đứt, phím chùng, vốn là những điều không may mắn, sợ rằng phải nhận được tin người chinh phu có bất trắc trên sa trường.

Đoạn thơ cuối cùng là hình ảnh người chinh phụ với nỗi nhớ gửi gắm vào thiên nhiên, với mong ước nó có thể đến được với người chồng đang ngoài biên cương diệt giặc.

“Lòng này gửi gió đông có tiện

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”

Người chinh phụ ý thức được khoảng cách xa xăm, mịt mù khó có thể vượt qua của mình với chồng thông qua các từ “non Yên”, “đường lên bằng trời”, “xa vời khôn thấu”. Tuy nhiên với nỗi nhớ sâu sắc được diễn tả bằng các từ “thăm thẳm”, “đau đáu”, “thiết tha”, người chinh phụ dẫu có yếu đuối và bất lực nhưng vẫn có mong ước gửi được nỗi nhớ “ngàn vàng” đến người chồng đang chinh chiến ở miền xa với lời ngỏ “gửi gió Đông có tiện”, coi như vơi bớt một phần nhớ thương, khắc khoải.

Thế nhưng sau những mong ước đẹp đẽ bay bổng thì người chinh phụ lại phải quay về đối mặt với nỗi cô đơn, trống vắng của mình trong sương giá lạnh lẽo, tiếng côn trùng sầu thảm cùng cơn mưa phùn không ngớt, khiến lòng người thêm ủ dột.

Như vậy hình tượng người chinh phụ trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ mang đến cho người đọc những nội dung sâu sắc. Về giá trị hiện thực, nỗi cô đơn, sầu khổ, trống vắng của người chinh phụ đã gián tiếp tố cáo sự bất lực, suy yếu của triều đình trong việc cai trị đất nước cùng với tội ác mà các cuộc chiến tranh phi nghĩa do những kẻ tham lam, tư lợi gây ra, khiến cho nhiều gia đình phải chịu cảnh chia ly, nhiều người phụ nữ phải gánh nỗi đau thầm lặng trong nhiều năm trời.

Bên cạnh đó thông qua hình tượng người chinh phụ chờ chồng, tác giả Đặng Trần Côn còn muốn phản ánh những khát khao, hy vọng của người phụ nữ xưa về một cuộc sống gia đình hạnh phúc, được vui lối sống điền viên, phu xướng phụ tùy, thoát khỏi cảnh đợi chờ, mòn mỏi trong sự héo tàn của nhan sắc, cũng là niềm mong ước về một đất nước yên bình, tươi đẹp.

Cùng với đó tác giả cung muốn ca ngợi vẻ đẹp thủy chung, son sắt của người phụ nữ Việt Nam xưa khi dù sống trong cảnh chán chường, cô đơn đến tột cùng, nhưng vẫn luôn một lòng hướng về chồng, dành cho chồng nỗi nhớ tha thiết.

Về nghệ thuật, là sự thành công của tác giả trong việc khắc họa bức tranh tâm lý nhân vật thông qua các cử chỉ, hành động, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tinh tế. Bên cạnh đó là bản diễn Nôm có sử dụng thể thơ song thất lục bát mang đậm màu sắc truyền thống của dân tộc, giàu tính nhạc điệu, bộc lộ được những cung bậc cảm xúc khác nhau của nhân vật trữ tình.

Có thể nói rằng Chinh phụ ngâm cũng như đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ là một tác phẩm hay và xuất sắc trong nền văn học trung đại Việt Nam khi nói về đề tài người phụ nữ.

Tác phẩm chứa đựng những giá trị nhân văn, nhân đạo cao cả, tập trung làm rõ những khía cạnh tình cảm của con người, cũng như những mong ước khát khao hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội còn nhiều bất công. Đặc biệt thông qua đó nó còn gián tiếp tố cáo chế độ phong kiến đang trên đà suy thoái cùng với sự tàn ác của các cuộc chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi quyền được hạnh phúc của con người.

SCR.VN chia sẻ 🌼 Mở Bài Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 🌼 20 Mẫu Đầy Đủ Nhất

Phân Tích Tình Cảnh Lẻ Loi Người Chinh Phụ Trong Chinh Phụ Ngâm – Mẫu 11

Bài văn phân tích Tình cảnh lẻ loi người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm dưới đây sẽ giúp các em học sinh có thêm cho mình những gợi ý hay khi làm bài.

Thân phận những người phụ nữ trong xã hội xưa rất nhỏ bé. Họ bị coi thường, bị khinh rẻ và hầu như không bao giờ xuất hiện trong những áng văn thơ. Nhưng đến thế kỉ thứ XVIII, hình ảnh người phụ nữ xuất hiện liên tục trong các bài thơ của Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan với cảm hứng nhân đạo sâu sắc.

Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn là một trong những tác phẩm hay nhất viết về người phụ nữ. Trong đó, đặc sắc nhất phải kể đến đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Đoạn trích không chỉ thành công tái hiện nỗi cô đơn, sầu muộn và khát khao hạnh phúc của người chinh phụ mà qua đó còn thể hiện được giá trị nhân đạo sâu sắc.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ được trích trong tác phẩm Chinh phụ ngâm. Tác phẩm ra đời khi mà hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ xuất hiện quanh kinh thành Thăng Long và Đặng Trần Côn đã “cảm thời thế mà làm ra” tác phẩm xuất sắc này. Đoạn trích là tâm trạng của người chinh phụ khi một mình mòn mỏi đợi chờ người chồng của mình nơi chiến trận. Không chỉ vậy nó còn chứa đựng cả khao khát hạnh phúc của người phụ nữ và hơn cả là tấm lòng nhân đạo của nhà thơ.

Tinh thần nhân đạo là một giá trị truyền thống của dân tộc ta. Nó được thể hiện thông qua sự đồng cảm sâu sắc của tác giả với những con người có số phận bất hạnh mà còn là sự đồng tình, ngợi ca những khát khao, mong ước của họ về tình yêu, hạnh phúc, đồng thời nó còn là tiếng nói tố cáo tội ác của chiến tranh phi nghĩa.

Trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, ta có thể thấy rõ được sự đồng cảm, thương xót của nhà thơ đối với người chinh phụ. Bởi thế nên ông mới có thể thấu hiểu được từng cảm xúc, rung động nhỏ bé cũng như nỗi cô đơn vô cùng của người phụ nữ khi phải xa chồng:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”

Những dòng thơ đầu tiên là nỗi trăn trở của người vợ khi có chồng chiến trận nơi xa. Nàng trằn trọc khôn cùng, không sao ngủ được. Cuộc chiến đã khiến người chồng của nàng phải đi xa, còn nàng thì phải âm thầm mòn mỏi chịu đựng trong mong nhớ. Bao nhiêu bước chân của nàng dạo quanh “hiên vắng” là bao lần nàng bồn chồn, lo lắng khi không nhận chút tin tức nào của chồng. Nàng bồn chồn tới mức lặp đi lặp lại những hành động đứng rồi ngồi, ra ngoài rồi lại bước vào trong.

Những hành động ấy vô nghĩa đó thể hiện chính xác những cảm xúc trong lòng của nàng: mong ngóng, bồn chồn, lắng lo. Nàng ngóng trông tin tức của chồng nhưng đáp lại chỉ là vô vọng. Chỉ có mình cùng ngọn đèn khuya leo lắt giữa đêm khiến cho người chinh phụ ấy càng thêm cô quạnh. Lời thơ như tiếng ngậm ngùi, thở than của người phụ nữ với niềm chua xót, bi ai trào dâng trong lòng:

“Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”.

Nỗi đau xót, nhớ thương, bi ai ấy chẳng ai có thể thấu hiểu được hơn nàng. Giờ đây, ngồi trong đêm khuya thanh vắng nghe tiếng gà gáy sáng, nhìn bóng “hoè phất phơ rủ bóng” càng khiến cho tâm trạng của nàng cô đơn hơn bao giờ hết. Vẻ vắng lặng, tĩnh mịch của đêm tối như càng tô đậm hơn nỗi cô độc của nàng:

“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”

Trong hoàn cảnh ấy, người chinh phụ càng thấm thía hơn nỗi sầu thương trong lòng mình. Mỗi giờ, mỗi phút lại tưởng chừng như cả tháng năm “đằng đẵng” đang trôi qua. Từ láy “đằng đẵng” được đặt trong câu thơ này khiến cho ta có thể cảm nhận được sự chờ đợi mòn mỏi của người chinh phụ. Sự chờ đợi ấy đã “dằng dặc”, sâu rộng như “miền biển xa” rồi. Vậy mà người chồng của nàng vẫn chưa chinh chiến trở về!

Nỗi buồn thương, lo lắng trong lòng khiến người phụ nữ không thể tập trung làm bất cứ việc gì. Bởi mỗi việc nàng làm đều chứa đựng hình bóng của người chồng yêu dấu. Đốt hương, soi gương hay gảy đàn, nàng đều làm trong gắng “gượng”, trong nước mắt. Nàng sợ rằng khi mình gảy đàn kia, soi gương ấy sẽ có một dự cảm không lành ập tới. Vậy nên tâm hồn nàng cứ mơ màng trong nước mắt, miên man trong nỗi nhớ thương:

“Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”.

Giờ đây, ngồi trong phòng vắng, chẳng thể trò chuyện, nhắn gửi cho người thương, nàng chỉ có thể gửi vào gió những nhớ thương của mình:

“Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.”

Nỗi nhớ chồng của nàng da diết, mênh mông, “thăm thẳm như đường lên bằng trời”. Có thể nói đây là một câu thơ đặc sắc nhất trong đoạn trích này, bởi nó đã thể hiện được hết tấm lòng nhớ thương của người chinh phụ. Một câu thơ nhưng lại khiến cho người đọc có thể hiểu thấu được cả tấm lòng của một người phụ nữ đang mong chờ người chồng của mình. Thế nhưng, trời xanh có thấu được nỗi lòng của nàng chăng? Nỗi nhớ thương, mong ngóng chồng lớn lao của nàng cứ “đau đáu” mãi trong tim.

Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ không chỉ được viết lên bởi tài năng của Đặng Trần Côn mà còn được viết lên bởi sự cảm thông sâu sắc cũng như sự xót thương vô cùng của ông dành cho những người chinh phụ. Nỗi lòng của người chinh phụ trong tác phẩm cũng là nỗi lòng của hàng ngàn người phụ nữ khác có chồng phải ra ngoài mặt trận. Họ phải sống trong sự cô đơn, lẻ loi, sống trong nỗi nhớ thương, lo lắng cho người chồng của mình.

Thế nhưng, tinh thần nhân đạo của đoạn trích không chỉ thể hiện ở sự đồng cảm, xót thương số phận người chinh phụ mà còn ở sự đồng tình, trân trọng và ngợi ca những khát khao về tình yêu, hạnh phúc của người phụ nữ nữa.

Bởi vậy nên ông mới viết về nỗi cô đơn, buồn tủi, lẻ loi đến cùng cực của người chinh phụ:

“Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phùn.”

Hay nỗi nhớ thương chồng ở nơi xa:

“Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.”

Nỗi cô đơn, sự nhớ thương khôn nguôi là biểu hiện của niềm khát khao tình yêu, hạnh phúc lứa đôi và nỗi cô đơn của người chinh phụ còn là khát khao được chở che, được yêu thương trong vòng tay của người chồng. Mưu cầu được sống, được yêu thương, được hạnh phúc là một mưu cầu tự nhiên, ai chẳng khao khát có được những điều đó. Và đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, điều đó trở nên quý giá vô cùng. Vậy nên, tác giả mới đồng tình, trân trọng niềm khát khao ấy của họ.

Cuối cùng là lời tố cáo chiến tranh phi nghĩa cũng là một trong những giá trị nhân đạo mà Đặng Trần Côn muốn thể hiện. Dù không thẳng thắn chỉ trích chiến tranh hay xã hội đương thời nhưng qua việc cảm thông với số phận của nhân vật trữ tình, tác giả muốn thể hiện thái độ oán ghét chiến tranh. Bởi chính những cuộc chiến này là nguyên do dẫn tới sự xa lìa của vợ chồng người chinh phụ, chia cắt tình yêu, hạnh phúc lứa đôi.

Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã cho chúng ta thấy rõ tinh thần nhân đạo mà Đặng Trần Côn muốn thể hiện: cảm thông, xót thương cho số phận người phụ nữ, đồng tình với khát khao của họ cũng như tố cáo chiến tranh phi nghĩa. Đây cũng đoạn trích tiêu biểu cho giá trị nhân đạo dành cho người phụ nữ trong văn học trung đại, cũng như đánh dấu bước chuyển mình trưởng thành của văn chương thế kỉ XVIII trong dòng văn học Việt Nam.

Đừng bỏ qua 🔥 Phân Tích Tựa Trích Diễm Thi Tập 🔥 8 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Đoạn Đầu Chinh Phụ Ngâm – Mẫu 12

Bài văn mẫu phân tích đoạn đầu Chinh phụ ngâm dưới đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh.

Dưới trí tuệ của dịch giả Đoàn Thị Điểm – người “tài sắc nương tử xưa hiếm nay không, xuất khẩu thành chương, bản chất thông minh” mà tuyệt tác Hán ngôn “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn một lần nữa thăng hoa.

Những năm 40 của thế kỉ XIV, bão táp liên miên, loạn lạc khắp nơi, người chinh phụ tiễn chinh phu ra trận… đã được phục dựng lại dưới những vần thơ “lâm li, tuấn nhã”, đặc biệt trong đoạn trích 8 câu đầu của “Tình cảnh lẻ loi của người Chinh Phụ”. Đoạn trích ngắn nhưng Đoàn Thị Điểm đã làm nổi bật lên hình ảnh người chinh phụ trong nỗi cô đơn lẻ bóng chờ ngày đoàn tụ.

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

Hai câu thơ đầu đoạn trích là bóng hình ngóng trông của người chinh phụ. Hình ảnh ấy được thể hiện qua các động từ “dạo”, “rủ”, “thác”, “gieo từng bước” bởi nó tạo nên sự đối lập giữa bên ngoài thanh tịnh, nhàn nhã với nội tâm cồn cào, mòn mỏi đếm từng bước chân. Hơn nữa, tính từ “vắng”, “thưa” tôn lên sự lẻ loi, cô độc, bóng chiếc của người phụ nữ trong đêm. Như vậy, tác giả đã sử dụng ngoại cảnh để thể hiện tâm trạng nhân vật.

Tiếp đó, người chinh phụ dường như hướng ra bên ngoài chờ một tin báo đủ mạnh để an lòng:

“Ngoài rèm thước chẳng mách tin”

Chim thước là loài chim khách, nó vốn thuộc về bầu trời cao rộng. Ngóng tin từ chim thước thật vô vọng, mơ hồ. Từ phủ định “chẳng” như khẳng định thêm sự tuyệt nhiên không có lấy một âm thanh tin tức nào. Vậy nên, người phụ nữ hướng vào không gian bên trong, trò chuyện với cây đèn, tìm kiếm chút tâm tình, thỏa mãn sự cô đơn:

“Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Đoạn thơ khiến ta liên tưởng tới hình ảnh Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ khi chọn cách chỉ vào cái bóng trên tường và nói đó là cha Đản để con trai bớt phần tủi hờn. Đó dường như là cách người phụ nữ gửi gắm nỗi nhớ thương chồng. Gửi tâm sự vào đèn, người chinh phụ trong bài thơ có lẽ cũng đang da diết nhung nhớ lang quân. Bởi người phụ nữ đã gọi “đèn” và xưng “thiếp”. Mặt khác, hình ảnh đèn khiến ta liên tưởng tới những bài thơ, bài ca dao xưa:

“Khăn thương nhớ ai,
Khăn chùi nước mắt.
Đèn thương nhớ ai,
Mà đèn không tắt.
Mắt thương nhớ ai,
Mắt ngủ không yên.”

Ánh đèn như tôn thêm vẻ vắng lặng đơn côi, mỏi mòn chờ đợi cả ngày dài và thổn thức suốt đêm thâu. Nhưng đèn là vật vô tri, đèn không thể giãi bày tâm sự với người phụ nữ, vậy nên nhân vật trữ tình càng thêm “buồn rầu”, không thiết nói năng. Cái cảnh “nói chẳng lên lời” như là bất lực, uất nghẹn lắm. Đoạn thơ còn xuất hiện thêm hình ảnh sóng đôi “hoa đèn” – “bóng người”.

Thay vì đèn, tác giả lại nói “hoa đèn” để liên tưởng tới sự tàn lụi, cạn dầu tương đương với cảnh người phụ nữ đợi chờ tới héo hon, thanh xuân qua đi từng ngày. Từ hành động, ý thơ dường như lại khắc họa sự bất động. Đặc biệt, hình ảnh người phụ nữ bên ngọn đèn dầu còn kết đọng ở cảm xúc “bi thiết”, “khá thương”.

Nỗi buồn đau, cô đơn, lắng lo, mong ngóng, bất lực, nghẹn ngào… tất cả như đan xen, cuộn trào từng đợt trong lời than vãn “lòng thiếp riêng bi thiết” và rồi lịm dần “buồn rầu chẳng” và “khá thương”. Cảm xúc có sự vận động từ thương chồng đến thương mình, từ than thở tới tuyệt vọng.

Tóm lại, đoạn trích 8 câu đầu trong “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” – Đoàn Thị Điểm là tiếng nói xót thương cho số phận người phụ nữ trong chiến tranh và đồng cảm với khát vọng sum vầy của họ. Cho đến tận bấy giờ, lần đầu tiên mới có những tấm lòng chân chính biết thương cảm cho những người phụ nữ nhỏ bé. Đó cũng là tinh thần nhân văn, nhân bản cao đẹp của tác giả.

Mời bạn tiếp tục đón đọc 🌳 Phân Tích Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên 🌳 15 Mẫu Hay Và Đặc Sắc

Bài Phân Tích Đoạn 1 Chinh Phụ Ngâm Ngắn Hay – Mẫu 13

Đón đọc bài phân tích đoạn 1 Chinh phụ ngâm ngắn hay được chia sẻ dưới đây với những ý văn sinh động, giàu hình ảnh biểu đạt.

Chinh Phụ Ngâm là một trong những tác phẩm văn học trung đại xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam mà ở đó, lồng ghép những mạch cảm xúc, câu chuyện thấm đẫm nỗi bi thương về thân phận người phụ nữ thời kỳ lúc bấy giờ, đồng thời gián tiếp miêu tả chân thực bức tranh hiện thực xã hội cay đắng, bất công.

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

Không gian hiên vắng, ngay từ những vần thơ đầu đã gieo vào lòng người đọc những cảm nhận u buồn, kết hợp với các động từ như “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, bồn chồn, thấp thỏm của người phụ nữ dưới mái hiên nghèo, những ngày động cứ lặp lại vô nghĩa, càng thể hiện sự hoang hoải và trống rỗng trong tâm trí. Và rồi dường như, nhân vật đang phân tâm để đối thoại độc thoại với chính mình, mà lại vừa có cảm giác như một lời trách móc:

“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”

Bắt đầu từ đây, người chinh phụ bộc lộ nỗi lòng cô đơn và sự nhớ mong, nhớ thương khôn xiết đến người chinh phụ nơi chiến trận phương xa. Nàng không chỉ mang nỗi nhớ đơn thuần, mà còn mang trong lòng sự khắc khoải khôn nguôi, trằn trọc khi không nhận được tin tức về người chinh phụ.

Hình ảnh chim thước – loài vật báo tin tốt lành xuất hiện chính là sự minh họa rõ nhất cho nỗi lòng ấy. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm mọi không gian, thậm chí lan thấm vào nhuốm vào màu không gian một sắc buồn ảm đạm. Càng nhớ, càng mong mỏi được giãi bày, và ngọn đèn trở thành người tri kỉ trong vò võ cô đơn để người chinh phụ tâm sự.

Ca dao xưa đã từng có bài ca dao khăn thương nhớ ai, cũng miêu tả hoàn cảnh của người phụ nữ trong vò võ đêm trường, một mình bầu bạn với ngọn đèn khuya, chính ngọn đèn khuya leo lét, lạnh lẽo càng nhấn mạnh thêm tình cảnh trơ trọi lẻ loi của người chinh phụ:

“Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Người chinh phụ tự thương cho thân phận mình, bỗng nhận thấy trong bóng đèn dầu kia phản chiếu lên bức tường với số phận, thân phận mình như nhập hòa làm một, nỗi buồn mượn ngọn đèn để san sẻ nhưng cũng chẳng thể thỏa nỗi nhớ mong, niềm khát khao đồng điệu.

8 câu thơ đầu bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã lột tả một cách sống động chân thực cảm xúc cô đơn và nỗi nhớ thương khắc khoải đến quặn thắt của người chinh phụ, đồng thời qua đó gián tiếp vạch trần tội ác của chế độ chiến tranh phi nghĩa năm xưa, khiến gia đình phải tan tác, đau thương.

Ngoài ra, tại SCR.VN còn có 🌺 Phân Tích Hồi Trống Cổ Thành 🌺 11 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Chinh Phụ Ngâm 8 Câu Đầu Mở Rộng – Mẫu 14

Tham khảo bài văn phân tích Chinh phụ ngâm 8 câu đầu mở rộng dưới đây để có thêm cho mình những liên hệ phong phú khi làm bài.

Đặng Trần Côn là một danh sĩ, nhà thơ kiệt xuất của nền văn học Cổ Điển. Trong đó, tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” là một trong những tuyệt tác của ông được viết bằng chữ Hán. Tác phẩm đã được dịch bởi nữ danh sĩ Đoàn Thị Điểm và trở nên nổi tiếng trong giới văn thơ. Trong đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” – một đoạn trích được đánh giá hay nhất thể hiện những tâm sự , nỗi nhớ của người Chinh phụ và hơn hết còn mang giá trị nhân đạo sâu sắc, đặc biệt 8 câu thơ đầu bài.

Mở đầu 4 câu trước:

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”

Qua khổ thơ ta cảm nhận rằng, người phụ nữ đang cô đơn buồn bã vô cùng. Căn phòng tưởng chừng như rất rộng khi chỉ còn người chinh phục sống. Nó trở nên tù túng, tăm tối và cô đơn khắc khoải khiến ta hình dung lên hình ảnh người vợ đang cô đơn nhớ chồng. Căn phòng lẽ ra đang rộn rã tiếng vui đùa, hạnh phúc vậy mà giờ đây chỉ im ắng.

Sự chờ đợi đã khiến cho người vợ tiễn chồng ra chiến trận tưởng chừng như nhiều kiếp trôi qua. Có khá nào như đá vọng phù, chờ mãi chờ mãi mà người không về. Câu thơ: “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước “ cho thấy sự mệt mỏi não nề, bước chân nặng nề đến độ không muốn nhấc lên, chỉ “gieo” từng bước thê lương, dù không muốn vẫn phải bước đi để chờ đợi. Giọng thơ chầm chậm, nhẹ nhàng như đúng tâm trạng u buồn của người vợ.

Không gian “hiên vắng” càng tĩnh lặng lại càng làm cho tình cảm thêm thê lương hơn. “Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”. Ngoài hiên vắng một mình dạo bước cô đơn là thế, về đến phòng lại càng cô đơn hơn. Chiếc rèm cứ kéo lên, rồi lại kéo xuống, ngày qua ngày vẫn không thấy chồng, lòng nàng chỉ một hướng cho chàng nhưng cô đơn quá đỗi vì “cảnh xưa còn đó mà người xưa đâu rồi!?”.

Nhưng, sự chờ đợi vẫn không có hồi âm. Nếu người ta nói “đợi chờ là hạnh phúc” có lẽ đó là trong một hoàn cảnh nào đó đặc biệt, một hoàn cảnh mà người ta biết sự đợi chờ có hồi đáp. Còn với người vợ chờ chồng nơi chiến trận thì cô đơn đến tê dại lòng, càng ngóng lại càng xa. Đến nỗi : “Ngoài rèm thước chẳng mách tin/ Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?” Sự chờ đợi lâu lắm, lâu đến cùng cực mà mãi cũng không nghe thấy tin tức gì, chút hi vọng gì. Ngồi trước ngọn đèn chỉ biết ngóng trông.

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,

Hình ảnh chiếc đèn lại trở nên vô cùng quan trọng trong khổ thơ đầu của bài thơ. Tại sao vậy? Tại vì nó chính là người bạn tri kỉ của người vợ lúc này. Khi người chồng ra trận không biết khi nào mới trở về, sự cô đơn khiến người vợ muốn tìm đến một người để sẻ chia tâm trạng.

Nhưng nàng lại không có ai, sự hà khắc của xã hội phong kiến khiến người phụ nữ chỉ biết đến gia đình chồng, hết lòng cho gia đình chồng và “xuất giá tòng phu”. Nào dám kết bạn với ai xa. Nào dám sẻ chia với ai. Tìm một người bạn tâm tình thật khó. Nhất là khi chồng đi xa, chẳng may có điều tiếng xấu thì ôi thôi… cả đời coi như sống không bằng chết.

Vậy chăng, chỉ có ngọn đèn kia tưởng vô tri vô giác mà lại có thể thấu hiểu tâm tình người chinh phụ, có thể giúp cho người vợ sẻ chia được những cô đơn trong lòng. Nàng tự hỏi rằng, liệu ngọn đèn kia có hiểu được tấm lòng chung thủy của nàng, có hiểu được sự chịu đựng nỗi nhớ nhung của nàng. Nỗi nhớ nhung đến đau lòng : “Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”.

Hình ảnh chiếc đèn hiện lên chứng minh cho sự cô đơn lẻ loi của người chinh phụ, đến nỗi, nàng buồn rầu mà chẳng thể giãi bày:

“Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Buồn quá đến nỗi nàng chẳng buồn nói, chẳng buồn cười, nàng chỉ có mình với mình với hoa đèn đáng thương mà thôi. Hoa đèn chính là tàn của bấc đèn, bấc đèn vẫn còn được nung đỏ sáng rực cũng như lòng nàng đáng cháy đến tàn đỏ như bấc đèn kia.

Nàng cũng đang nhớ nhung chồng nơi chiến trận, nhưng ngọn lửa nhớ nhung giờ đang cháy đỏ rồi cũng sẽ tàn phai theo thời gian. Dường như nàng đã nhìn thấy tương lai của chính mình qua hình ảnh chiếc đèn, sáng rực là thế rồi cũng sẽ tàn thôi. Và sự tàn phai của đời con gái trong cô đơn lẻ như chiếc đèn kia.

Chỉ qua 8 câu thơ đầu đã cho chúng ta thấy được nghệ thuật và giá trị nhân đạo mà tác phẩm mang lại. Với bút pháp nghệ thuật ước lệ kết hợp thể thơ song thất lục bát, giọng thơ nhẹ nhàng, thiết tha khiến người đọc cảm nhận được tâm trạng u uất, sầu não, cô đơn khát khao cháy bỏng được sống hạnh phúc của người chinh phụ.

Đoạn trích cũng thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc khi lên án chiến tranh phi nghĩa, những khuôn phép hà khắc của xã hội phong kiến bấy giờ đã đẩy cuộc đời bao nhiêu người phụ nữ phải sống trong cô đơn, và ở giá suốt đời nếu chồng mất ngoài chiến trận.

Tham khảo trọn bộ ☔ Phân Tích Hoàng Hạc Lâu Của Thôi Hiệu ☔ 8 Bài Hay Nhất

Phân Tích Chinh Phụ Ngâm 8 Câu Giữa – Mẫu 15

Chia sẻ dưới đây bài phân tích Chinh phụ ngâm 8 câu giữa giúp các em học sinh trau dồi cho mình những ý văn hay và đặc sắc.

Chinh phụ ngâm là một tác phẩm tiêu biểu của Đặng Trần Côn được sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Vừa mới ra đời tác phẩm đã gây được tiếng vang lớn và đến khi có bản dịch nôm của Đoàn Thị Điểm thì tác phẩm này lại trở nên nổi tiếng hơn bao giờ hết. Bài thơ nói về tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ khi người chinh phu ở chiến trường xa xôi. Tất cả những tình cảm đó đã lan tỏa, thấm đẫm vào cảnh vật:

“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”

Tiếng gà là cái động đã được sử dụng để miêu tả cái tĩnh tại của thiên nhiên, nỗi cô đơn của con người. Nàng đã thức trọn năm canh để nghe thấy tận sâu trong đáy lòng mình nỗi sầu, nỗi đau vô hình ấy. Từ láy “phất phơ” đã biểu đạt một cách tinh tế cái dáng điệu, cái tâm trạng của một người vợ ngóng chờ từng chút hình ảnh của chồng. Đặc biệt hình ảnh cây hòe “rủ bóng” sà xuống như ẩn chứa trong đó cái dáng vẻ tiều tụy của người chinh phụ. Dáng vẻ cô độc của người chinh phụ như bị chìm lấp giữa không gian ấy.

Ở những dòng thơ tiếp theo, nỗi ai oán hiện rõ trong từng chữ, từng câu, dù tác giả không hề nhắc đến hai chữ chiến tranh:

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dày uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”

Điệp từ “gượng” được điệp đi điệp lại ba lần trong bốn câu thơ tiếp theo đã thể hiện sự nỗ lực vượt thoát của người chinh phụ. Dường như nàng đang cố tìm sự thanh thản nơi tâm hồn nhưng lại càng rơi sâu hơn vào cơn mê man. Gượng tìm đến gương thì lại rơi lệ sầu, gượng tìm đến nhạc lại càng rơi ào lo âu. Chạm đến đâu cũng chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi của chính mình.

Nỗi sầu cô đơn như bủa vây, như ám ảnh người chinh phụ. Ở đây, tác giả đã sử dụng bút pháp trữ tình để đặc tả nỗi cô đơn của người chinh phụ. Con người mang trong lòng quá nhiều lo âu đã khiến chính bản thân mình như đang chết dần trong cái bọc cô đơn ấy.

Đằng sau nỗi sầu thảm của người của người phụ nữ chính là hiện thực khốc liệt mà chiến tranh để lại. Bởi thế bài thơ không chỉ đơn thuần nói về tâm trạng của người phụ nữ ngày đêm mong ngóng chồng trở về từ nơi chiếng trường mà còn gián tiếp tố cáo chiến tranh và những gì mà nó đã gây ra. Đồng thời nó cũng thể hiện sự đồng cảm, xót xa, sự thấu hiểu của nhà thơ với người chinh phụ. Đây cũng chính là giá trị nhân đạo ngời sáng của tác phẩm.

Như vậy, bằng việc kết hợp khéo léo các biện pháp tu từ tác giả đã thành công miêu tả được thế giới nội tâm ẩn sâu bên trong của người chinh phụ đồng thời cũng cho người đọc thấy được hiện thực loạn lạc mà chiến tranh gây ra thời đó. Và tất cả những điều đó vừa thể hiện được tài năng vừa ngầm phản ánh tấm lòng của tác giả.

Đọc nhiều hơn 🌻 Phân Tích Cảm Xúc Mùa Thu 🌻 15 Bài Phân Tích Thu Hứng Hay

Phân Tích Chinh Phụ Ngâm 12 Câu Đầu – Mẫu 16

Bài văn phân tích Chinh phụ ngâm 12 câu đầu dưới đây sẽ là nội dung tham khảo cần thiết hỗ trợ các em học sinh trong quá trình làm bài.

Cảnh chinh chiến binh đao trong xã hội cũ khiến cho bao kẻ khóc không thành tiếng, loạn lạc xảy ra làm bao gia đình tan tác, lâm vào cảnh chia li từ biệt. Hiểu thấu được những niềm đau và dòng tâm trạng của những người phụ nữ có chồng ra trận, Đặng Trần Côn đã viết nên tác phẩm Chinh phụ ngâm như một khúc ngân xé lòng về nỗi đau về khát khao hạnh phúc của người chinh phụ xưa khi phải rời xa người thương.

Mở đầu 12 câu thơ trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, nỗi cô đơn của người con gái ấy hiện lên thật buồn, thật lẻ loi biết bao:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

Vẫn những bước đi quen thuộc đấy thôi, vẫn dạo hiên như mỗi ngày mà lòng thật buồn, bước chân như nặng trĩu nỗi lòng bởi hiên ” vắng” bóng chàng, vắng bóng người thương. Bước đi đầy thẫn thờ, mỗi bước chân mang nặng nỗi sầu bi, chẳng thiết tha gì với mọi sự xung quanh, phải chăng nỗi lòng nàng giờ đây chỉ có bóng hình chàng trai nơi chiến trận xa xôi. Ngồi nơi rèm thưa mà lòng chẳng chịu yên, mong chờ tiếng chim thước báo tin chàng trở về cho thỏa lòng mong mỏi, vậy mà chẳng một tiếng kêu.

Giờ đây chỉ mình nàng với ngọn đèn khuya bầu bạn, ngọn đèn thắp lên cho vơi nỗi nhớ chàng mà lại càng nhớ thêm, đèn có biết nỗi lòng của nàng không? Hãy chẳng bao giờ hiểu thấu được nỗi cô đơn rợn ngợp nơi trái tim nàng.

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

Thực tại quá đỗi phũ phàng, đèn sao có thấu được nỗi lòng này. Nỗi cô đơn , mong ngóng này chỉ mình nàng thấu, mình nàng chịu đựng mà thôi, chẳng ai có thể chia sẻ, không một ai hiểu được lòng này. Nỗi buồn khổ thốt chẳng nên lời, xót thương cho bóng người sầu muộn bên hoa đèn cô đơn, ủ rũ, buồn thương.

Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Nỗi nhớ mênh mang chiếm lấy tâm trí người chinh phụ khiến nàng chẳng yên giấc. Cảnh vật giờ đây cũng như tâm trạng của nàng vậy, thật ảm đạm, hiu hắt, hoang vắng. Tiếng gà eo ốc càng gợi lên sự tĩnh mịch của không gian, bóng hoè phất phơ rủ bóng giữa khoảng không vắng lặng. Thời gian đằng đẵng như nỗi sầu dằng dặc vô tận của người thiếu nữ.

Trong tình yêu, ai cũng khao khát được hạnh phúc vẹn tròn, được sống cùng người mình thương trong hạnh phúc vui vầy. Nhưng không phải ai cũng có được niềm hạnh phúc ấy, đặc biệt là trong xã hội cũ với đầy rẫy những cuộc nội chiến lại càng hiếm hoi. Tác phẩm đã nói lên tiếng lòng của bao người phụ nữ trong xã hội đồng thời là tiếng nói tố cáo bao cuộc chiến tranh phi nghĩa đã làm chia lìa hạnh phúc lứa đôi.

Giới thiệu đến bạn 🌟 Phân Tích Độc Tiểu Thanh Ký 🌟 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Phân Tích Chinh Phụ Ngâm 16 Câu Đầu – Mẫu 17

Với bài văn mẫu phân tích Chinh phụ ngâm 16 câu đầu dưới đây, các em học sinh có thể tham khảo và linh hoạt vận dụng khi làm bài.

Đặng Trần Côn là một tác giả văn học nổi tiếng sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy biến động nên của đất nước khi mà chiến tranh đã làm chia cắt bao gia đình. Có biết bao nhiêu cặp vợ chồng vừa xây dựng hạnh phúc lứa đôi đã phải chia tay để chồng đi chinh chiến phương xa. Từ sự cảm thương với số phận con người trong thời chiến, ông đã viết nên tác phẩm “Chinh phụ ngâm”. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là một trong những đoạn trích tiêu biểu nói về tâm trạng cô đơn, lẻ bóng của người vợ trẻ khi chồng ra trận vắng nhà.

Ngay từ tám câu thơ đầu, tác giả đã mở ra một tâm trạng cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương!

Nỗi cô đơn của người chinh phụ đã được thể hiện trước hết qua hành động một mình nàng dạo hiên vắng. Buông rèm rồi lại cuốn rèm không biết bao nhiêu lần. Hành động này thể hiện sự bối rối, tâm trạng thất thần nhớ nhung khiến cho người phụ nữ còn không thể kiểm soát được hành động của mình. Đó là tâm trạng chờ đợi mong ngóng, tin tức người chồng phương xa. Nỗi buồn nỗi cô đơn của người chinh phụ còn được diễn tả qua sự đối bóng của người với ngọn đèn khuya.

Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

Hai câu thơ được tác giả viết hình thức câu hỏi tu từ, thể hiện tâm trạng bế tắc của người chinh phụ. Nàng hỏi đèn để mong muốn tìm được một sự đồng cảm, sẻ chia, nhưng rồi tự trả lời rằng đèn không biết. Hình ảnh ngọn đèn cùng với nỗi lòng của người chinh phụ như càng góp phần khẳng định nỗi buồn triền miên, cô đơn, không ai chia sẻ.

Đoạn thơ 8 câu cuối có sự chuyển đổi tinh tế để phù hợp với diễn biến tâm trạng của người chinh phụ. Từ những lời tự sự miêu tả nội tâm, đến đoạn thơ này có sự kết hợp giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ của tác giả.

Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.
Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.

Đoạn thơ này, tác giả chủ yếu sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tức là dùng ngoại cảnh để miêu tả tâm trạng nhân vật, dùng cái chủ quan để miêu tả cái khách quan. Vì thế, trong bài thời gian vật lí đã biến thành thời gian tâm lý. Tiếng “gà eo óc gáy” là âm thanh báo hiệu năm canh và bóng cây “hòe” tĩnh mịch trong đêm nhằm làm tăng ấn tượng vắng vẻ, cô đơn đáng sợ.

Trong tâm trạng chờ đợi mỏi mòn đó người chinh phụ thấy thời gian trôi qua một cách chậm chạp, một khắc một giờ mà giống như một năm. Và để giải tỏa nỗi niềm sầu muộn, người chinh phụ đã biết tìm đến những thú vui tao nhã thường ngày: “soi gương, đốt hương, gãy đàn”. Nhưng tất cả chỉ làm trong sự gượng gạo, miễn cưỡng chán chường.

Thành công của đoạn trích này là ở khả năng miêu tả tâm lí nhân vật vô cùng tinh tế với bút pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc của văn học trung đại và sử dụng hàng loạt các biện pháp tu từ: câu hỏi tu từ, điệp từ, điệp ngữ… Chỉ với 16 câu thơ đầu, tác giả đã thể hiện được tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm được xem là tiếng kêu thương của người phụ nữ nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa.

Đón đọc tuyển tập 🌹 Phân Tích Bạch Đằng Giang Phú 🌹 15 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Chinh Phụ Ngâm 8 Câu Cuối – Mẫu 18

Tham khảo bài văn phân tích Chinh phụ ngâm 8 câu cuối dưới đây sẽ giúp các em học sinh đi sâu phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ.

Chinh Phụ Ngâm là khúc ngâm não lòng mà cũng thấm đẫm cảm xúc nhất trong văn đàn văn học Việt Nam, đặc biệt 8 câu thơ cuối chính là sự dồn nén của dòng cảm xúc nhớ thương, khắc khoải vò võ ở những câu thơ đầu để càng trở nên da diết.

“Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”

Lòng này là sự cụ thể hóa nỗi nhớ và niềm thương mà người chinh phụ đang giam cầm trong lòng mình, nó cứ mãi khắc khoải và trở trăn trong lòng nhân vật trữ tình, nỗi lòng ấy bao trùm thậm chí nhấn chìm cả không gian thời gian, nhưng người chinh phụ tội nghiệp ấy còn biết làm gì khác hơn ngoài nhớ thương. Nàng mong gió sẽ mang nỗi nhớ, mang những đợi chờ và tin yêu của nàng gửi đến người chồng ở phương xa, đang phải đối mặt với nguy hiểm muôn vàn.

Nhưng tiếc thay, nơi tấm chân tình ấy gửi đến lại quá đỗi xa xôi, nên người chinh phụ tự hỏi liệu nó có thể tới được nơi, liệu nó có thể chạm thấu đến nỗi lòng người chinh phụ, các cụm từ chỉ thời gian thăm thẳm xa xăm, cùng các cảm thán từ van xin khẩn thiết càng gợi sự chua xót hơn bao giờ hết:

“Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”

Từ láy thăm thẳm như làm đầy, làm sâu, làm trầm hơn cung bậc nỗi nhớ, và càng nhấn mạnh rằng, nỗi nhớ của người chinh phụ da diết, khắc khoải thậm chí giằng xé nhường nào được so sánh cả với đường lên tới trời. Vừa là cảm xúc, vừa gợi sự mơ hồ, vô định của xúc cảm bởi tâm tưởng đang bao quanh, đang chập chờn trong cơn mê và nỗi nhớ thương. Sau khi hỏi gió đông để bày tỏ phần nào niềm mong mỏi và nỗi tủi hờn, người chinh phụ đành ngậm ngùi chốt lại trong câu độc thoại với bản thân:

“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”.

Niềm thương, nỗi nhớ bao trùm, lấn chiếm cả không gian thời gian, và nhuốm màu tâm trạng vào cảnh vật. Tiếng mưa ướt lạnh, và sự vận động cô quạnh của cảnh vật một lần nữa được dịch giả Đoàn Thị Điểm khắc họa trọn vẹn, chân thực, sống động. Các từ láy đau đáu, thăm thẳm, thiết tha như những lớp sóng ngôn từ, lớp sóng lòng làm dày thêm, đậm thêm, sầu muộn thêm nỗi nhớ và tình cảnh người chinh phụ.

Bằng những hình ảnh ẩn dụ ấn tượng, không chỉ mang linh hồn của cảnh vật, mà còn mang trong nó tâm trạng của nhân vật người chinh phụ, đã diễn tả xuất sắc những khoảnh khắc tâm lý buồn thương da diết khôn thấu của người chinh phụ, từ đó mở ra những dư ba trong tâm hồn người cảm nhận.

Tham khảo văn mẫu 🌹 Phân Tích Nhân Vật Khách Trong Phú Sông Bạch Đằng 🌹 15 Mẫu Đặc Sắc

Bài Văn Phân Tích 8 Câu Cuối Chinh Phụ Ngâm Chọn Lọc – Mẫu 19

Tham khảo bài văn phân tích 8 câu cuối Chinh phụ ngâm chọn lọc dưới đây sẽ giúp các em học sinh hoàn thành tốt và đạt kết quả cao cho bài viết của mình.

Ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVIII với nguyên tác bằng Hán văn của Đặng Trần Côn, Chinh Phụ Ngâm đã mau chóng đi vào lòng mọi tầng lớp quần chúng. Trải qua hơn hai thế kỉ rưỡi cho đến nay, Chinh Phụ Ngâm luôn giữ nguyên giá trị của một viên ngọc văn chương sáng ngời, một sản phẩm đáng tự hào của xứ sở vốn “nổi tiếng thi thư”.

Trong đó, đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cho thấy rõ tâm trạng cô đơn của người vợ nhớ chồng ra trận và nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc thầy của hai tác giả Đặng – Đoàn, với nghệ thuật diễn Nôm đặc biệt xuất sắc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Đoạn trích tinh cảnh lẻ loi của người chinh phụ viết về tình cảnh và tâm trạng người chinh phụ phải sống cô đơn, buồn khổ trong thời gian dài người chồng đi đánh trận mà không rõ tin tức:

Nếu mười sáu câu đầu là đoạn điệp khúc khi mà nỗi nhớ thương và tâm trạng đau thương được đẩy lên đến cùng cực, thì tám câu sau này lại như một đoạn nhạc dạo trước cao trào. Tấm lòng hướng về phương xa nơi chồng đang chinh chiến chậm rãi biến nỗi cô đơn thành một nỗi đau, một nỗi đau không gì sánh được. Như một chữ ‘thiết tha’, nó mài, nó cắt vào ruột gan người đọc hệt như cách nó làm đau đớn lòng người chinh phụ. Trước hết là một ước mong cháy bỏng đêm ngày:

“Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên

Sau những day dứt của một trạng thái bế tắc cao độ, người chinh phụ chợt nảy ra một ý nghĩ rất chân thành mà cũng rất nên thơ: nhờ ngọn gió xuân gửi lòng mình tới người chồng ở chiến trường xa, đang đối đầu từng ngày từng giờ với cái chết để mong kiếm chút tước hầu. Chắc chắn, chàng cũng sống trong tâm trạng nhớ nhung mái ấm gia đinh cùng với bóng dáng thân yêu của người vợ trẻ:

Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

Không gian xa cách giữa hai đầu nỗi nhớ được tác giả so sánh với hình ảnh vũ trụ vô biên: Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Thăm thẳm nỗi nhớ người yêu, thăm thẳm con đường đến chỗ người yêu, thăm thẳm con đường lên trời. Câu thơ hàm súc về mặt ý nghĩa và cô đọng về mặt hình thức. Cách bộc lộ tâm trạng cá nhân trực tiếp như thế này cũng là điều mới mẻ, hiếm thấy trong văn chương nước ta thời trung đại:

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

Hai câu thất ngôn chứa đựng sự tương phản sâu sắc tạo nên cảm giác xót xa, cay đắng. Đất trời thì bao la, bát ngát, không giới hạn, liệu có thấu nỗi đau đớn đang giày vò ghê gớm cõi lòng người chinh phụ hay chăng? Nói như người xưa: trời thì cao, đất thì dày, nỗi niềm uất ức biết kêu ai? Biết ngỏ cùng ai? Bởi vậy nên nó càng kết tụ, càng cuộn xoáy, gây nên nỗi đau đớn khôn nguôi:

Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

Giữa con người và cảnh vật dường như có sự tương đồng khiến cho nỗi sầu thương trở nên da diết, bất tận. Cảnh vật xung quanh người chinh phụ đã chuyển thành tâm cảnh bởi được nhìn qua đôi mắt đẫm lệ buồn thương. Sự giá lạnh của tâm hồn làm tăng thêm sự giá lạnh của cảnh vật. Cũng giọt sương ấy đọng trên cành cây, cũng tiếng trùng ấy rả rích trong đêm mưa gió, nhưng cảnh ấy tình này lại gợi nên bao sóng gió, bao nỗi đoạn trường trong lòng người chinh phụ.

Tình cảnh ấy, tâm trạng ấy tự nó đã nói lên bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia. Ý thơ đi từ tình đến cảnh rồi lại từ cảnh trở về tình, cứ lặp đi lặp lại như vậy nhằm thể hiện rõ tình cảnh lẻ loi và tâm trạng cô đơn của người chinh phụ. Dù ở đâu, lúc nào, làm gì nàng cũng chỉ lầm lũi, vò võ một mình một bóng mà thôi!

Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tác giả đã diễn tả được những diễn biến phong phú, tinh vi các cung bậc tình cảm của người chinh phụ. Cảnh cũng như tình được miêu tả rất phù hợp với diễn biến của tâm trạng nhân vật. Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ đang sống trong tình, cảnh lẻ loi vì chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của vua chúa, tác giả có chủ ý đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện thái độ bất bình, phản kháng đối với chiến tranh phi nghĩa.

Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương một thời, đó là tư tưởng đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc vô cùng chính đáng của con người.

Gửi tặng bạn 💕 Phân Tích Bình Ngô Đại Cáo 💕 18 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Viết một bình luận