Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Trần Tế Xương ❤️ 10 Mẫu

Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Trần Tế Xương ❤️ 10 Mẫu ✅ Tham Khảo Bài Viết Dưới Đây Gồm Những Gợi Ý Chi Tiết Giúp Bạn Lập Dàn Ý Cùng Với Những Bài Văn Mẫu Hay.

Phân Tích Thương Vợ

Trước khi Phân Tích Thương Vợ bạn đọc hãy cùng đọc qua và cảm nhận lời bài thơ dưới đây trước đã nhé.

“Thương vợ” là một trong nhưng bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú. Thể hiện được vẻ đẹp của bà Tú, một người phụ nữ đảm đang, vị tha. Và quan trọng hơn là sự thể hiện tấm lòng thương vợ, biết ơn vợ cũng như lời tự trách mình của Tú Xương.

Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!

🍀 Ngoài Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ. Xem Nhiều Hơn Chùm Thơ Hồ Xuân Hương 🍀 Tuyển Tập Trọn Bộ Bà Chúa Thơ Nôm

Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Dàn Ý

Đầu tiên, SCR.VN xin chia sẻ đến bạn đọc mẫu Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Dàn Ý một cách đầy đủ nhất để bạn có thể nắm được các ý chính của bài thơ để dễ dàng phân tích

I. Mở bài

  • Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương: một tác giả mang tư tưởng li tâm Nho giáo, tuy cuộc đời nhiều ngắn ngủi
  • Thương vợ là một trong số những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú

II. Thân bài

1. Hai câu đề

– Hoàn cảnh bà Tú: mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”

  • Thời gian “quanh năm”: làm việc liên tục, không trừ ngày nào, hết năm này qua năm khác
  • Địa điểm “mom sông”: phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.

⇒ Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định

– Lí do:

  • “nuôi”: chăm sóc hoàn toàn
  • “đủ năm con với một chồng”: một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu cũng không dư.

⇒ Bản thân việc nuôi con là người bình thường, nhưng ngoài ra người phụ nữ còn nuôi chồng ⇒ hoàn cảnh éo le trái ngang

    + Cách dùng số đếm độc đáo “một chồng” bằng cả “năm con”, ông Tú nhận mình cũng là đứa con đặc biệt. Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗi cực nhọc của vợ.

⇒ Bà Tú là người đảm đang, chu đáo với chồng con.

2. Hai câu thực

– Lặn lội thân cò khi quãng vắng: có ý từ ca dao “Con cò lặn lội bờ sông” nhưng sáng tạo hơn nhiều (cách đảo từ lặn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò):

  • “Lặn lội”: Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng
  • Hình ảnh “thân cò”: gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn ⇒ gợi tả nỗi đau thân phận và mang tình khái quát
  • “khi quãng vắng”: thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu

⇒ Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua nghệ thuật ẩn dụ

– “Eo sèo… buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc

    + Buổi đò đông: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cranh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu

– Nghệ thuật đảo ngữ, phép đối, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ hình ảnh dân gian nhấn mạnh sự lao động khổ cực của bà Tú.

⇒ Thực cảnh mưu sinh của bà Tú : Không gian, thời gian rợn ngợp, nguy hiểm đồng thời thể hiện lòng xót thương da diết của ông Tú.

3. Hai câu luận

  • “Một duyên hai nợ”: ý thức được việc lấy chồng là duyên nợ nên “âu đành phận”, Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Tú phải gánh chịu
  • “nắng mưa”: chỉ vất vả
  • “năm”, “mười”: số từ phiếm chỉ số nhiều
  • “dám quản công”: Đức hy sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, ở bà hội tụ cả sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại.

⇒ Câu thơ vận dụng sáng tạo thành ngữ, sử dụng từ phiếm chỉ vừa nói lên sự vất vả gian lao vừa nói lên đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú

4. Hai câu kết

  • Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi: “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”: tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với người phụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều cay đắng vất vả
  • Tự ý thức: “Có chồng hờ hững”: Tú Xương ý thức sự hờ hững của mình cũng là một biểu hiện của thói đời
  • Nhận mình có khiếm khuyết, phải ăn bám vợ, để vợ phải nuôi con và chồng.

→ Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ đối với xã hội, Tú Xương cũng chửi cả thói đời đen bạc.

III. Kết bài

  • Khẳng định lại những nét đặc sắc tiêu biểu về nghệ thuật làm nên thành công nội dung của tác phẩm
  • Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bản thân về người phụ nữ trong xẫ hội hôm nay

🍁 Ngoài Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Dàn Ý. Bỏ Túi Ngay Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính ❤️️ Lời Thơ, Cảm Nhận

Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương

Dựa vào dàn ý bên trên bạn đọc đã có thể dễ dàng viết được bài văn phân tích với đầy đủ những ý chính. Tuy nhiên, để bài văn hay hơn thì bạn có thể tham khảo những bài văn mẫu Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương sau đây.

Bài “Thương vợ” thuộc thể loại thơ trữ tình, bộc lộ tình thương yêu lẫn quý trọng người cần cù, đảm đang, chịu thương chịu khó. Tác giả dựng lên bức chân dung người vợ đảm đang thành hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ truyền thống Việt Nam tháo vát và giàu đức hi sinh.

Bài thơ được mở đầu khá ấn tượng, bằng cái vòng thời gian khép kín “quanh năm” của người đàn bà buôn bán, tảo tần lại gói trong một không gian nhỏ hẹp “mom sông”, vì hai chữ “chồng – con”:

Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng

Hơn thế nữa, cái “danh” bà Tú quả cũng xứng với “cành vàng”. Thế mà, trong buổi lao lụng, phải mua bán trong cảnh chen chúc thì quả là đáng thương. Ấy vậy mà bà Tú cũng chỉ “Nuôi đủ năm con với một chồng”. “Nuôi đủ” là nuôi đầy đủ (không thiếu thốn), hay nuôi chỉ vừa đủ.

Thế cho nên, bà Tú không biết từ lúc nào đã hóa thân thành: “Thân cò” để lặn lội nơi sóng nước eo sèo, nơi quãng vắng thưa người, đã gợi lên nỗi đau thân phận:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Câu thơ thứ ba, với thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ, đã gợi rất nhiều đến hình ảnh con cò trong ca dao:

Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
(Ca dao)

Bà Tú hẳn là không khóc nỉ non như người đàn bà trong câu ca dao kia. Nhưng ai dám bảo bà chưa từng khóc trong lòng, ở cái chốn “eo sèo” buổi “đò đông” ? Danh phận một bà Tú, lại như thân cò nơi quãng vắng đã gợi lên sự hẩm hiu, vất vả, đơn chiếc, lại phải mặc cả buôn bán khi đò đông thì hàng hiếm.

Tú Xương “gợi nhờ” gánh nặng lên vai người vợ, còn mình mải vui chơi, hưởng lạc và “hư hỏng”.

Biết thuốc lá, biết chè tàu
Cao lâu biết vị hồng lâu biết mùi
(Hỏi Ông Trời)

Tú Xương đã ái ngại để rồi sự cảm thông ấy đã đến chỗ cao trào của lòng thương và tự trách mình. Vì mang đến cho vợ thứ duyên nợ không trọn đạo. Câu thơ rơi vào chỗ luận lí về chữ “duyên” với nhiều tầng nghĩa:

Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công.

Duyên theo nghĩa của dân gian hay nghĩa triết học Phật giáo hoặc nói cách khác: Duyên trong “duyên phận”, hay duyên trong “duyên số”, thì trong văn cảnh này, đối với Tú Xương vẫn chỉ sự thiệt thòi về phía vợ. Tú Xương tự trách mình:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không.

Chữ “bạc” của Tú Xương dùng trong câu thơ chính là sự trách mình chửi mình. Nhưng lời trách, chửi ấy rất đỗi chân thành. Để rồi, Tú Xương đi đến sự chế giễu cái “vô tích sự” của mình. Ta cũng từng nghe Tú Xương có lần chế giễu cái “chức quan” tại gia, quanh năm chỉ được phép ra “chiếu chỉ” cho con và ăn lương vợ.

Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ
Đem chuyện trăm năm trở lại bàn.
(Quan tại gia)

Thơ Tú Xương cay độc mà chân thành, trào phúng mà trữ tình, phong lưu mà chung thủy, chửi đời mà chửi mình, cười mình mà khóc mình, trong nỗi đau công danh lận đận, trong nỗi đau thân phận, trong nỗi đau cùng đường tuyệt lối của cảnh cơ hàn.

🌼 Ngoài Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương. Chia Sẻ Thêm Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng ❤️️ Hay Nhất

Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thương Vợ Hay Nhất

Cập nhật thêm Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thương Vợ Hay Nhất mà SCR.VN sưu tầm được bên dưới bạn nhé.

Trần Tế Xương (bút danh là Tú Xương) là nhà thơ trào phúng nổi tiếng. Thơ trào lộng, châm biếm, đả kích của Tú Xương sở dĩ được nhiều người yêu thích vì có tính chất trữ tình (trong tiếng cười có nước mắt). Hai kiệt tác “Sông Lấp” và “Thương vợ” tiêu biểu cho dòng thơ trữ tình của Tú Xương.

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Từ “mom” thật là hay, vừa thấy được nỗi gian truân của bà Tú buôn bán quanh năm bên bờ sông Vị, vừa thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với việc buôn bán khó nhọc của vợ. Từ “mom” là tổng hợp nghĩa của các từ ven, bờ, vực, thềm, thành một từ sáng tạo của nhà thơ làm giầu thêm cho tiếng Việt. Bà Tú buôn thúng bán bưng quanh năm ở “mom sông” mà nuôi chồng, nuôi con:

“Nuôi đủ năm con với một chồng”

Câu thơ chỉ mấy con số khô khốc thế vậy mà tế toái lắm đó! “Nuôi đủ năm con” là vì con, phải nuôi, nên đếm ra để mà nuôi. Nhưng còn chồng thì một chồng chứ mấy chồng, cớ sao lại cũng phải đếm ra “một chồng”? Là vì chồng cũng phải nuôi, mà bà Tú với cái gánh trên vai nuôi năm đứa con đã là vất vả. Lại thêm ông Tú nữa thì gánh nặng gấp đôi.

Nhưng bà Tú được an ủi là vì ông Tú, cái con người tưởng như chỉ biết bông đùa, cười cợt đó lại để tâm đến từng bước chân của bà trên đường lặn lội buôn bán:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Có thể nói lòng thương vợ của nhà thơ dào dạt lên trong hai câu thơ này. Hình ảnh lặn lội thân cò được tác giả mô phỏng theo một biểu tượng trong thi ca dân gian để nói về người phụ nữ lao động. Sang hai câu luận, tác giả chuyển sang diễn tả nội tâm của bà Tú, lời thơ như lời độc thoại của người vợ:

“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công”

Nhân dân ta thường nói “vợ chồng là duyên nợ”. Nhà thơ Tú Xương đã chỉ từ ghép “duyên nợ” thành hai từ đơn: “duyên – nợ”. “Duyên” thì thiêng liêng rồi vì đã có sự tham gia của đấng vô hình (ông Tơ bà Nguyệt). còn “nợ” thì đã thành trách nhiệm nặng nề. “Một duyên hai nợ” đã diễn tả được sự vận động trong tâm trí của bà Tú.

“Năm nắng mười mưa dám quản công”

Thành ngữ “dầm mưa dãi nắng” được tác giả vận dụng sáng tạo thành “năm nắng mười mưa”. Phải nói những con số trong thơ Tú Xương rất có thần. Sự linh diệu của những con số một – hai và năm – mười trong câu luận. “Một duyên hai nợ” đối với “Năm nắng mười mưa”, cho thấy gian khổ cứ tăng lên, bà Tú chịu đựng hết.

Bằng tình cảm chân thành, bằng nghệ thuật sống động, Tú Xương đã thể hiện được hình ảnh người phụ nữ giỏi giang, lam lũ, tần tảo nuôi chồng nuôi con. Bà Tú có những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa.

Bao nhiêu công trạng trong gia đình, ông Tú dành cho bà Tú, ông chỉ nhận về cho mình một chữ “không”. Nhưng bình tâm mà xét thì ông Tú cũng xứng với bà Tú. Vì trên đất nước gian lao và vất vả này có hàng triệu người như bà Tú. Nhưng chỉ có một bà Tú là được vào cõi thơ, cõi bất tử!

Ngoài Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thương Vợ. Gợi Ý Cho Bạn  🍃 Thơ Nguyễn Đình Chiểu 🍃 ý nghĩa.

Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Ngắn Gọn

Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Ngắn Gọn sẽ giúp các bạn có thêm kinh nghiệm, biết cách sử dụng từ ngữ để diễn đạt bài viết của mình.

Niềm xót thương dành cho những người phụ nữ vốn là tiếng lòng trải suốt mọi không gian, thời gian. Trong những câu ca dao, họ đã từng ví mình với “trái bần trôi” để cất lên tiếng hát than thân về số phận bấp bênh. Và ở Tú Xương, những dòng “Thương vợ” mà ông viết cho bà Tú đến nay vẫn có sức hấp dẫn lay động người đọc bởi tình yêu thương và sự biết ơn sâu sắc.

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng”

Trong thời buổi khốn khó, bà Tú phải đảm đương vai trò trụ cột của gia đình bằng việc bán hàng ở mom sông. Công việc ấy diễn ra “quanh năm”, chẳng trừ ngày nào, bất kể mưa nắng. “Quanh năm” là quanh năm suốt tháng, bất kể nắng mưa, nỗi nhọc nhằn của người vợ vì thế cũng lớn dần theo.

Thêm vào đó, nơi bà Tú buôn bán không phải nơi phố chợ sầm uất mà là ở “mom sông”, nơi chứa đựng biết bao nguy hiểm. Ông Tú một đời mải chuyện học hành, thi cử, chỉ mình bà Tú lo gánh nặng mưu sinh. Nhưng vẫn “nuôi đủ năm con với một chồng”. Cách đếm con, đếm chồng có phần lạ đời ấy là nỗi niềm chua chát của ông Tú.

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Sự tảo tần, vất vả của bà Tú khiến nhà thơ gợi nhớ đến hình ảnh đầy thân thương của con cò trong ca dao:

“Cái cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”

Giữa cái rợn ngợp của không gian: “khi quãng vắng”, hình ảnh thân cò hiện lên thật nhỏ bé, đơn côi. Câu thơ đảo động từ “lặn lội” lên đầu lại càng gợi cảm giác xót xa, thương cảm bởi thân phận hẩm hiu của “thân cò”, cũng là thân phận của người phụ nữ.

Đi liền với sự biết ơn còn là những dòng thơ thầm kín ca ngợi đức tính đảm đang và hy sinh của bà Tú:

“Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công”

Vợ chồng gắn bó với nhau bằng cái duyên, cái nợ. Ở đây, nợ nhiều hơn duyên nhưng bà Tú chẳng một lời phàn nàn, lặng lẽ chấp nhận số phận vì chồng, vì con. Một, hai rồi năm, mười, các số từ cứ tăng tiến dần như muốn làm nổi bật sự vất vả và đức hi sinh thầm lặng của bà Tú.

Nỗi tự trào được Tú Xương bật lên ở hai câu cuối khi chửi đời và chửi cả mình:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không”

Nhà thơ như nhập vào nỗi khổ của bà Tú để lên án thói đời bạc bẽo đã làm khổ đời bà. Đời bạc đày ải người vợ hiền đã đành, nay cả chồng cũng vô tâm, hờ hững. Câu thơ chửi đời đã chứa đầy căm phẫn nhưng khi tác giả tự phán xét, lên án bản thân mình còn cay đắng, chua xót hơn.

🍁 Ngoài Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Ngắn Gọn. Bạn Đọc Khám Phá Thêm Thơ Nguyễn Khuyến ❤️️ Tuyển Tập Trọn Bộ Những Bài Thơ

Mẫu Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Mở Bài

Còn đây, SCR.VN xin tổng hợp đến bạn đọc những mẫu Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Mở Bài hay nhất ngay bên dưới nhé.

Mẫu 1:

Nói về tình nghĩa vợ chồng không thể không nhắc đến tác phẩm Thương vợ của Trần Tế Xương. Đúng là Tú Xương đã ý thức được sâu sắc cái vô tích sự của mình đã đem đến cho vợ nên mới có lời “tự chửi” như thế.

Nhưng một người chồng mà dám viết và đã viết ra một lời như vậy. Thì hẳn là phải ăn năn nhiều về mình và thương quý, nể trọng vợ biết bao nhiêu. Chỉ có điều, ông không làm gì, không có cách gì để giúp cho vợ. Đó chính là “cái bi kịch” gia đình đã thành nỗi niềm Thương vợ của ông trong bài thơ này.

Mẫu 2:

Nhà văn Trần Tế Xương là một nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm nói về lòng thương. Cũng như Nguyễn Khuyến, Tú Xương có công phát triển tiếng Việt văn học, Việt hóa thể thơ Đường luật thêm một bước dài, góp phần đổi mới nghệ thuật dân tộc.

Ông để lại hơn 100 bài thơ đều bằng tiếng Việt. Thương vợ được viết khoảng 1896 – 1897. Tác phẩm giới thiệu hoàn cảnh kiếm sống lam lũ, vất vả của bà Tú.

Mẫu 3:

Nói đến thơ trào phúng không ai có thế quên Trần Tế Xương, một giọng thơ đả kích, phê phán sắc sảo, cay độc, mạnh mẽ hiếm có. Nhưng Trần Tế Xương không chỉ là một nhà thơ hiện thực chủ nghĩa như vậy, nói như Nguyễn Tuân, chất hiện thực ấy chỉ là “chân trái”, còn “chân phải” của ông là chất trữ tình.

Trân trọng cảm phục và nhớ tới thơ Tú Xương nhiều hơn có lẽ do người đời được nghe nhịp đập của một trái tim chân thành. “Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương.

Nó là một bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là một bài thơ thế sự. Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của nhà thơ đối với người vợ hiền thảo.

Mẫu 4:

Trần Tế Xương (bút danh là Tú Xương) là nhà thơ trào phúng nổi tiếng, có lẽ là nhà thơ trào phúng đặc sắc nhất trong nền văn học của nước nhà.

Thơ trào lộng, châm biếm, đả kích của Tú Xương sở dĩ được nhiều người yêu thích vì có tính chất trữ tình (trong tiếng cười có nước mắt). Dòng trữ tình trong thơ Tú Xương đôi khi được tách ra thành những bài thơ trữ tình thuần khiết, thấm thía. Hai kiệt tác “Sông Lấp” và “Thương vợ” tiêu biểu cho dòng thơ trữ tình của Tú Xương.

Mẫu 5:

Thơ văn Trần Tế Xương gồm hai mảng lớn: trào phúng và trữ tình. Có bài hoàn toàn là đả kích, châm biếm, có bài thuần là trữ tình. Tuy vậy, hai mảng không tuyệt đối ngăn cách. Thường là châm biếm sâu sắc nhưng vẫn có chất trữ tình. Ngược lại, trữ tình thấm thìa cũng pha chút cười cợt theo thói quen trào phúng. Thương vợ là một bài thơ như vậy.

🌼 Ngoài Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Mở Bài. Chia Sẻ Thêm Bài Thơ Bác Ơi Tố Hữu ❤️️ Nội Dung, Phân Tích Cảm Nhận

Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Lớp 11 Kết Bài

Tổng hợp những kết bài về bài thơ Thương vợ hay nhất để giúp bạn viết đoạn kết bài phân tích Thương vợ một cách cô đọng nhất. Khám phá ngay bạn nhé.

Kết bài 1:

Bài thơ “Thương vợ” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Ngôn ngữ thơ bình dị như là tiếng nói đời thường nơi “mom sông” của những người buôn bán nhỏ, cách đây một thế kỉ. Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể (bà Tú với “năm con, một chồng”) vừa khái quát sâu sắc (người phụ nữ ngày xưa).

Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm: thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau đời. “Thương vợ’” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp. Tú Xương chiếm một địa vị vẻ vang trong nền văn học Việt Nam. Tên tuổi ông sống mãi với non Côi, sông Vị.

Kết bài 2:

Tóm lại “Thương vợ” là một bài thơ hay mang đậm giá trị cảm xúc của Tú Xương. Nó hay trong cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh trong ca dao, thành ngữ của Tú Xương. Bài thơ lại mang đậm cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc.

Nói lên tình cảm yêu thương, sự quý trọng mà Tú Xương dành cho vợ. Bên cạnh đó, bài thơ còn thể hiện đức tính đẹp của người phụ nữ Việt Nam xã hội xưa nói chung và bà Tú nói riêng.

Kết bài 3:

Với dung lượng của một bài thơ ngắn nhưng Tú Xương đã đem đến những nét vẽ đầy đủ và trọn vẹn nhất về vẻ đẹp nhân cách, phẩm chất hi sinh cao quý của bà Tú đối với gia đình.

Đồng thời đây cũng là những lời thơ tự trào phúng về sự bất lực của bản thân. Ngoài ra, bài thơ cũng là sự thành công trên nhiều phương diện: ngôn ngữ, hình ảnh, kết hợp giữa chất trào phúng và trữ tình.

Kết bài 4:

Cả bài thơ cô đúc lại ở ý này: ở câu đề, ông chồng có mặt với tư cách là một miệng ăn phải nuôi, ở câu thực, câu luận, ông chồng vắng bóng. Bài thơ chấm dứt bằng sự day dứt, ân hận trong câu kết: Có chồng hờ hững cũng như không, càng làm tăng thêm nỗi thương vợ của nhà thơ.

Đó là cách nói của Tú Xương, đã nói gì là nói ráo riết đến tận cùng. Tuy nhiên, có điều này ông đã nói oan cho mình: đó là hai chữ hờ hững. Vì giận mình mà ông nói thế thôi, chứ thực lòng ông đâu có hờ hững với bà. Bởi nếu ông hờ hững thì đã không có bài Thương vợ thấm thía và cảm động đến như vậy.

Kết bài 5:

Bằng tình cảm chân thành, bằng nghệ thuật sống động. Tú Xương đã thể hiện được hình ảnh người phụ nữ giỏi giang, lam lũ, tần tảo nuôi chồng nuôi con. Bà Tú có những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa. Bao nhiêu công trạng trong gia đình, ông Tú dành cho bà Tú, ông chỉ nhận về cho mình một chữ “không”.

Nhưng bình tâm mà xét thì ông Tú cũng xứng với bà Tú. Vì trên đất nước gian lao và vất vả này có hàng triệu người như bà Tú, nhưng chỉ có một bà Tú là được vào cõi thơ, cõi bất tử!

🍁 Ngoài Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Lớp 11 Kết Bài. Bỏ Túi Thêm Thơ Hồ Dzếnh ❤️ Tuyển Tập Những Bài Thơ Hay Nhất

Dàn Ý Phân Tích 2 Câu Đầu Bài Thương Vợ

Bạn đọc hãy tham khảo thêm Dàn Ý Phân Tích 2 Câu Đầu Bài Thương Vợ. Hai câu thơ đầu đặc biệt khắc họa hình ảnh của bà Tú đầy tần tảo.

1. Mở bài

  • Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương. Một tác giả mang tư tưởng li tâm Nho giáo, tuy cuộc đời nhiều ngắn ngủi
  • Thương vợ là một trong số những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú.
  • Hai câu thơ đầu đặc biệt khắc họa hình ảnh của bà Tú đầy tần tảo

2. Thân bài

“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng”

  • Hoàn cảnh bà Tú: mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”
  • Thời gian “quanh năm”: làm việc liên tục, không trừ ngày nào, hết năm này qua năm khác
  • Địa điểm “mom sông”: phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.

⇒ Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định.

Lí do:

  • “nuôi”: chăm sóc hoàn toàn
  • “đủ năm con với một chồng”: một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu cũng không dư.

⇒ Bản thân việc nuôi con là người bình thường. Nhưng ngoài ra người phụ nữ còn nuôi chồng ⇒ hoàn cảnh éo le trái ngang

  • Cách dùng số đếm độc đáo để người đọc cảm thấy “một chồng” bằng cả “năm con”. Ông Tú nhận mình cũng là đứa con đặc biệt. Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗi cực nhọc của vợ.

⇒ Bà Tú là người đảm đang, chu đáo với chồng con.

3. Kết bài

  • Khẳng định lại những nét đặc sắc tiêu biểu về nghệ thuật làm nên thành công khắc họa sự vất vả của người phụ nữ xưa.
  • Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bản thân về người phụ nữ trong xã hội hôm nay.

🌼 Ngoài Dàn Ý Phân Tích 2 Câu Đầu Bài Thương Vợ. Bật Mí Thêm Cảm Nhận Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ ❤️ 10 Bài Văn Mẫu Hay

Mẫu Phân Tích 4 Câu Đầu Bài Thương Vợ

Tiếp theo đây, SCR.VN xin gửi đến bạn đọc bài văn Mẫu Phân Tích 4 Câu Đầu Bài Thương Vợ. Bạn đọc đừng bỏ lỡ nhé.

Bài thơ “Thương vợ” gửi gắm tình cảm đó. Trong đó, 4 câu thơ đầu là hình ảnh chân thực về một bà Tú – người mẹ, người vợ khắc khổ nhưng đảm đang, tần tảo, giàu đức hi sinh.

Thể hiện điều đó, Tú Xương bắt đầu từ cách giới thiệu công việc của bà Tú:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông”

Công việc của bà Tú là buôn bán. Vì miếng cơm manh áo mà phải làm công việc vất vả ấy. Suốt thời gian “quanh năm”, bà Tú làm không ngơi nghỉ. Về không gian làm việc, Tú Xương dùng từ “mom sông”. Nó gợi sự chấp chới, hiểm nghèo. Một câu thơ ngắn nhưng người đọc thấy được cả bức chân dung của người phụ nữ vất vả, nhọc nhằn.

Ấy vậy, bà Tú vẫn có thể nuôi sống gia đình:

“Nuôi đủ năm con với một chồng”

Bà Tú “nuôi đủ”, chứ không thừa, không thiếu. Một mình bà Tú gánh trên vai 5 đứa con thơ dại kèm theo “một chồng”. Hơn nữa, từ “với” tạo thế cân bằng giữa “năm con” và “một chồng”. Chính điều này đã ngầm so sánh gánh nặng nuôi chồng còn nặng ngang với cả 5 đứa con.

Tới câu thơ tiếp, Tú Xương miêu tả chân dung bà Tú thông qua hành động:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng”

Không phải đột nhiên Tú Xương thay đổi nội dung thơ chuyển tới than thân cò, thân vạc. Tú Xương đang mượn thân cò để điển hình cho hình ảnh bà Tú. Hình ảnh nhân vật chuyển tới không gian của những “quãng vắng”. Nơi mà luôn có những “hố tử thần” sẵn sàng lấy đi tính mạng bất cứ ai không may sa chân.

Tú Xương đặt động từ “lặn lội” lên đầu câu nhằm nhấn mạnh vào bức chân dung nhân vật. Nó gợi những bước chân bập bõm, lận đận mò mẫm bùn lầy nhờ đó càng cho thấy nỗi vất vả cơ cực của bà Tú.

Từ ngày về đêm và cuối cùng trở lại ngày, một vòng tuần hoàn công việc không bao giờ dứt:

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Bà Tú hiện lên trong không gian buổi đò đông. Lại tiếp tục là chân dung người phụ nữ phải bon chen, giành giật sự sống với đời. Thêm nữa, láy tượng thanh “eo sèo” bổ nghĩa “mặt nước” khiến người đọc liên tưởng tới không gian mặt nước mênh mông. Ở đâu, nơi nào ta cũng thấy rõ 2 điều, công việc vất vả, hiểm nguy và con người tần tảo.

Tóm lại, 4 câu thơ đầu bài “Thương vợ” đã cho thấy nhiều đặc sắc nghệ thuật của Tú Xương. Qua đoạn thơ, Tú Xương không chỉ ca ngợi vẻ đẹp phẩm chất đảm đang, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh của bà Tú. Đồng thời còn thể hiện nỗi hổ thẹn của chính tác giả.

💌 Ngoài Mẫu Phân Tích 4 Câu Đầu Bài Thương Vợ. Tiết Lộ Thêm Phân Tích Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử ❤️ 10 Bài Hay

Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ 6 Câu Đầu

Để các bạn hình dung ra được bài làm đầy đủ hơn với đề bài Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ 6 Câu Đầu. Thì bạn có thể tham khảo ngay bài văn mẫu hay bên dưới nhé.

“Thương vợ” của Tú Xương thuộc đề tài nói về người vợ. Đây là một đề tài hiếm gặp trong thời kì văn học trung đại. Và đó cũng có thể là điều minh chứng cho tình yêu thương vô hạn và sự biết ơn của Tú Xương với vợ của mình.

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú, đảo, đối, được chia làm bốn phần: đề – thực – luận – kết. Phần đầu là hình ảnh của bà Tú dưới cái nhìn của ông Tú.

“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng”

Công việc của bà Tú là buôn bán nhưng không phải ở trong chợ mà là ở mom sông, là một nơi nguy hiểm, không vững chãi. Thời gian mà bà Tú phải làm là quanh năm thời điểm này cho ta thấy công việc của bà phải làm là một công việc liên tục lặp lại.

Câu thứ hai khi đọc người đọc có thể cảm nhận phong cách viết thơ tự trào hóm hỉnh của Tú Xương. Ông không chỉ kể ra rằng bà Tú đã phải nuôi đủ con và chồng cả đủ ăn, đủ mặc. Ông còn kể rất tỉ mỉ “năm con”, “một chồng”.

Thật đáng cười cho một nhà nho bám vợ như ông:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Ở đây ta có thể thấy rõ tác giả đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ dùng trong thân cò. Một hình ảnh hay được đùng để ví von với người phụ nữ Việt có số phận cực khổ.

Trong câu thơ thứ ba tác giả đã đảo ngược từ lặn lội đứng trước danh từ chủ thể thân cò kết hợp với cụm từ quãng vắng. Ngoài ra có thể để ý ta sẽ thấy một sự đối lập ở hai câu ba và bốn giữa “lặn lội” và “eo sèo”; “khi quãng vắng” – “buổi đò đông”. Cho thấy nỗi vất vả một mình của bà Tú vừa phải gánh vác.

Bốn câu thơ đầu nói nên cuộc sống bấp bênh của bà Tú nhưng dù vậy bà vẫn chăm lo chu đáo cho gia đình.

Nhà thơ thể hiện sự thán phục hình ảnh người phụ nữ tảo tần, nhỏ bé, tiếp tục cực tả nỗi vất vả đơn chiếc. Nhưng đồng thời cũng kín đáo tự nhận mình là vô tích sự, làm khổ vợ con.

“Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công”

Ở hai câu năm và sáu đều sử dụng các thành ngữ dân gian như “một duyên hai nợ” ; “năm nắng mười mưa”. Là những câu chữ nói nên sỗ phận cực khổ của một con người.

Thành ngữ ở câu năm phiếm chỉ duyên chỉ có một mà nợ đến những hai. Gánh nặng thì nhiều mà hạnh phúc và sự may mắn thì lại ít ỏi. Câu sáu với cách kết hợp từ tăng tiến ẩn dụ cho nỗi vất vả nhọc nhằn. Cùng với nghệ thuật đối “năm náng mười mưa” với “dám quản công”. Thể hiện sự hi sinh trầm lặng của bà Tú.

Từ những câu thơ trên đã khắc họa thành công Chân dung bà Tú điển hình cho người phụ nữ Viêt Nam, tảo tần, chịu thương, hi sinh, chịu đựng. Tấm lòng thương vợ đến đây không chỉ thương xót, mà còn thương cảm thấm thía.

🌼 Ngoài Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ 6 Câu Đầu. Bật Mí Thêm Bài Ca Xuân 61 Tố Hữu ❤️ Cảm Nhận, Phân Tích Hay Nhất

Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương

Với đề bài nêu Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương thì bạn hãy tham khảo dàn ý trước đã nhé.

Thương vợ Tú Xương thật sự là một bài thơ chân thành và xúc động. Điều đó sẽ được minh chứng qua những dòng cảm nhận sau đây.

1. Cảm nhận hai câu đề:

Hai câu thơ đầu đã giới thiệu cho người đọc biết về hoàn cảnh làm ăn buôn bán của bà Tú:

Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.

Trong hai câu thơ này, ta có thể cảm nhận được hoàn cảnh lam lũ, nhọc nhằn và hình ảnh tất tả, xuôi ngược của bà Tú qua thời gian và địa điểm được nhắc đến trong thơ. Những điều đó được gợi nên bằng các từ: “quanh năm” và “mom sông”. Trong khi từ “quanh năm” thể hiện sự xuyên suốt, ròng rã. Thì từ “mom sông” lại gợi nên sự bấp bênh của nơi mà bà Tú làm việc.

2. Cảm nhận hai câu thực:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Đọc hai câu thơ tiếp theo, ta lại thấm thía hơn những gian khó, nhọc nhằn của người vợ. Những cảm nhận ấy được Tú Xương khéo léo gợi lên một lần nữa trong lòng người đọc qua những từ ngữ, hình ảnh mà ông sử dụng. “lặn lội”, “thân cò”, “khi quãng vắng”, “eo sèo”, “buổi đò đông”. 

3. Cảm nhận hai câu luận:

Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.

Cặp câu này đã tô đậm đức hi sinh của bà Tú. Dù có thể cuộc đời đặt bà vào hoàn cảnh có nhiều khó khăn, thử thách, bà không than phiền hay trách cứ. Mà chỉ nhẹ nhàng xem đó là “duyên”, “nợ” của cuộc đời mình. Thế nên bà nhận về mình trách nhiệm với gia đình, với chồng con. Giữ thái độ chấp nhận “âu đành phận” và cũng chẳng “dám quản công” mà phàn nàn.

4. Cảm nhận hai câu kết:

Hai câu thơ cuối bộc lộ rất rõ tình cảm và thái độ của tác giả trong bài thơ. Đó dường như là tiếng lòng, là nỗi niềm mà nhà thơ muốn gửi gắm sau tất cả:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, 
Có chồng hờ hững cũng như không.

Cụm từ “cha mẹ thói đời” thể hiện thái độ có phần gay gắt của Tú Xương đối với nếp xấu chung của xã hội và người đời. Dù hữu ý hay vô tình cũng đã ít nhiều tác động đến những nhọc nhằn, lam lũ mà bà Tú gánh chịu. 

Hơn hết, ông Tú cũng nghiêm khắc phê bình bản thân mình. Điều đó thể hiện rất rõ nét trong câu thơ cuối: “Có chồng hờ hững cũng như không”. Ông nhận khiếm khuyết của mình, có thể xem mình là nguyên nhân sâu xa nhất khiến bà Tú phải khổ.

🍃 Ngoài Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ. Gợi Ý Cho Bạn Thơ Tình Hàn Mạc Tử ❤️️ Chùm Thơ Về Tình Yêu Hay Nhất

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương

Với những gợi ý để cảm nhận về bài thơ Thương vợ. Hi vọng rằng các bạn học sinh sẽ có thể làm tốt bài viết tốt. SCR.VN gửi thêm đến bạn bài văn mẫu Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương.

Trong lịch sử văn học nước ta xưa nay, thơ viết về vợ vốn không nhiều. Do đó, thơ hay nghĩa là viết chân thật, sâu sắc và xúc động về đề tài này lại càng hiếm hoi. Vì vậy có thể xem Trần Tế Xương là một trường hợp đặc biệt. Trong thơ mình, ông nói đến vợ rất nhiều lần.

Thương vợ là một bài thơ trữ tình – trào phúng đậm sắc dân gian đầy cảm động. Để bộc lộ lòng thương quý, biết ơn và trân trọng vợ mình, nhà thơ đã cực tả nỗi nhọc nhằn lao khổ của bà. Qua đây, ông ca ngợi đức tính đảm đang, lòng hi sinh thầm lặng cao cả một bậc hiền phụ.

Trong hai câu thơ đầu, Tú Xương đã nói về sự vất vả và nhẫn nại của vợ mình một cách tự nhiên, thân mật, dí dỏm và hóm hỉnh. Ông vừa giới thiệu cái gánh nặng chồng con trên vai bà vừa cho thấy một cách gián tiếp tình cảm sâu nặng của mình dành cho vợ:

Hai câu thơ là một lời chấm công. Trong câu thơ đầu, bản thân công việc buôn bán tuy chưa đủ thể hiện được sự vất vả hay nhẫn nại nhưng hoàn cảnh thời gian (quanh năm) và hoàn cảnh không gian (ở mom sông) thì lại nói khá rõ về điều đó.

Vì sao bà phải vất vả đến như vậy? Câu thơ thứ hai đã trả lời rõ:

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Nhà thơ đã nâng cao vợ mình lên hàng trụ cột của gia đình. Cả một gánh nặng sinh kế đã đặt lên vai người phụ nữ. Bà quanh năm khó nhọc, vất vả, bất kế nguy hiểm, gian nan là để nuôi đủ năm con và một chồng nghĩa là sáu miệng ăn hết thảy chưa kể cả chính mình. Nhưng đồng thời ông cũng đã tự hạ mình xuống thành ngang hàng với lũ con.

Tiếp theo là hai câu thực nhà thơ đã thể hiện tình thương vợ của mình bằng cách miêu tả cái vất vả, gian nan mà cũng là cái đảm đang của bà Tú:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Mượn hình ảnh cô đơn, vất vả của con cò trong ca dao xưa: con cò lặn lội bờ sông… Ông trau chuốt thêm bằng bàn tay nghệ sĩ tài hoa của mình. Nếu ca dao thường dùng hình ảnh con cò để so sánh, ví von gián tiếp về người phụ nữ tảo tần. Thì ở đây Tú Xương đã đồng nhất trực tiếp thân cò với thân phận người vợ.

Câu thơ tiếp theo nói thêm sự vật lộn với sinh kế của bà Tú. Gặp phải buổi đò đông bà đều phải chịu cảnh bị xô đẩy, tranh giành nhau lời qua tiếng lại eo sèo để mặc cả mua bán như ai. Câu thơ này tuy không trực tiếp trích lời ca dao. Nhưng vẫn đâu đây thấp thoáng ý tình. Con đi mẹ dặn lời này, Sông sâu chớ lội, đò đầy khoan sang.

Chỉ với hai câu thơ bằng những từ ngữ gợi tả và cảm động. Tú Xương làm hiện lên rõ nét hình ảnh một người vợ thui thủi làm ăn. Một mình toan lo lặn lội trong những khung cảnh không gian và hoàn cảnh thời gian vất vả.

Nếu bốn câu thơ đầu vừa phân tích hoàn toàn là lời ông Tú nói về vợ mình. Thì bốn câu sau lại thể hiện giọng bà Tú tự than thân, trách phận chính mình.

Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công

Tiền bạc phó cho con mụ kiếm; Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ… thì đúng là một thứ nợ đời. Duyên thì ít mà nợ thì nhiều là như vậy. Một câu thơ mà những hai lần cam chịu. Vì cam chịu nên Năm nắng mười mưa dám quản công là vậy. Cho dầu nắng mưa đến mấy bà vẫn không chút e ngại, chẳng tiếc chi công sức của mình.

Sau cùng, hai câu kết của bài thơ là một lời chửi rủa:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không!

Thác lời của bà Tú, nhà thơ đã chửi rủa chính cái bạc bẽo và cái vô tích sự của người chồng nghĩa là của chính mình. Tất cả nỗi thương vợ cùng với sự bất lực giận mình. Giận đời đã lắng đọng trong tiếng chửi rủa đầy day dứt, xót xa kia.

Như vậy Thương vợ đúng là một bài thơ hay cho ta hình dung được nỗi lòng thương yêu mênh mông chân thành và sâu sắc của nhà thơ đôi với người vợ chịu thương, chịu khó, hi sinh lặng thầm vì gánh nặng chồng con.

🌼 Ngoài Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Trần Tế Xương. Chia Sẻ Thêm Dàn Ý Đây Thôn Vĩ Dạ ❤️ Mẫu Dàn Ý Phân Tích Chuẩn Nhất

Viết một bình luận