Cảm Nhận Cảnh Ngày Xuân ❤️️ 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Cảm Nhận Cảnh Ngày Xuân ❤️️ 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất ✅ SCR.VN Chọn Lọc, Tuyển Tập Bài Viết Nghị Luận Văn Học Lớp 9 Với Những Cảm Nhận Đặc Sắc.

Dàn Ý Cảm Nhận Cảnh Ngày Xuân

Tham khảo dàn ý cảm nhận Cảnh ngày xuân dưới đây sẽ giúp các em học sinh nắm được những nội dung chính và bố cục cơ bản để triển khai bài viết.

I. Mở bài cảm nhận Cảnh ngày xuân:

  • Giới thiệu về tác giả Nguyễn Du, tác phẩm Truyện Kiều
  • Giới thiệu nội dung cảm nhận văn học – đoạn trích “Cảnh ngày xuân”.

II. Thân bài cảm nhận Cảnh ngày xuân:

1.Khung cảnh thiên nhiên mùa xuân:

-Thời gian: “ngày xuân”, “chín chục đã ngoài sáu mươi” – Ý chỉ thời gian trôi qua thật nhanh, đã bước sang tháng thứ ba.

-Không gian: “thiều quang” – ánh sáng đẹp đẽ của mùa xuân bao trùm không gian.

-Bức tranh thiên nhiên điểm một vài nét nổi bật:

  • “Cỏ non xanh tận chân trời”: không gian bao la tràn ngập sự sống của mùa xuân.
  • “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”: đảo ngữ nhấn mạnh hình ảnh những bông hoa lê với sắc trắng đặc trưng cho mùa xuân.
  • Động từ “điểm” gợi ra hình ảnh bàn tay người họa sĩ đang vẽ nên những bông hoa lê để tô điểm cho cảnh mùa xuân tươi, khiến cảnh vật trở nên sống động có hồn.
  • Chỉ vài nét chấm phá, tác giả đã gợi tả bức tranh thiên nhiên đầy sinh động.

2.Khung cảnh lễ hội trong tết Thanh minh:

-Khung cảnh tết Thanh minh diễn ra với hai phần:

  • lễ Tảo mộ (dọn dẹp, sửa sang phần mộ của người đã mất)
  • hội Đạp thanh (ý chí hành động du xuân).

-Không khí lễ hội được diễn ta qua một loạt các từ ngữ:

  • Các từ “nô nức”, “gần xa” và “ngổn ngang” bộc lộ tâm trạng của người đi hội.
  • Hình ảnh “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” gợi sự đông đúc của những người đi hội.
  • Khung cảnh lễ hội mang đậm truyền thống văn hóa của dân tộc.

3.Khung cảnh chị em Thúy Kiều khi ra về:

  • Thời gian: “Tà tà bóng ngả về tây” – thời điểm kết thúc của một ngày.
  • Hình ảnh chị em Thúy Kiều: “thơ thẩn dan tay ra về” – lễ hội kết thúc cũng là lúc con người phải trở về với sinh hoạt hằng ngày.
  • Hai câu cuối: khắc họa cảnh vật trên đường trở về, qua đó bộc lộ tâm trạng nuối tiếc của con người.

III. Kết bài cảm nhận Cảnh ngày xuân:

  • Khẳng định lại giá trị của đoạn trích Cảnh ngày xuân.
  • Nêu cảm nhận về đoạn trích trên.

Xem nhiều hơn 🌹 Tóm Tắt Cảnh Ngày Xuân 🌹 12 Bài Mẫu Ngắn Gọn Siêu Hay

Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Về Cảnh Ngày Xuân

Gợi ý viết đoạn văn cảm nhận về Cảnh ngày xuân dưới đây sẽ giúp các em học sinh có được cho mình những ý tưởng hay khi làm bài.

Truyện Kiều là một trong những tác phẩm kiệt tác của nhà văn Nguyễn Du. Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” (trích Truyện Kiều) đã khắc họa bức tranh thiên nhiên cùng lễ hội mùa xuân tươi đẹp trong sáng.

Với bốn câu thơ đầu tiên, Nguyễn Du đã cho người đọc cảm nhận về bức tranh thiên nhiên:

“Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Ngày xuân đến với sự xuất hiện của “cánh én đưa thoi” – đó là biểu tượng của mùa xuân đã về. Về thời gian của ngày xuân lúc này đã “ngoài sáu mươi”, có nghĩa là đang đến tháng ba rồi. Câu thơ gợi ra thời gian trôi qua thật nhanh, đã bước sang tháng thứ ba. Còn không gian có sự xuất hiện của “thiều quang” đó là ánh sáng đẹp đẽ của mùa xuân bao trùm không gian.

Trong không gian, thời gian đó, bức tranh thiên nhiên điểm một vài nét nổi bật. Đó là hình ảnh “cỏ non xanh tận chân trời” – những thảm cỏ xanh mướt kéo dài đến tận chân trời giống như một cánh đồng mênh mông, tràn đầy sức sống. Giữa màu xanh của sự sống có sự điểm xuyết của một vài bông hoa lê. Nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh hình ảnh những bông hoa lê với sắc trắng đặc trưng cho mùa xuân. Khi so sánh cảnh mùa xuân ở đây với câu thơ cổ Trung Quốc:

“Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa”

(Cỏ thơm liền với trời xanh
Trên cành lê có mấy bông hoa)

Người đọc mới cảm nhận hết được tài năng của Nguyễn Du. Bức tranh thiên nhiên trong câu thơ cổ Trung Quốc gợi tả một bức tranh xuân có hương vị, màu sắc và đường nét: Mùi cỏ thơm như lan tỏa khắp không gian đến tận trời xanh. Trên cành lê có vài bông hoa. Cảnh vật hiện lên như một bức tranh tĩnh lặng.

Còn với câu thơ của Nguyễn Du thì không gian thiên nhiên lại bao la tràn ngập sự sống của mùa xuân. Hình ảnh “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”: đảo ngữ nhấn mạnh hình ảnh những bông hoa lê với sắc trắng đặc trưng cho mùa xuân. Từ “điểm” gợi ra hình ảnh bàn tay người họa sĩ đang vẽ nên những bông hoa lê để tô điểm cho cảnh mùa xuân tươi, khiến cảnh vật trở nên sống động có hồn. Bức tranh thiên nhiên mùa xuân như chuyển động, tràn đầy sức sống.

Tiếp đến, tác giả cho người đọc thấy được khung cảnh tết Thanh minh diễn ra với hai phần: lễ Tảo mộ (dọn dẹp, sửa sang phần mộ của người đã mất) và hội Đạp thanh (ý chí hành động du xuân):

Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”

Không khí lễ hội được diễn ta qua một loạt các từ ngữ “nô nức”, “gần xa” và “ngổn ngang” bộc lộ tâm trạng của người đi hội. Kết hợp với hình ảnh “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” gợi sự đông đúc của những người đi hội. Tác giả Nguyễn Du đã cho ta thấy được một khung cảnh lễ hội mang đậm truyền thống văn hóa của dân tộc.

Nhưng bất kỳ cuộc vui nào cũng phải kết thúc, khi bóng chiều đổ xuống cũng là lúc chị em Thúy Kiều phải ra về:

“Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

Trước hết, tác giả đã gợi tả thời gian đó là “tà tà bóng ngả về tây” – thời điểm kết thúc của một ngày, con người trở về nhà sau một ngày dài. Sau đó là hình ảnh chị em Thúy Kiều xuất hiện với vẻ “thơ thẩn dan tay ra về”, đó là khi lễ hội kết thúc cũng là lúc con người phải trở về với sinh hoạt hằng ngày.

Hai câu cuối cùng đã khắc họa cảnh vật trên đường trở về, qua đó bộc lộ tâm trạng nuối tiếc của con người. Một loạt những từ láy như “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” và “nho nhỏ” vừa gợi tả âm thành, cũng vừa diễn tả tâm trạng của chị em Thúy Kiều. Cảnh và người như có sự tương liên để giao hòa trong bầu không khí đầy bâng khuâng, lưu luyến. Qua những câu thơ trên, người đọc như dự cảm được về những sự việc sắp xảy ra.

Tóm lại, đoạn trích “Cảnh ngày xuân” đã giúp người đọc cảm nhận được không khí ngày xuân với bức tranh thiên nhiên cùng bức tranh lễ hội truyền thống của dân tộc. Nguyễn Du quả là nhà văn tài năng với kiệt tác “Truyện Kiều”.

Mời bạn đón đọc 🌜 Sơ Đồ Tư Duy Cảnh Ngày Xuân 🌜 8 Mẫu Vẽ Tóm Tắt Hay

Cảm Nhận Của Em Về Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân – Mẫu 1

Với đề văn cảm nhận của em về đoạn trích Cảnh ngày xuân, các em học sinh có thể tham khảo gợi ý làm bài dưới đây:

Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc Việt Nam là danh nhân văn hoá thế giới. Truyện Kiều là một kiệt tác của thiên tài Nguyễn Du. Đoạn trích Cảnh ngày xuân là một trong những đoạn trích hay của truyện Kiều, được trích ở phần một gặp gỡ và đính ước. Sau bức chân dung tài sắc của chị em Thuý Kiều là bức hoạ về cảnh sắc mùa xuân trong tiết thanh minh và cảnh du xuân của trai tài gái sắc. Đoạn thơ Cảnh ngày xuân có 18 câu từ câu 39 đến 56 của Truyện Kiều tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật tả cảnh và tả tình của Nguyễn Du.

Mở đầu bài thơ tác giả miêu tả bức tranh mùa xuân:

Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Một không gian nghệ thuật hữu sắc hữu hương hữu tình nên thơ được mở ra. Giữa bầu trời bao la mênh mông là những cánh én bay qua bay lại như đưa thoi cách nói mùa xuân thân mật biết bao. Hai chữ đưa thoi rất gợi hình gợi cảm vút qua vút lai chao liệng để diễn tả thời gian trôi nhanh mùa xuân đang trôi nhanh.

Sau cánh én đưa thoi là ánh xuân “Thiều Quang” của mùa xuân chín chục đã ngoài sáu mươi. Cách tính thời gian và miêu tả vẻ đẹp mùa xuân của thi sỹ thật thú vị mùa xuân đã bước sang tháng ba ánh sáng của mùa xuân hồng ấm áp. Rồi còn cả sắc xanh mơn mởn ngọt ngào của cỏ non trải dài trải rộng như thảm “đến tận trân trời”.

Còn sắc trắng tinh khôi thanh khiết của hoa lê. Chỉ bằng vài nét thôi cộng với sự pha trộn màu sắc tài tình cảnh mùa xuân hiện ra thật đẹp nó có sự mới mẻ và sức sống đang trỗi dậy của màu xanh của cỏ non có sự tinh khôi tươi đẹp của những bông hoa lê trắng và bức tranh thật sống động bởi động từ điểm

Tám câu thơ tiếp theo tả cảnh chảy hội mùa xuân:

“Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước áo quần như nêm
Ngổn ngang gò đống kéo lên
Ngựa xe như nước áo quần như nêm

Lễ tảo mộ đi viếng sửa sang phần mộ người thân hội đạp thanh (dẫm lên cỏ xanh) đi chơi xuân ở chốn đồng quê. Điệp từ “lễ là…….hội là” gợi nên cảnh lễ hội dân gian cứ liên tiếp diễn ra bao đời nay. Cảnh chảy hội đông vui tưng bừng náo nhiệt. Trên các nẻo đồng gần xa những dòng người cuồn cuộn chảy hội. Có biết bao yến anh chảy hội (hình ảnh ẩn dụ chỉ các nam thanh nữ tú). Trong niềm vui nô nức hồ hởi dục dã. Có biết bao tài tử giai nhân dập dìu sánh vai chân nối chân nhịp bước.

Dòng người chảy hội tấp lập ngựa xe cuồn cuộn như nước áo quần đẹp đẽ tươi thắm sắc màu nghìn nghịt đông vui trên các nẻo đường như nêm các từ ngữ “nô nức dập dìu” các hình ảnh so sánh “như nước như nêm” đã gợi tả mùa xuân tưng bừng náo nhiệt khắp mọi miền quê.

Trẻ trung sinh đẹp sang trọng phong lưu trong đám tài tử giai nhân là ba chị em Kiều đang xốn sang náo nức chuẩn bị du xuân, các từ ghép “yến anh chị em tài tử giai nhân ngựa xe áo quần (danh từ). Gần xa nô nức sắm sửa dập dìu “động từ, tính từ” được thi hào Nguyễn Du sử dụng làm sống lại không khí mùa xuân một nét đẹp của nền văn hoá lâu đời của phương đông và nếp sống của chị em Thuý Kiều.

Ngổn ngang gò đống kéo lên
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”

Đời sống tâm tình phong tục dân gian cổ truyền trong lễ tảo mộ được Nguyễn Du nối đến với những cảm thông chia sẻ trước những ngôi mộ người ta rắc vàng thoi bạc giấy bày cỗ thắp nến đốt nhang khấn vái để tưởng nhớ những người thân đã mất tạo ra một không gian giao hoà trong cõi tâm linh mỗi con người.

Sáu câu thơ cuối ghi lại cảnh chị em Thuý Kiều đi tảo mộ đang bước dần trở về. Mặt trời đã tà tà gác núi. Ngày hội ngày vui đã trôi qua nhanh:

“Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dang tay ra về”

Hội tan ngày tàn sao chẳng buồn. Nhịp thơ chậm dãi nhịp sống như ngừng trôi. Tâm tình “thơ thẩn” cử chỉ “dan tay” nhịp chân “bước dần” một cái nhìn man mác bâng khuâng “lần xem”. Đối với mọi cảnh vật tất cả đều nhỏ bé khe suối chỉ là ngọn tiểu khê, phong cảnh dòng nước nao nao uốn quanh nhịp cầu nho nhỏ uốn quanh cối ghềnh.

Cả một không gian êm đềm vắng lặng tâm tình chị em Kiều như dịu lại trong bóng tà dương như đang đợi chờ một cái gì sẽ đến sẽ nhìn thấy, nên cặp mắt cứ lần xem gần xa. Các từ láy tượng hình “thanh thanh, nao nao, nho nhỏ” gợi lên sự nhạt nhòa của cảnh vật và sự rung động của tâm hồn giai nhân khi hội tan nỗi buồn man mác bâng khuâng thấm sâu lan toả trong tâm hồn của giai nhân đa tình đa cảm.

Bằng nghệ thuật miêu tả thiên nhiên theo trình tự thời gian không gian kết hợp tả với gợi tả cảnh thể hiện tâm trạng. Từ ngữ giàu chất tạo hình sáng tạo nghệ thuật đối lập sử dụng từ ghép từ láy. Đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên mùa xuân đẹp đẽ khoáng đạt tinh khôi thanh khiết mới mẻ và đầy sức sống cảnh lễ hội mùa xuân tưng bừng náo nhiệt và tâm trạng xốn sang náo nức của chị em Thuý Kiều khi đi hội tâm trạng buồn lưu luyến bâng khuâng khi trở về.

Qua đây ta thấy Nguyễn Du là người yêu thiên nhiên hiểu lòng người có tài khi miêu tả. Đoạn thơ đem đến cho chúng ta cảm nhận được không khí mùa xuân giúp ta thêm yêu thiên nhiên quê hương đất nước.

Chia sẻ thêm cùng bạn 🍀 Bài Thơ Cảnh Ngày Xuân 🍀 Phân Tích, Cảm Nhận Đầy Đủ Nhất

Cảm Nhận Về Cảnh Ngày Xuân Hay Nhất – Mẫu 2

Đón đọc bài văn mẫu cảm nhận về Cảnh ngày xuân hay nhất được chọn lọc và chia sẻ dưới đây dành cho các em học sinh.

Nguyễn Du sinh năm 1820, là một người con của làng quê Tiên Điền, Hà Tĩnh. Vốn là con của một gia đình có truyền thống văn học qua bao đời nên Nguyễn Du được thừa hưởng khả năng văn học từ gia đình cùng với tấm lòng gắn bó, yêu thương với con người đã mang đến màu sắc nhân đạo đặc sắc trong thơ Nguyễn Du.

Sống trong thời kỳ xã hội loạn lạc, từng đến nhiều nơi và có trải nghiệm gắn bó với cuộc sống của người dân nên ông hiểu hơn ai hết những vất vả, khổ cực mà những người dân phải gánh chịu, vì lẽ đó là lòng ông luôn hướng về những người khốn khổ, thương cảm và dành họ họ sự yêu thương, cảm thông sâu sắc.

Truyện Kiều là kiệt tác của Nguyễn Du viết về cuộc đời và số phận của người con gái tài hoa bạc mệnh Thúy Kiều, không chỉ xuất sắc trong việc khắc họa chân dung, số phận của nàng Kiều mà Nguyễn Du còn có tài năng miêu tả thiên nhiên bậc thầy, ta có thể thấy rõ điều này qua đoạn trích Cảnh ngày xuân.

Không chỉ thành công trong việc khắc hoạ nhân vật, Nguyễn Du còn mang đến cho ta những câu thơ viết về thiên nhiên đầy gợi cảm, xinh đẹp và êm đềm. Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một trong những đoạn trích miêu tả cảnh thiên nhiên hay và mượt mà nhất của tác phẩm. “Cảnh ngày xuân” nằm sau đoạn miêu tả chị em Thúy Kiều, được mở đầu bằng bốn câu thơ mượt mà giới thiệu cảnh xuân:

Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Nếu hè đến có phượng thắm ve kêu, đông sang có tuyết rơi, bàng trơ trọi lá thì khi xuân về có cánh én chao nghiêng. Chim én chính là đại diện của mùa xuân, đại diện của đất trời ngày xuân. Lúc này đây, trời những áng mây trời xanh thẳm, có “thiều quang” – bầu ánh sáng diệu kỳ, đẹp tươi và ấm áp, có cánh én bay lượn giữa không gian. Thời gian là thứ không bao giờ chờ đợi ai, mới ngày đầu năm mới đấy mà đã bước sang những ngày tháng ba “đã ngoài sáu mươi”. Đẹp đến thế khung cảnh đầy bình yên và sống động của mùa xuân khi tháng ba về:

Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Những bãi cỏ non xanh kéo dài như những thảm, xa tít “chân trời” mở ra một không gian rộng lớn, màu xanh mang sức sống mới, mang cả niềm hy vọng của sự an bình, của may mắn và niềm thương. Nếu trên mây trời có bóng dáng những nàng chim én yêu kiều thì dưới chân trời có những thảm cỏ xanh tươi, bát ngát. Và còn đây nữa cánh hoa lê trắng tinh khôi, được điểm xuyết tự nhiên mà hài hoà nên nền xanh của lá, sắc trắng hoa lê mang nét gợi cảm đầy hấp dẫn, thu hút.

Trong thơ cổ Trung Quốc cũng có những câu thơ miêu tả xuân tiết tháng ba bằng những câu thơ rất hay:

Phương thảo niên bích
Lê chỉ số điểm hoa”

Nguyễn Du trong tác phẩm này cũng đã vận dụng một cách đầy sáng tạo để viết về nét xuân của dân tộc, nét xuân của Việt Nam, thiên nhiên mang cả hồn đất Việt. Nếu câu thơ cổ gợi xuân bằng hương vị, đường nét, trong thơ Nguyễn Du không chỉ có màu sắc, đường nét và còn thấy cả cái nhịp vận động khẽ khàng nhưng đầy tinh tế của những cánh hoa lê qua nghệ thuật đảo ngữ, đẩy “trắng” lên trước từ “điểm”, khiến cho hoa lê như đang bừng nở trong không khí mùa xuân .

Có thể thấy, chỉ bốn câu thơ đầu ấy thôi, mà Nguyễn Du đã vẽ nên một bức hoạ , vừa khoáng đạt, thanh bình lại vừa sinh động, tươi vui. Dường như, lòng người cũng đang thư thái hạnh phúc xốn xang tận hưởng thứ thiên nhiên tuyệt diệu lúc này.

Mùa xuân là mùa của niềm vui sum họp, của những cuộc dạo chơi, những lễ hội vui tươi. Ở Việt Nam, vào tiết tháng ba âm lịch, có lễ hội đạp thanh, tảo mộ truyền thống. Nguyễn Du cũng đã tái hiện lại khung cảnh của lễ hội này qua những câu thơ:

“Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thành”

Hội đạp thanh là nơi diễn ra cuộc du xuân của mọi người, đặc biệt là những chàng trai, cô gái đang độ xuân thì, đó là những ngày vui mà người ta háo hức mong đợi nhất. Lễ tảo mộ là dịp mà mọi người trong gia đình trở về, cùng nhau ra dọn dẹp mộ ông bà, thắp lên những ngôi mộ nén hương để tưởng nhớ những người quá cố như một sự biết ơn, tri ân sâu sắc. Nguyễn Du bằng sự cảm nhận tinh tế, đã tái hiện lại khung cảnh lễ hội này qua những câu thơ tiếp:

Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm”

Nghệ thuật ngôn từ được sử dụng một cách tài tình qua sự kết hợp hệ thống các tính từ láy và danh từ ghép để vẽ nên khung cảnh đi hội thật vui tươi, phấn chấn, háo hức. ” Chị em” ai cũng sắm sửa cho mình những bộ cánh áo thật đẹp để dự hội, gần xa nô nức những” giai nhân, tài tử ” dắt tay nhau đi chơi, rủ nhau hò hẹn, trên đường là những “ngựa xe” đông đúc, trên những quần áo lộng lẫy, họ ríu rít như những đàn chim bay về nơi vui chơi tụ họp.

Và đâu đây, ta thấy có bóng hình chị em nàng Kiều tuyệt sắc trong đó, họ cũng đang hoà mình trong niềm vui, sức sống của tuổi trẻ, của những đẹp đẽ thanh xuân lúc này. Sau phần hội vui chơi là đến phần lễ đầy thiêng liêng, long trọng:

Ngổn ngang gò đống kéo lên
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”

Đứng trước linh hồn của những người đã khuất, lòng người cũng không khỏi buồn thương, nhung nhớ, những ” ngổn ngang” sâu thẳm tâm hồn. Nhịp thơ chầm chậm buồn như để bày tỏ sự sẻ chia, nỗi niềm của người nơi chốn trần gian vẫn luôn cầu nguyện, mong những điều an ổn nhất gửi đến tổ tiên mình.

Rồi cuộc vui nào cũng đến lúc phải kết thúc, cuộc gặp gỡ nào cũng có lúc chia xa, mời vừa sớm bình minh còn vui chơi, cười nói thì giờ cũng đã thấm thoắt chiều tà, mọi người phải ra về trong niềm tiếc nuối, nỗi bâng khuâng:

Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

Khi ánh chiều buông cũng là lúc lòng người nhiều những tâm trạng ưu tư. Nếu không gian xuân ở những câu đầu được mở rộng, khoáng đạt thì lúc này đây, không gian dường như bị thu hẹp hơn, cảnh êm đềm có chút buồn vương nhè nhẹ. Chị em Kiều lòng “thơ thẩn” dắt nhau về mà lòng còn tiếc nuối cuộc vui.

Cảnh xuân khi chiều xuống nhẹ nhàng, yên ả nhưng không vui tươi và sinh động như trước. Những từ láy “nhỏ nhỏ” , ” hanh thanh” ,”nao nao” lại càng gợi cảm giác xuyến xao, lưu luyến. Trong đoạn cuối này, tác giả đã sử dụng nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” đầy độc đáo, cảnh mang màu của tâm trạng, gợi tâm trạng của người về lúc bấy giờ.

Thơ hay không chỉ đẹp thôi đâu mà nó còn có tình trong đó. Thơ hay đâu chỉ nói lên giấc mộng, nỗi lòng người thi sĩ mà còn nói lên khát khao, mơ ước của những người thưởng thức. Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” đã cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và tài năng xuất chúng của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Cảm Nhận Bài Cảnh Ngày Xuân Hay Chọn Lọc – Mẫu 3

Bài văn mẫu cảm nhận bài Cảnh ngày xuân hay chọn lọc dưới đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh.

Tuyệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du không chỉ mang những giá trị xã hội sâu sắc mà còn làm say lòng người đọc ở những đoạn thơ tả cảnh tuyệt bút. Một trong số đó là đoạn trích “Cảnh ngày xuân”.

Đoạn trích nằm ở phần đầu của tác phẩm. Vào ngày Tết Thanh minh, chị em Thúy Kiều đi tảo mộ. Thiên nhiên và con người ngày xuân hiện lên tươi tắn, xinh đẹp đông vui nhộn nhịp dưới đôi mắt “xanh non biếc rờn” của những chàng trai, cô gái tuổi đôi tám.

Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân tươi đẹp, trong sáng:

” Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quan chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”…

Không gian mùa xuân được gợi nên bởi những hình ảnh những cánh én đang bay lượn rập rờn như thoi đưa. Sự mạnh mẽ, khỏe khắn của những nhịp cánh bay cho thấy rằng mùa xuân đang độ viên mãn tròn đầy nhất. Quả có vậy: “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” có nghĩa là những ngày xuân tươi đẹp đã qua đi được sáu chục ngày rồi, như vậy bây giờ đang là thời điểm tháng ba.

Nền cảnh của bức tranh thiên nhiên được hoạ nên bởi màu xanh non, tươi mát của thảm cỏ trải ra bao la: “Cỏ non xanh tận chân trời”, sắc cỏ tháng ba là sắc xanh non, tơ nõn mềm mượt êm ái. Huống chi cái sắc ấy trải ra “tận chân trời” khiến ta như thấy cả một biển cỏ đang trải ra rập rờn, đẹp mắt. Có lẽ chính hình ảnh gợi cảm ấy đã gợi ý cho Hàn Mặc Tử hơn một thế kỉ sau viết nên câu thơ tuyệt bút này: “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”.

Trên nền xanh tươi, trong trẻo ấy điểm xuyết sắc trắng tinh khôi của vài bông hoa lê. Chỉ là “vài bông” bởi những bông hoa lê đang thì chúm chím chưa muốn nở hết. Hoa như xuân thì người thiếu nữ còn đang e ấp trong ngày xuân. Chữ điểm có tác dụng gợi vẻ sinh động, hài hoà. ở đây, tác giả sử dụng bút pháp hội hoạ phương Đông, đó là bút pháp chấm phá.

Hai câu thơ tả thiên nhiên ngày xuân của Nguyễn Du có thể khiến ai đó liên tưởng đến hai câu thơ cổ của Trung Quốc: hương thơm của cỏ non, màu xanh mướt của cỏ tiếp nối với màu xanh ngọc của trời, cành lê có điểm một vài bông hoa. Nhưng cảnh trong hai câu thơ này đẹp mà tĩnh tại. Trong khi đó gam màu nền cho bức tranh mùa xuân trong hai câu thơ của Nguyễn Du là thảm cỏ non trải rộng tới tận chân trời.

Trên cái màu xanh của cỏ non ấy điểm xuyết một vài bông lê trắng (câu thơ cổ Trung Quốc không nói tới màu sắc của hoa lê). Sắc trắng của hoa lê hoà hợp cùng màu xanh non mỡ màng của cỏ chính là nét riêng trong hai câu thơ của Nguyễn Du. Nói gợi được nhiều hơn về xuân: vừa mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống lại vừa khoáng đạt, trong trẻo, nhẹ nhàng và thanh khiết.

Thiên nhiên trong sáng, tươi tắn và đầy sức sống, con người cũng rộn ràng, nhộn nhịp để góp phần vào những chuyển biến kì diệu của đất trời.

Sáu câu thơ tiếp của bài thơ tái hiện phong tục tảo mộ (viếng mộ, sửa sang phần mộ của người thân) và du xuân (hội đạp thanh) trong tiết Thanh minh. Không khí rộn ràng của lễ hội mùa xuân được gợi lên bởi hàng loạt các từ ghép tính từ, danh từ, động từ: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân, sắm sửa, dập dìu, gần xa, nô nức. Chúng được đặt cạnh nhau dồn dập gợi nên không khí đông đúc, vui tươi sôi nổi. Đó không chỉ là không khí lễ hội mà còn mang đậm màu sắc tươi tắn, trẻ trung của tuổi trẻ:

Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước áo quần như nêm”.

Nhưng hội họp rồi hội phải tan. Sau những giây phút sôi nổi, chị em Thúy Kiều phải rời buổi du xuân trở về:

Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước lần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang” …

Bên cạnh vẻ thanh thoát, dịu nhẹ của mùa xuân như ở những câu thơ trước, khung cảnh mùa xuân đến đây đã mang một sắc thái khác với bức tranh lễ hội rộn ràng, nhộn nhịp. Cảnh vật toát lên vẻ vương vấn khi cuộc du xuân đã hết. Các từ láy tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ vừa gợi tả sắc thái cảnh vật vừa gợi ra tâm trạng con người.

Dường như có cái gì đó đang mơ hồ xâm lấn, cảnh vật đã nhuốm sắc thái vương vấn, man mác của tâm trạng con người, ở đây, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình để mượn cảnh vật mà diễn tả những rung động tinh tế trong tâm hồn những người , thiếu nữ. Những từ láy được sử dụng trong đoạn thơ đểu là những từ láy có tính giảm nhẹ.

“Tà tà” diễn tả bóng chiều đang từ từ nghiêng xuống; “thơ thẩn” lại diễn tả tâm trạng bâng khuâng dịu nhẹ không rõ nguyên nhân (nó gần với nỗi buồn “tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” của Xuân Diệu sau này) “thanh thanh” vừa có ý nghĩa là sắc xanh nhẹ nhàng vừa có ý nghĩa là thanh thoát, thanh mảnh; từ “nao nao” trong câu thơ diễn tả thế chảy của dòng nước nhưng đồng thời diễn tả tâm trạng nao nao buồn và từ “nho nhỏ” gợi dáng nhỏ xinh xắn, vừa vặn với cảnh với tình.

Khung cảnh thiên nhiên cũng theo đó mà nhỏ đi để phù hợp với tâm trạng con người: “ngọn tiểu khê” – dòng suối nhỏ, phong-cảnh thanh thoát, dịp cầu “nho nhỏ” lại nằm ở “cuối ghềnh” ở phía xa xa,… Cảnh và người như có sự tương liên để giao hòa trong bầu không khí bâng khuâng, lưu luyến, khe khẽ sầu lay. Có thể mớ hồ cảm nhận được cảnh vật đang tạo ra dự cảm về những sự việc sắp xảy ra.

Đoạn trích Cảnh ngày xuân có bố cục cân đối, hợp lí. Mặc dù không thật rõ ràng nhưng cũng có thể nói đến kết cấu ba phần: mở đầu, diễn biến và kết thúc. Nguyễn Du đã cho thấy một nghệ thuật miêu tả thiên nhiên điêu luyện, sắc sảo. Trong đoạn trích, mặc dù chủ yếu là miêu tả cảnh ngày xuân nhưng vẫn thấy sự kết hợp với biểu cảm và tự sự (diễn biến cuộc tảo mộ, du xuân của chị em Thúy Kiều, dự báo sự việc sắp xảy ra).

“Cảnh ngày xuân” là một trong những đoạn thơ tả cảnh hay nhất trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đọc đoạn trích, người đọc không chỉ trầm trồ về bức tranh thiên nhiên trong sáng vô ngần mà còn cảm nhận được vẻ đẹp trong một lễ hội truyền thống đầy ý nghĩa của cha ông: tiết Thanh minh. Và qua đây, Nguyễn Du cũng thể hiện nét tài hoa trong việc dựng lên một bức tranh tả cảnh ngụ tình tinh tế,… Với những điều đó, “Cảnh ngày xuân” sẽ luôn sống lại trong lòng người yêu thơ vào mỗi dịp đầu năm khi chúa xuân về với đất trời.

Gợi ý cho bạn 🌳 Phân Tích Cảnh Ngày Xuân 🌳 Dàn Ý Trọn Bộ Hay Nhất

Cảm Nhận Bài Cảnh Ngày Xuân Ngắn Gọn – Mẫu 4

Tham khảo bài văn cảm nhận bài Cảnh ngày xuân ngắn gọn dưới đây với cách viết súc tích và cô đọng ý văn.

Nguyễn Du không chỉ là bậc thầy về ngôn ngữ trong việc miêu tả tâm lý nhân vật mà còn là “họa sĩ” vẽ tranh bằng chữ. Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” trích Truyện Kiều là một ví dụ điển hình. Người đọc phải khâm phục và ngưỡng mộ khả năng quan sát cũng như những nét vẽ tài hoa của Nguyễn Du. Bức tranh ngày xuân hiện lên với những nét đẹp tươi mới, tràn đầy sức sống nhất.

Có thể nói mùa xuân là đề tài bất tận trong thi ca, khơi nguồn cảm hứng cho rất nhiều nghệ sĩ. Mỗi người có một cảm nhận riêng về mùa xuân. Đối với Nguyễn Du, mùa xuân gắn với cảnh vật và con người, với những ngày lễ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bao trùm lên cả đoạn thơ này là một bức tranh thiên nhiên đẹp, hữu tình nhưng có nhuốm màu buồn khi ngày đã ngả về chiều hôm.

Những câu thơ đầu được sử dụng với chất liệu ngôn ngữ đẹp như tranh, sự mượt mà của câu chữ đã tạo nên sự mượt mà của cảnh sắc thiên nhiên khi xuân về:

Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Một không gian đầy chất thơ, thi vị và hữu tình biết bao nhiêu. Sự rộng lớn của đất trời khi mùa xuân về được diễn tả một cách tinh tế và tràn ngập niềm vui. Cánh én chính là báo hiệu cho mùa xuân về, một mùa gợi lên sự ấm áp, sự sống căng đầy và niềm vui trọn vẹn. Với từ ngữ “đưa thoi” vừa gợi lên khung cảnh bầu trời tràn ngập cánh én, vừa diễn tả sự trôi đi quá nhanh của thời gian.

Có phải chăng ý niệm về thời gian của Nguyễn Du có phần giống với Xuân Diệu, thời gian trôi đi nhanh, mùa xuân và tuổi trẻ cũng trở nên chông chênh hơn. Đồng nghĩa với thời gian trôi đi, tuổi trẻ trôi đi thì đời người bỗng nhiên ngắn lại.

Trong lúc đấy, chỉ với hai nét vẽ Nguyễn Du như vẽ lên trang giấy một bức tranh thiên nhiên mùa xuân đẹp tuyệt vời. Nghệ thuật điểm xuyết chấm phá đã được sử dụng dứt điểm, khiến cho câu thơ trở nên mềm mại và căng tràn sức sống hơn. Màu xanh của cỏ non tạo nên sự tươi mới và tinh khiết của đất trời.

Từ “rợn” vừa tả cái xa, vừa gợi cái rộng lớn của mùa xuân, của cảnh vật khi xuân về. Nó làm cho câu thơ như được ngân dài ra, bừng sáng lên sức sống tràn đầy. Trên nền xanh của cỏ, của bầu trời có điểm xuyết “một vài bông hoa” trắng tinh khiết. Chính sự điểm xuyết này khiến cho cả bài thơ như bừng lên một sức sống mãnh liệt, khó có thể dập tắt.

Có thể nói với chỉ 4 câu thơ này, Nguyễn Du như người họa sĩ tài hoa vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, có sự giao thoa và hòa quyện giữa đất và trời. Không khí mùa xuân, hương sắc mùa xuân và cả ý vị mùa xuân cứ thế tràn ra trong từng câu thơ đẹp như vậy.

Không khí mùa xuân như tươi đẹp hơn với lễ hội tảo mộ tháng Ba:

Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

Có lẽ không khí vui tươi, tưng bừng, phấn khởi của con người trong dịp đi tảo mộ thật sự khiến cho người đọc như sống lại với không khí những ngày xuân tươi mới nhất. Con người cũng hiện lên như tô điểm thêm bức tranh ngày xuân tươi đẹp đó

Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước áo quần như nêm

Mùa xuân là dịp để “tài tử giai nhân” được vui chơi, giãi bày tâm sự với nhau. Có vẻ như mùa xuân là thời điểm thích hợp cho chuyện tình yêu nảy nở, cho những yêu thương còn bỏ ngỏ được phép căng trào ra. Hình ảnh “ngựa xe”, “áo quần” gợi lên sự tấp nập, nhộn nhịp và huyên náo. Nguyễn Du đã rất tài tình khi sử dụng một loạt hình ảnh có tính chất gợi hình ảnh khiến cho người đọc có cảm giác như đang bước vào không khí của mùa xuân.

Ngổn ngang gò đống kéo lên
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay

Những phong tục tập quán khi mùa xuân về, khi được đi tảo mộ đã được Nguyễn Du vẽ lên chân chất, mộc mạc, gợi nhớ và gợi thương. Đó chính là tấm lòng thành kính hướng về quá khứ với một sự biết ơn chân thành nhất. Hai câu thơ này thực sự khiến người đọc xúc động khi nhớ về những người đã khuất, những người tạo dựng nên cuộc sống hiện nay của chúng ta.

Tuy nhiên những câu thơ cuối dường như cảnh vật và con người trở nên buồn bã và đìu hiu hơn:

Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dan tay ra về
Bước dần theo ngọn phong khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

Nhịp thơ trở nên nhẹ nhàng, trầm bổng khiến cho tâm trạng của con người trở nên nặng nề và buồn rầu hơn. Với từ láy “tà tà” đã phần nào gợi tả thời gian đã xế chiều và không gian dường như tĩnh mịch và ảm đạm hơn. Mỗi bước chân cũng trở nên nặng nề hơn khi màn đêm sắp buông xuống, con người cũng cảm nhận được một nỗi buồn nào đó len vào trong trái tim. Tâm sự của con người như nhuốm vào cảnh sắc thiên nhiên, khiến cho nó trở nên tiêu điều và xơ xác hơn.

Có thể nói dù cảnh trong thơ Nguyễn Du buồn hay vui thì vẫn mang phong vị riêng của nhà thơ. Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một ví dụ điển hình như thế. Bức tranh ngày xuân vui tươi, rộn ràng, náo nức và có chút buồn phiền được Nguyễn Du khắc họa thành công với sự cảm nhận tinh tế cũng như sự tài hoa trong cách dụng công xây dựng ngôn ngữ.

Khám phá thêm 🔥 Sơ Đồ Tư Duy Truyện Kiều Nguyễn Du 🔥 14 Mẫu Vẽ Tóm Tắt

Cảm Nhận Bài Cảnh Ngày Xuân Học Sinh Giỏi – Mẫu 5

Tham khảo bài văn cảm nhận bài Cảnh ngày xuân học sinh giỏi dưới đây với những nội dung nghị luận văn học chuyên sâu:

Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc, người đã để lại cho nền văn học Việt Nam một khối lượng tác phẩm đồ sộ. Trong đó, truyện Kiều được coi là “thiên truyện”, kể về cuộc đời nàng Kiều hồng nhan bạc mệnh. Đoạn trích cảnh ngày xuân là một trong số những đoạn nổi bật nhất, vừa tả cảnh thiên nhiên đặc sắc, vừa mở ra những nốt thấp quan trọng trong cuộc đời Thúy Kiều.

Đoạn trích ở phần đầu của tác phẩm, sau khi giới thiệu gia cảnh và miêu tả vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân. Tác giả tả cảnh ngày xuân, chị em đi chơi hội và khung cảnh lễ hội tươi vui, náo nhiệt.

Bốn câu thơ đầu gợi tả khung cảnh thiên nhiên mùa xuân:

Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Hai câu thơ đầu đề cập đến thời gian và không gian của mùa xuân. Hình ảnh “chim én đưa thoi” không chỉ muốn thể hiện tiết xuân ấm áp, muôn chim bay về mà còn muốn khắc họa thời gian trôi qua quá nhanh, như con thoi quay vòng khi dệt vải. Mùa xuân có ba tháng, nay đã là tháng ba. Trong những ngày cuối cùng của mùa xuân, những cánh chim én vẫn dập dìu bay liệng giữa bầu trời cao rộng. Hai câu thơ sau là bức tranh tuyệt đẹp về cảnh sắc mùa xuân với những hình ảnh hài hòa.

Thảm cỏ non trải rộng đến tận chân trời làm nền cho bức tranh xuân tươi tắn bất tận. Trên cái nền màu xanh mát mắt đó, điểm xuyết nhẹ nhàng những bông hoa lấy chồng thanh khiết. Tác giả sử dụng nghệ thuật đảo ngữ “trắng” lên trước động từ “điểm” nhầm khắc họa một cách nổi bật vẻ đẹp trắng muốt tinh khôi của hoa xuân. Cái hồn riêng của mùa xuân hiện ra trong một không gian bao la rộng lớn. Hoa cỏ vô tri vô giác, nhưng chữ “điểm” dùng đúng lúc làm cho cánh hoa lê trở nên có hồn, có tình.

Tám câu thơ tiếp theo là khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh Minh

Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh
Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm
Ngổn ngang, gò đống kéo lên
Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay

Vào ngày Thanh Minh, tiết đầu tháng ba, mùa xuân khí trời mát mẻ, người ta đi tảo mộ để sửa sang lại phần mộ của người đã mất như một cách tri ân. Mùa xuân cũng là dịp để đi chơi, đi lễ hội mừng năm mới. Được gặp gỡ lẫn nhau sau một năm làm việc đã trở thành một tục lệ tốt của văn hóa Việt Nam. Sau phần lễ là tảo mộ sẽ đến phần hội, gọi là hội đạp thanh, là dịp gặp gỡ bạn bè, người thân.

Những câu thơ này của Nguyễn Du gợi tả một không khí lễ hội bằng hàng loạt những từ ngữ liên tiếp thể hiện sự đông đúc, vui tươi như “yến anh, chị em, tài tử giai nhân” cùng các tính từ “nô nức, sắm sửa, gần xa, dập dìu”. Hình ảnh những trai thanh gái lịch quần áo là lượt đi chơi hội xuân như những đàn chim ríu rít. Người ta thấy được sức sống, thấy được sự tươi mới, trẻ trung bao phủ lên toàn cảnh vật.

Cụm từ “nô nức yến anh” và “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” giúp người đọc hình dung cảnh này hội vô cùng náo nhiệt người với người nối nhau như dòng nước bất tận, mặc những trang phục đẹp đẽ nhất. Trong lễ tảo mộ, người ta rắc những thỏi vàng, những xấp tiền giấy hàng mã để tưởng nhớ người đã khuất nên mới có cảnh “thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay”.

Sáu câu thơ cuối, tác giả tập trung gọi tả khung cảnh chị em Thúy Kiều chơi xuân:

Tà tà, bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn, dan tay ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Buổi chiều, mặt trời từ từ là bóng về Tây. Ngày lễ hội đã đi qua, chị em Thúy Kiều dắt tay nhau đi về. Cảnh chiều xuân được miêu tả một cách dịu dàng, thanh khiết: nắng về chiều tà tà, nhịp cầu nhỏ bắc ngang khe nước. Mọi hoạt động cũng trở nên chậm rãi hơn như mặt trời tranh chấp nhà bóng, bước chân người trở nên thơ thẩn, ung dung. Cảnh vẫn đẹp, nhưng đã nhuộm màu tâm trạng, một tâm trạng bâng khuâng xao xuyến mà người ta vẫn thường có sau những buổi vui.

Nhưng đâu chỉ có thế, những từ này như tà tà, thanh thanh không chỉ béo đa sắc thái của cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng của con người. Từ láy “nao nao” gợi lên một nét buồn, nỗi buồn chỉ con người mới có thể cảm nhận được. Dường như, câu thơ này là một dự cảm cho những sự việc tiếp theo, khi nàng Kiều gặp chàng Kim Trọng và những biến cố sắp ập đến cuộc đời nàng. Có lẽ vì vậy, chính bản thân tác giả cũng thấy nao lòng, tiếc thương cho một số phận hồng nhan bạc mệnh.

Với bút pháp nghệ thuật và khả năng tả cảnh đặc sắc, sử dụng những từ ngữ đắt giá, những từ láy đúng lúc đúng chỗ, Nguyễn Du đã gợi ra một bức tranh sinh động về cảnh sắc thiên nhiên mùa xuân, con người như hoà vào bức tranh tươi vui, náo nhiệt ấy. Người đọc có thể cảm nhận được cảnh ngày xuân hiện lên với vẻ đẹp trong sáng, tươi tắn, là sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên.

Đón đọc tuyển tập 🌟 Thuyết Minh Truyện Kiều 🌟 12 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài Văn Cảm Nhận Cảnh Ngày Xuân Nâng Cao – Mẫu 6

Bài văn cảm nhận Cảnh ngày xuân nâng cao dưới đây sẽ giúp các em học sinh luyện tập trau dồi cách hành văn và cảm thụ văn học.

Trong nền văn học Việt Nam, “Truyện Kiều” được biết đến là một tác phẩm xứng tầm kiệt tác. Điều này được tạo nên bởi ngòi bút điêu luyện của đại thi hào Nguyễn Du trong việc sử dụng ngôn ngữ. Không chỉ được đánh giá cao ở mặt nội dung mà tác phẩm còn để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả về mặt nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả thiên nhiên. Nằm trong dòng chảy đó, trích đoạn “Cảnh ngày xuân” là một minh chứng tiêu biểu cho tài năng của tác giả trong việc miêu tả thiên nhiên.

Trước hết, tác giả đã miêu tả bức tranh thiên nhiên thông qua khung cảnh mùa xuân tươi đẹp và tràn trề sức sống:

“Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Bút pháp miêu tả thiên nhiên dưới ngòi bút của nhà thơ lại hiện lên đậm chất tạo hình và hội họa với những hình ảnh, đường nét, màu sắc phối hợp tinh tế, nhẹ nhàng. Khung cảnh mùa xuân quen thuộc được miêu tả thông qua hình ảnh những cánh én sải cánh chao liệng trên bầu trời cao rộng, gợi lên bước đi không ngừng nghỉ của dòng thời gian. Ánh nắng mùa xuân được miêu tả qua cụm từ “thiều quang” gợi sắc màu tươi mới, dịu nhẹ, vừa ấm áp vừa rực rỡ của tiết trời xuân.

Bức họa thiên nhiên tiếp tục được làm nổi bật bởi những gam màu mang đậm tính chất hội họa. Sắc xanh tươi của cỏ non trải dài đến tận cuối chân trời tạo nên một không gian bao la, rộng lớn ngút ngàn và khoáng đạt. Sự xuất hiện của một vài bông hoa lê điểm xuyết sắc trắng trong sự kết hợp giữa biện pháp đảo ngữ, sử dụng cách nói “trắng điểm” thay cho “điểm trắng” để làm nổi bật màu sắc tinh khôi, sáng trong cùng bút pháp chấm phá quen thuộc trong thơ ca trung đại đã gợi liên tưởng đến những câu thơ cổ trong nền văn học Trung Quốc:

Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa”

(Cỏ thơm liền với trời xanh
Trên cành lê có mấy bông hoa)

Nếu trong những câu thơ trên, người viết miêu tả hình ảnh “cỏ thơm” gợi hương vị thì tác giả Nguyễn Du lại sử dụng màu sắc “Cỏ xanh” với sự non tươi mơn mởn để gợi lên sức xuân và sắc xuân tràn trề, đồng thời tạo nên sự hài hòa trong vẻ đẹp vừa tươi mới, vừa tinh khôi.

Và rồi sự chuyển động của thời gian cũng khiến cho lễ hội kết thúc, đồng thời ánh “thiều quang” không còn và thay vào đó là không gian buồn bã của bóng tà dương trong buổi xế chiều:

Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dang tay ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

Khung cảnh thiên nhiên vẫn mang vẻ đẹp dịu nhẹ của mùa xuân thông qua hình ảnh “bóng tả về tây” gợi ánh nắng nhạt dần và mặt trời đang lặn xuống cùng những chi tiết về khe nước nhỏ – nơi mà con người bước đi cùng sự chậm rãi, “thơ thẩn” và dòng nước uốn quanh “nao nao” để gợi lên không gian bé nhỏ, thân thuộc khác với không gian rộng lớn, bát ngát ở khổ thơ đầu. Tác giả Nguyễn Du đã sử dụng hàng loạt từ láy giàu giá trị gợi hình, gợi cảm để miêu tả không gian tĩnh lặng trong tâm trạng buồn bã, bâng khuâng và tiếc nuối.

Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong đoạn thơ vô cùng đặc sắc thông qua việc tác giả đã sử dụng thành công hệ thống từ láy và bút pháp tả cảnh ngụ tình. Các từ láy thường được đảo lên đầu câu thơ để nhấn mạnh tâm trạng của con người – dụng ý của nhà thơ.

Đặc biệt, qua cách sử dụng từ láy “nao nao”, sắc thái của cảnh vật hiện lên qua vẻ đẹp lững lờ trôi xuôi của dòng nước trong bóng chiều tà; đồng thời đó còn là sự “nao nao” trong tâm trạng của con người. Đó là sự bâng khuâng, luyến tiếc, xao xuyến về một buổi du xuân trong cảm xúc của người con gái “đa sầu đa cảm” Thúy Kiều, đó còn là sự linh cảm về những điều sắp xảy ra – Kiều sẽ gặp nấm mộ Đạm Tiên, gặp Kim Trọng.

Như vậy, thông qua trích đoạn “Cảnh ngày xuân”, chúng ta có thể thấy được tài năng của tác giả Nguyễn Du trong việc miêu tả thiên nhiên. Để phác họa bức tranh mùa xuân tươi đẹp, sáng trong và bức tranh lặng lẽ buổi chiều tà, đại thi hào dân tộc đã lựa chọn những hình ảnh thơ đặc sắc và miêu tả trong sự hài hòa giữa màu sắc, đường nét và hình khối.

Đặc biệt, tác giả đã vận dụng thành công bút pháp “tả cảnh ngụ tình” để làm nổi bật dòng tâm trạng của con người ẩn chứa sau cảnh vật, thể hiện sự thống nhất giữa “cảnh” và “tình” giống như ông đã từng khẳng định:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

SCR.VN tặng bạn 💧 Phân Tích Truyện Kiều Nguyễn Du 💧 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Cảm Nhận Về Bức Tranh Mùa Xuân Trong Cảnh Ngày Xuân – Mẫu 7

Đón đọc bài văn mẫu cảm nhận về bức tranh mùa xuân trong Cảnh ngày xuân dưới đây để trau dồi cho mình những ý văn hay và đặc sắc.

Nguyễn Du là đại thi hào của văn học dân tộc Việt Nam. Kiệt tác ” Truyện Kiều” được xem là quốc hồn, quốc túy của dân tộc ta qua bao thời đại. Trong tác phẩm, ta không chỉ được sống với từng cảm xúc, từng dòng tâm trạng của nhân vật mà còn được thưởng thức những bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ qua bút pháp miêu tả tinh tế và độc đáo của tác giả. Đoạn trích” Cảnh ngày xuân” là một bức tranh thiên nhiên khoáng đạt, đẹp đẽ và có hồn nhất trong tác phẩm.

Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”

Vẻ đẹp ngày xuân trong trẻo và bình yên đến lạ thường, trên bầu trời xanh trong có cánh én đưa thoi. Dù mùa xuân đã bước sang tháng ba, tháng cuối cùng của mùa xinh đẹp nhất trong năm nhưng ánh sáng ngày xuân vẫn còn mang đầy sức sống. Thời gian vẫn vô tình trôi nhanh, nhưng mùa xuân vẫn mang đến cho vạn vật nét đẹp rạng rỡ, ấm áp tròn đầy nhất, tươi sáng nhất. Dường như, trước mắt ta là hình ảnh cánh én đang tung tăng, bay lượn giữa một bầu không gian đầy thơ mộng, yên bình, cánh én mang sức xuân bay về muôn nẻo.

Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Khoảng không là bầu trời cao rộng, xanh trong, dưới đất là những áng cỏ xanh rờn nối đuôi nhau ” tận chân trời”. Những thảm cỏ thật đẹp, thật mênh mông, vô tận. Xuân đến cho cây cỏ xanh tươi, mang vẻ mơn mởn, hấp dẫn quyến rũ nhất. Khoảng không dường như rộng hơn, xa hơn và đẹp hơn. Phải chăng đó cũng là tình yêu của tác giả dành cho xuân, cũng mênh mang, dịu dàng, đằm thắm.

Giữa màu xanh của cỏ ấy, điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng tạo nên sự hài hoà khó tả. Màu trắng của hoa lê trên cành giữa sắc xanh của lá, của cỏ cây gợi sự nhẹ nhàng, trong ngần khiến bức tranh mùa xuân đẹp đẽ, thân thương đến lạ. Xuân lúc này đây vừa căng tràn nhựa sống vừa có nét gì đó nhu mì, nhẹ nhàng, gợi cảm.

Thiên nhiên trong bức tranh mùa xuân khoáng đạt, tinh khôi, thanh nhẹ bởi vẻ đẹp kiều diễm của hoa lê hoà trong nàng cỏ xanh mơn cùng cánh én êm đềm chao liệng. Tất cả đất trời, vạn vật đều thật trong trẻo, vui tươi, sức sống tràn đầy, viên mãn và dường như tâm hồn con người lúc này cũng vậy, đang háo hức, phấn chấn và mơ mộng, tin yêu.

Trong buổi chiều tà, khi hội đạp thanh, lễ tảo mộ đã vãn, thiên nhiên giờ đây lại mang nét buồn man mác, khiến lòng người không khỏi trĩu ưu tư.

Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dang tay ra về
Dập dìu theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

Trong vãn cảnh, thiên nhiên nhuốm màu tâm trạng của lòng người, chút tiếc nuối, nâng niu nhưng nét xuân gợi nỗi bâng khuâng, xao xuyến. Ánh mặt trời dần buông xuống cũng là lúc mà không gian dường như hẹp hơn, tất cả như trở nên bé nhỏ hơn rất nhiều. Thiên nhiên vẫn yên bình nhưng không sôi nổi, dạt dào nữa mà tĩnh lặng hơn, nhẹ nhàng hơn.

Dòng nước uốn quanh, nhỏ bé, chảy chầm chậm theo nhịp trôi thời gian, từng bước chân dường như chậm hơn, buồn hơn giữa phong cảnh “thanh thanh” trong ánh sáng nhạt màu. Cảnh có người, có sông, có nước, có cỏ cây và ánh sáng, một bức hoạ với những nét vẽ uyển chuyển, nhẹ nhàng được hiện ra trong cảnh chiều tà. Cảnh đang mang nỗi gì đó thê lương, lòng bịn rịn nuối tiếc của người về .

Các từ láy “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” góp phần rất lớn vào việc đặc tả bức tranh xuân nhỏ bé buổi chiều xuống. Không khí hội xuân đang tắt dần như báo trước một điều gì đó trong tương lai gần sắp xảy ra của cuộc đời Kiều vậy.

Bằng việc sử dụng những hình ảnh quen thuộc, bình dị, ngôn ngữ miêu tả sống động, kết hợp hài hoà những tính từ láy với các danh từ, miêu tả cảnh vật theo trình tự thời gian, bức tranh xuân hiện ra đẹp đẽ và để lại nhiều xúc cảm. Qua đó, ta thấy được một tâm hồn yêu thiên nhiên thiết tha, một trái tim nhạy cảm và cảm quan tinh tế trước cảnh vật tác giả mới viết nên những vần thơ tuyệt vời như thế.

Gợi ý cho bạn 💕 Mở Bài Truyện Kiều Nguyễn Du 💕 20 Đoạn Văn Hay Nhất

Bài Cảm Nhận Bức Tranh Thiên Nhiên Trong Cảnh Ngày Xuân Đặc Sắc – Mẫu 8

Chia sẻ dưới đây bài cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong Cảnh ngày xuân đặc sắc để các em học sinh cùng tham khảo.

Khi nhắc tới bút pháp sử dụng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, người ta thường nhắc nhiều về bút pháp miêu tả nội tâm cực kì xuất sắc mà ông đã thể hiện trong mỗi nhân vật của mình. Thế nhưng, người đọc chúng ta mỗi khi đọc đến đoạn trích “Cảnh ngày xuân” thì cũng không khỏi thán phục trước nghệ thuật miêu tả cảnh thiên nhiên vô cùng sống động, tươi đẹp, trong sáng mà ông đã dùng để vẽ lên bức tranh xuân trong đoạn trích này. Bức tranh thiên nhiên mùa xuân ấy quả thực đẹp đẽ đến vô cùng dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du.

Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” được trích trong phần đầu của Truyện Kiều. Đây là đoạn trích kế tiếp sau đoạn miêu tả lại vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều, tập trung miêu tả bức tranh thiên nhiên ngày xuân trong tiết Thanh minh khi chị em Kiều đi du xuân.

Ngay từ những dòng thơ đầu tiên, chúng ta đã cảm nhận được ở đó có một sự tươi đẹp, thanh bình, yên ả đến lạ trong từng câu chữ:

“Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trờiCành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Nguyễn Du đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên thật sống động bằng chất liệu ngôn từ thật đẹp. Với vài nét bút thôi, ông đã mở cho chúng ta thấy cả một bầu trời xuân với hoa với cỏ với chim chóc ngập tràn khắp muôn nơi.

Ở câu thơ mở đầu, người ta thấy một không gian, thời gian đang chảy trôi cùng với sự chuyển động của sự vật. Những cánh én chao lượn trên bầu trời xuân, trong cái khoảnh khắc tươi đẹp ấy, từng đàn én ấy thật nhộn nhịp, thật rộn rã, như là một đàn thoi đang dệt lên khung cảnh ngày xuân vậy.

“Ngày xuân con én đưa thoi”

Chỉ bằng một nét vẽ thôi, Nguyễn Du đã gợi ra bức tranh thiên nhiên ngày xuân thật rạo rực, thật đông đúc với hàng đàn én lượn khắp trời. Bởi én là loài chim của mùa xuân, báo hiệu mùa xuân về, biểu tượng cho sự ấm áp, cho sự vui tươi.

Hình ảnh cánh én còn mang ý nghĩa ẩn dụ cho những cảm nhận về sự chảy trôi của thời gian. Ngày xuân đẹp đẽ, tươi sáng vô ngần nhưng cũng vội đến vội đi như cánh én chao liệng trên bầu trời. Chẳng vậy mà ngay câu thơ thứ hai, Nguyễn Du đã nói rằng:

“Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”

Cả mùa xuân của “chín chục” ngày, vậy mà bây giờ đã là “ngoài sáu mươi”. Quả thật, mùa xuân đang trôi đi thật nhanh, ánh sáng của mùa xuân đang trôi đi nhanh quá! Ở câu thơ này, Nguyễn Du đã khéo léo đẩy chữ “thiều quang” – “ánh sáng đẹp” cũng có nghĩa là ánh sáng của mùa xuân lên đầu câu thơ để nhấn mạnh sự chảy trôi qua nhanh của thời gian.

Một mùa xuân tươi vui, ấm áp đang dần qua đi, tuy những cánh én vẫn đang còn chao lượn khắp trời nhưng chẳng mấy chốc, mùa xuân sẽ qua đi. Sau này, Xuân Diệu cũng đã nói về mùa xuân với sự tiếc nuối xuân đi qua nhanh y như thế, xuân qua nhanh, tuổi trẻ cũng qua nhanh, thời gian cũng dần ngắn lại. Phải chăng đây là sự đồng cảm của những trái tim đa cảm đang đồng điệu cùng nhau?

“Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”

Bằng những câu chữ mượt mà mang đầy hình ảnh của mình, Nguyễn Du đang vẽ lên bức tranh thiên nhiên ngày xuân buổi sáng sớm thật tươi tắn. Không gian mùa xuân cứ dần được gợi mở dưới nét vẽ tài hoa của ông. Vậy nên trong câu thơ tiếp theo, Nguyễn Du đã trải nét bút của mình để tạo nên một triền cỏ non xanh mát của mùa xuân:

“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Nếu ở trên cao, từng đàn én đang chao lượn thì ở dưới mặt đất, từng ngọn cỏ xanh non đang trải ra, lan ra rộng khắp nơi. Màu xanh tươi mát của đám cỏ mới nhú, màu xanh ấy trải ra mênh mông, bát ngát đến tận chân trời. Một đồng cỏ thật mênh mang quá đỗi bởi ở đây Nguyễn Du đã khéo léo đặt vào giữa câu thơ một từ “tận”.

“Tận” tức là mãi đằng xa, hút tầm mắt, “cỏ non xanh tận chân trời” tức là thảm cỏ non mùa xuân ấy kéo dài tới tận đường chân trời, tạo nên một không gian mênh mông toàn màu xanh tươi mát, kéo dài vô tận. Cái “tận” ấy cũng gợi lên khung cảnh rộng lớn, bao la của mùa xuân, của những cảnh vật mùa xuân.

Không chỉ vậy, trên nền cỏ xanh tươi mơn mởn ấy, điểm xuyết là những bông hoa lê trắng muốt. Hai màu xanh – trắng hòa quyện vào nhau cành gợi lên một sự sống động đến khó tả. Không phải một vài bông hoa điểm trắng trên cành lê mà lại là “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.

Nguyễn Du đã tinh tế đảo ngược “điểm trắng” thành “trắng điểm” để nhấn mạnh màu sắc nổi bật của những bông hoa lê trên nền cỏ màu xanh. Hơn thế, ông còn đặt chủ thể “cành lê” lên đầu câu để gợi tả sắc trắng của những đóa hoa đang tô điểm trên nền cỏ xanh của bức tranh màu xuân. Chỉ “một vài bông hoa” trắng nhỏ xinh thôi nhưng lại mang đến cho không gian xuân sắc của chúng ta thêm thanh khiết, trẻ trung, lại nhẹ nhàng, thanh đạm.

Bằng bút pháp ước lệ cổ điển và bút pháp chấm phá, Nguyễn Du đã khéo léo vẽ lên cho người đọc chúng ta một bức tranh thiên nhiên ngày xuân buổi sáng sớm thật tươi đẹp, thật nhã nhặn, nhưng không kém phần trẻ trung tràn ngập sắc màu.

Trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”, tác giả Nguyễn Du còn khắc hoạ bức tranh lễ hội nhộn nhịp với người xe đan xen cùng cảnh vật. Nguyễn Du đã mở lời bằng một câu thơ như một lời thông báo tới người đọc chúng ta:

“Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”

Thanh minh vốn là một dịp lễ tết cổ truyền của dân tộc ta. Đó là khi con cháu trong nhà cùng nhau viếng mộ, sửa sang mộ phần, cúng bái tổ tiên để bày tỏ lòng thành kính của mình. Cùng với lễ tảo mộ đó cũng là dịp để mọi người cùng đi ngắm cảnh ngày xuân, cùng nhau thưởng thức cảnh đẹp ngày xuân với “yến anh” sum vầy. Nguyễn Du đã dùng tám câu thơ liên tiếp để gợi tả lên không gian ngày xuân trong tiết Thanh minh khi mà mọi người đều sắm sửa cùng nhau tảo mộ người thân.

Từng đoàn người nô nức kéo nhau đi. Người đi tảo mộ, người lại chọn được vui chơi. Các tài tử, giai nhân cũng đua nhau sắm sửa áo quần ngựa xe để cùng được tham gia vào lễ hội ngày xuân. Không khí ấy thật nhộn nhịp, vui tươi, đầy phấn khởi. Trong không khi của sự tấp nập ấy, phảng phất trong gió là những tro tiền giấy vàng bay.

Một bức tranh tảo mộ quê hương được Nguyễn Du gợi tả lên thật chân thực, sống động biết bao. Bức tranh tảo mộ ấy vừa có nét vui tươi, rộn rã của lớp con cháu, vừa mang nét man mác buồn phảng phất của lớp người đã khuất.

Bức tranh thứ ba, Nguyễn Du miêu tả trong đoạn trích là bức tranh thiên nhiên cảnh chiều tà lúc chị em Thúy Kiều ra về sau lễ hội:

Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dang tay ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
“.

Tiệc nào mà lại chẳng có lúc tan, sau những phút giây náo nức hội hè, chị em Thúy Kiều cũng phải quay về nhà. Hai chị em thơ thẩn bước từng bước chân theo con suối nhỏ, vừa nhìn ngắm cảnh vật bên đường vừa dồn bước trở về nhà.

Trong sáu câu thơ liên tiếp, ở câu thơ nào, Nguyễn Du cũng đặc biệt sử dụng từ láy. Các từ láy “thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ” vừa gợi cho chúng ta về cảnh vật xung quanh hai người cũng vừa gợi ra tâm trạng của con người. Trong cảnh vật ấy, người ta thấy một cái gì đó mơ hồ, mờ nhạt, vương chút buồn trên cảnh sắc xung quanh.

Nguyễn Du ở đây đã sử dụng thủ pháp tả cảnh ngụ tình, tả phong cảnh nhưng ẩn chứa bên trong lại là tâm trạng của con người với một chút bâng khuâng, mơ hồ và trầm mặc. “Thanh thanh”: sự nhẹ nhàng, thanh thoát lại mang chút màu xanh trầm trầm, “nao nao” diễn tả con nước với dòng chảy quanh co, cùng gợi lên tâm trạng con người. Cảnh vật và lòng người dường như đang giao hòa trong không khí bâng khuâng, lưu luyến, thoáng một chút mơ hồ về một dự cảm chẳng lành.

Bằng bút pháp tài hoa của mình, Nguyễn Du đã vẽ nên cho người đọc thấy được bức tranh thiên nhiên đẹp tuyệt vời của mùa xuân trong tiết Thanh minh. Đoạn trích được kết cấu vô cùng hợp lý với phần mở đầu, diễn biến và kết thúc cùng với các bút pháp nghệ thuật được sử dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn như tả cảnh ngụ tình, chấm phá, lấy điểm tả diện, …

Là một bức tranh thiên nhiên mùa xuân, nhưng nó vẫn được Nguyễn Du lồng vào đó những biểu cảm, những tự sự và những dự cảm của mình về số phận của con người. Phải nói, đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một trong những đoạn trích miêu tả thiên nhiên đặc sắc và điêu luyện nhất của Nguyễn Du.

Kết thúc đoạn trích, người đọc không khỏi trầm trồ trước bức tranh thiên nhiên ngày xuân được vẽ lên bằng thơ của đại thi hào Nguyễn Du. Chỉ với đoạn trích này, Nguyễn Du đã khẳng định được tài năng cũng như bút pháp của một nhà thơ đại tài của dân tộc. Và đoạn trích “Cảnh ngày xuân” cũng như Truyện Kiều sẽ luôn là những tác phẩm đặc sắc nhất trong nền thi ca Việt Nam.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Kết Bài Truyện Kiều Nguyễn Du 🍀 20 Đoạn Văn Hay Nhất

Cảm Nhận Cảnh Ngày Xuân Văn 9 – Mẫu 9

Bài văn mẫu cảm nhận Cảnh ngày xuân văn 9 dưới đây sẽ là nội dung tham khảo cần thiết hỗ trợ các em học sinh trong quá trình làm bài.

Nguyễn Du là một nghệ sĩ thiên tài. Không chỉ tả tình sâu sắc mà ngòi bút của ông trong tả cảnh cũng rất tài hoa. Với đoạn trích “Cảnh ngày xuân”, ông không những vẽ lên một bức tranh xuân trong sáng, tươi đẹp mà còn gợi lên không khí lễ hội rộn ràng và tưng bừng.

Đoạn thơ có kết cấu theo trình tự thời gian, rất phù hợp với diễn biến tâm trạng của con người trong cuộc du xuân: bốn câu đầu tả khung cảnh ngày xuân, tám câu tiếp tả cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh, sáu câu cuối là cảnh chị em Kiều ra về.

Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã đem đến cho chúng ta một bức tranh thiên nhiên thật sống động, tươi đẹp mà đầy sức xuân.

“Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”

Nhà thơ đã sử dụng rất thành công bút pháp nghệ thuật giữa gợi và tả. Hai câu đầu vừa nói thời gian, vừa gợi không gian mùa xuân. Ngày xuân thấm thoát trôi mau đã qua tháng giêng, tháng hai, bước sang tháng ba. Câu đầu bài thơ tả cảnh ngày xuân có những cánh chim én bay đi bay lại rộn ràng giữa bầu trời trong xanh như con thoi đưa.

Nếu như trong bài thơ “Mùa xuân chín”, thi sĩ Hàn Mạc Tử nói; “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời” thì Nguyễn Du lại nói khác: “Cỏ non xanh tận chân trời”. Ở đây, nhà thơ muốn thể hiện sắc cỏ vừa non xanh vừa mỡ màng, ngọt ngào trải rộng tới chân trời càng khẳng định sự ảnh hưởng sâu sắc của Nguyễn Du với thi sĩ Hàn Mặc Tử. Chỉ hai câu thơ:

Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài hông hoa”

Bên cạnh vẻ đẹp của hoa, Nguyễn Du còn cảm nhận được sự mềm mại, uốn lượn, nhỏ nhắn của dòng nước. Dòng nước, cây cầu bị nhuốm bởi sắc vàng đỏ của ánh sáng mặt trời buổi chiều tà. Nhưng chính nhờ cảnh người đi trẩy hội, tấp nập trong khói hương nghi ngút, đã tạo nên sự sinh động cho bức tranh. Nhịp thơ nhẹ nhàng, hình sắc thanh âm êm dịu, thanh thoát ngân vang của từng dòng thơ cũng làm cho chúng ta cảm nhận được vẻ trong lành, thanh khiết của mùa xuân.

Có thể nói đây là bức tranh xuân được dệt nên từ những màu sắc tinh tế, quý phái phối màu hài hòa giữa hai gam màu xanh và trắng; giữa màu vàng và màu đỏ tạo sự ấm áp mà không chói chang. Đường nét, hình khối mà nhà thơ chọn tả đều thanh mảnh ở mọi góc nhìn. Cánh én chao liệng, người đi trẩy hội khiến bức tranh trở nên ấm áp; làm cho cảnh vật “nửa như thực, nửa như mơ”.

Gần xa nô nức yến anh
Chị em sấm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm”

Bốn câu thơ tiếp, Nguyễn Du tập trung miêu tả cảnh du xuân của chị em Kiều. Chị em Kiều hòa mình giữa dòng người tấp nập như chim yến anh để dự lễ tảo mộ ở vùng đồng quê. Chị em Kiều vừa đi, vừa thong thả ngắm cảnh chốn đồng quê thanh bình rồi thả thoi tiền giấy bay trong gió. Sử dụng một loạt các từ ghép, từ láy là tính từ, động từ như: gần xa, nô nức, tài tử, giai nhân, dập dìu, hình ảnh so sánh “ngựa xe như nước” “áo quần như nêm”.

Nguyễn Du đã miêu tả cuộc du xuân của chị em Kiều trong không khí lễ hội thật rộn ràng, tấp nập. Thông qua cuộc du xuân của chị em Kiều, Nguyễn Du đã khắc họa một nét truyền thống văn hóa xa xưa. Dù xuân đã muộn nhưng ta vẫn thấy cảnh xuân rộn ràng, nhộn nhịp những nam thanh, nữ tú, tài tử, giai nhân, những đoàn người đông vui như chim én, chim oanh ríu rít, tưng bừng.

Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một bức tranh xuân trong sáng và tươi đẹp, một bức tranh “thi trung hữu họa”. Thiên nhiên trong thơ của Nguyễn Du thật đẹp được tạo nên từ hồn thơ nhạy cảm và ngòi bút tài hoa của nhà đại thi hào dân tộc.

Mời bạn xem nhiều hơn 🌹 Giá Trị Nhân Đạo Của Truyện Kiều 🌹 12 Bài Văn Phân Tích Hay

Cảm Nhận Đoạn Đầu Bài Thơ Cảnh Ngày Xuân – Mẫu 10

Bài văn mẫu cảm nhận đoạn đầu bài thơ Cảnh ngày xuân dưới đây sẽ giúp các em học sinh đi sâu tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ.

Truyện Kiều là tác phẩm kinh điển của nền văn học Việt Nam. Hơn hai trăm năm nay, Truyện Kiều đã được lưu truyền rộng rãi và có sức chinh phục lớn đối với mọi tầng lớp đọc giả. Với Truyện Kiều, bên cạnh nghệ thuật tả người, nghệ thuật miêu tả thiên nhiên cũng đạt đỉnh cao chói lọi, xưa nay hiếm có. Bốn câu thơ đầu đoạn trích “Cảnh ngày xuân” thể hiện rõ nét bút pháp tả cảnh bậc thầy của thiên tài Nguyễn Du:

Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cảnh lê trắng điểm một vài bông hoa”.

Chỉ bằng một vài nét chấm phá, bức tranh cảnh ngày xuân mở ra mênh mông, cao rộng vô cùng. Bầu trời rộng lớn với những cánh chim én mừng xuân chao liệng rộn ràng như con thoi dệt trên nền trời. Không gian khoáng đạt, trong trẻo, tinh khôi, giàu sức sống. Bức họa mùa xuân xanh tươi với màu sắc cỏ non trải rộng làm nền, hoa lê trắng điểm xuyết. Từ “điểm” làm cho cảnh vật trở nên sinh động, có hồn, gợi sự hài hòa tuyệt diệu cho bức tranh thiên nhiên và vẻ đẹp riêng của mùa xuân thanh khiết, mới mẻ.

Bằng thủ pháp tượng trưng, nhà thơ khéo léo gợi ra bước đi của thời gian. Đất trời đang độ đầu tháng ba. Đó cũng là thời điểm của tiết Thanh minh. Không gian và thời gian gợi ra trong lòng người đọc sắc xuân nồng thắm, hội xuân tươi vui và tình xuân ấm áp.

Tiếp đến, Nguyễn Du hướng điểm nhìn xuống mặt đất, mở ra một chiều rộng đến vô cùng. Cỏ non trải thảm xanh trên khắp mặt đất tiếp nối đến chân trời xa thẳm. Điểm xuyết trên nền xanh bất tận ấy là màu trắng tinh khôi của một vài đóa hoa lê vươn nở. Biện pháp đảo ngữ: “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”, khiến ta như trông thấy những đóa hoa lê như đang cựa mình, dồn sức bung nở những cánh hoa cuối cùng, dâng vẻ đẹp cho mùa xuân vĩnh hằng.

Trong thơ cổ, hoa lê cũng đã từng một lần đẹp như thế:

Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa”.

(Cỏ thơm tiếp nối trời xanh
Hoa lê một vài đóa nở)

Nguyễn Du mượn hình ảnh trong thơ cổ tạo ra tính cổ kính, uyên bác cho tác phẩm. Nhưng ông cũng đã có những bước sáng tạo đáng kể khi tô đậm màu thảm cỏ. Thủ pháp đảo ngữ khiến cho hình ảnh hoa lê trắng thêm sinh động, lung linh. Hồn hoa như lãng đãng khắp bầu trời xuân tươi.

Quả thực, bức tranh mùa xuân được vẽ bằng thơ đậm chất hội họa. Đó là một mùa xuân tràn đầy màu sắc, ánh sáng, hương thơm và tình xuân đậm đà hồn quê đất Việt.

Có thể bạn sẽ thích 🌼 Giá Trị Hiện Thực Của Truyện Kiều 🌼 8 Bài Văn Phân Tích Hay

Cảm Nhận Về 4 Câu Thơ Đầu Cảnh Ngày Xuân – Mẫu 11

Đón đọc bài văn mẫu cảm nhận về 4 câu thơ đầu Cảnh ngày xuân dưới đây sẽ giúp các em học sinh có thêm những gợi ý làm bài đặc sắc.

Tác phẩm “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du không chỉ để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả bởi số phận truân chuyên, chìm nổi của Thúy Kiều – người phụ nữ tài hoa bạc mệnh trong xã hội phong kiến mà còn chứa đựng những giá trị nghệ thuật đặc sắc, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả thiên nhiên. Điều này đã được thể hiện rõ qua trích đoạn “Cảnh ngày xuân”. Thông qua bốn câu thơ đầu của tác phẩm, chúng ta có thể thấy được bức tranh mùa xuân hiện lên tươi đẹp, thanh khiết và tràn trề sức sống dưới ngòi bút tài hoa của tác giả.

“Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Ở hai câu thơ đầu tiên, tác giả đã phác họa bức tranh mùa xuân dựa trên hai phương diện về không gian và thời gian. Vào thời điểm tháng ba, những cánh én đua nhau chao liệng trên bầu trời trong xanh và cao vời vợi. Hình ảnh “con én đưa thoi” còn là một ẩn dụ đặc sắc, khiến bước đi nhanh vội và sự trôi chảy trừu tượng, vô hình của thời gian hiện lên một cách cụ thể như những cánh chim vụt bay đi trên bầu trời, đồng thời gợi liên tưởng đến những câu ca dao quen thuộc trong nền văn học dân gian:

“Thời gian thấm thoắt thoi đưa
Nó đi đi mãi có chờ đợi ai”

Khung cảnh ngày xuân tiếp tục được làm nổi bật ở sắc màu rực rỡ của những ánh nắng ban mai tháng ba – “thiều quang”. Đây là thời điểm sắc xuân đạt đến độ rực rỡ và tươi sáng nhất nhớ những tia nắng lấp lánh. Như vậy, tác giả đã miêu tả bức tranh thiên nhiên sinh động qua chuyển động của những cánh én và vẻ đẹp của những tia nắng. Dường như ẩn sau bức tranh đó là tâm trạng tiếc nuối của con người trước bước đi của thời gian.

Trên nền không gian đó, một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp tiếp tục được phác họa qua những gam màu sắc nổi bật là xanh và trắng:

Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Hai câu thơ của Nguyễn Du gợi lên những câu thơ quen thuộc trong thơ cổ Trung Quốc:

“Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa”

(Cỏ thơm liền với trời xanh
Trên cành lê có mấy bông hoa)

Tuy nhiên, nếu hai câu thơ cổ nhấn mạnh sắc thơm của cỏ thì Nguyễn Du chỉ tiếp thu ý thơ và nhấn mạnh vào sắc xanh của cỏ cùng bổ sung vào bức tranh thiên nhiên sắc trắng của hoa lê. Hai gam màu chủ đạo xuất hiện trong mối quan hệ hài hòa qua bút pháp chấm phá. Giữa không gian ngập tràn sắc xanh của cỏ non đến “tận chân trời” xa tít tắp, những cành hoa lê trắng xuất hiện. Nếu như màu xanh non của cỏ làm nổi bật sức xuân và sắc xuân mơn mởn thì sắc trắng của hoa lê tô điểm cho bức tranh xuân vẻ tinh khôi, thanh khiết.

Đặc biệt, tác giả đã vận dụng linh hoạt biện pháp đảo ngữ, đưa tính từ “trắng” lên trước động từ “điểm” để tái hiện sự sống động của bức tranh xuân, khiến cảnh vật hiện lên trong trạng thái vận động. Như vậy, dù miêu tả không nhiều, nhưng với những đường nét tạo hình mang tính chọn lọc và hết sức mềm mại, hài hòa, đại thi hào Nguyễn Du đã tái hiện thành công một bức tranh thiên nhiên với vẻ đẹp riêng và tràn trề sức sống.

Qua những câu thơ trên, chúng ta có thể thấy được tình yêu đối với thiên nhiên, cỏ cây của nhà thơ. Đồng thời, đoạn thơ còn thể hiện tài năng của tác giả Nguyễn Du trong việc sử dụng từ ngữ, lựa chọn hình ảnh, thi liệu và sử dụng các biện pháp nghệ thuật để tạo dựng một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp với những sắc màu, đường nét mang đậm tính hội họa.

Đừng bỏ qua 🔥 Tóm Tắt Truyện Kiều 🔥 21 Mẫu Văn Bản Nội Dung Hay

Cảm Nhận Cảnh Ngày Xuân Qua 4 Câu Đầu Ngắn Hay – Mẫu 12

Tham khảo gợi ý viết cảm nhận Cảnh ngày xuân qua 4 câu đầu ngắn hay dưới đây để linh hoạt vận dụng trong quá trình làm bài.

Nguyễn Du không chỉ là bậc thầy trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật mà ông còn là cây bút tài hoa trong việc khắc họa những bức tranh về thiên nhiên. Có không ít cảnh thiên nhiên được miêu tả trong “Truyện Kiều” nhưng cảnh thiên nhiên gây được nhiều ấn tượng với bạn đọc nhất có lẽ là cảnh ngày xuân:

Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.

Chỉ với bốn câu thơ lục bát ngắn gọn, Nguyễn Du đã phác họa nên bức tranh mùa xuân ở cả hai yếu tố thời gian và không gian. Mùa xuân luôn được coi là mùa đẹp nhất, tràn đầy sức sống nhất trong năm nên dù cho đã đi hết hai phần ba quãng đường thì vẻ đẹp của mùa xuân cũng không kém sự hấp dẫn. Ngoài những dấu hiệu đặc trưng là hoa đào và hoa mai thì chim én cũng được coi là tín hiệu của mùa xuân. Vào những ngày xuân, chim én bay theo từng đàn nghiêng đôi cánh chao liệng trên bầu trời.

Cánh én đã mang mùa xuân về với đất trời để xua tan đi mùa đông lạnh giá. Những đàn chim én bay đi bay lại rộn ràng được tác giả so sánh như thoi đưa. Đồng thời, chi tiết này còn ngụ ý về sự chảy trôi của thời gian trong thơ ông. Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Thời gian tồn tại của mỗi mùa là ba tháng.

Nguyễn Du miêu tả bức họa mùa xuân vào thời điểm mùa xuân đang ở tháng thứ ba và đó cũng là lúc nó sắp kết thúc hành trình của mình. Giọng thơ như ẩn chứa sự nuối tiếc mà đến thời kì văn học hiện đại về sau chúng ta mới bắt gặp trạng thái cảm xúc ấy trong thơ Xuân Diệu:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”

(Vội vàng)

Phải chăng Nguyễn Du cũng đang tiếc nuối, lo sợ vẻ đẹp mùa xuân sẽ bị những bước đi vô tình của thời gian làm cho tàn phai, héo úa? Phải chăng ông cũng muốn níu giữ vẻ xuân sắc của bức tranh thiên nhiên ấy ở lại? Thời gian trôi đi rất nhanh tựa như một dòng chảy không ngừng nghỉ.

“Thời gian thấm thoắt thoi đưa”, mới ngày nào mùa xuân còn ở trong giai đoạn bắt đầu vậy mà giờ đây nó đã đi qua sáu mươi ngày của tháng giêng và tháng hai. Tuy mùa xuân được tác giả miêu tả đang ở tháng thứ ba nhưng không vì thế mà bức tranh thiên nhiên trở nên úa rụng. Ánh sáng của ngày xuân vẫn đẹp đẽ, ánh nắng của ngày xuân vẫn ấm áp và rực rỡ.

Dưới ngòi bút tinh tế của Nguyễn Du, bức họa mùa xuân hiện lên thật hài hòa và sinh động:

“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.

Đây là mùa cây cối phát triển tươi tốt nhất nên cỏ xanh đến tận chân trời cũng là điều dễ hiểu. Màu xanh nõn nà, mơn mởn của cỏ kết hợp với màu xanh biếc của bầu trời tạo nên một bức tranh xuân ngập tràn gam màu tươi mát. Những cánh đồng cỏ nối tiếp nhau trải dài đến bất tận, vượt xa khỏi tầm mắt của người quan sát.

Đó là không gian khoáng đạt được bao trùm bởi màu xanh của sự sống căng tràn, màu xanh của niềm lạc quan, yêu đời. Bạn đọc chưa hết choáng ngợp trước không gian ngập tràn sắc xanh ấy thì đã bị thu hút bởi những bông hoa lê trắng tinh khôi, thanh khiết. Tuy chỉ có “một vài bông hoa” nhưng bấy nhiêu thôi cũng đủ làm bức họa mùa xuân ngập tràn sức sống. Phép đảo ngữ “trắng điểm” khiến bức tranh trở nên có hồn và sống động hơn.

Dường như những bông hoa lê đã chủ động điểm xuyết vẻ đẹp của mình vào không gian ấy để người thưởng thức có cơ hội được chiêm ngưỡng một tác phẩm hội họa tuyệt mĩ. Trắng và xanh là hai gam màu sáng và sự kết hợp của chúng là một sự kết hợp hoàn hảo. Ta có thể hình dung được tâm trạng vui tươi và sự hòa mình vào thiên nhiên của chị em Thúy Kiều khi đi du xuân.

Một bức họa mùa xuân hài hòa về đường nét, màu sắc và thể hiện được cái hồn của cảnh vật đã cho thấy sự tài hoa của người cầm bút. Bút pháp gợi tả và các từ ngữ giàu tính tạo hình được Nguyễn Du sử dụng triệt để đã mang đến cho bạn đọc những ấn tượng về bức tranh xuân khó phai mờ. Có thể nói đã có rất nhiều vần thơ viết về mùa xuân ra đời trước và sau khi Nguyễn Du sáng tác “Truyện Kiều” nhưng bức họa mùa xuân trong bốn dòng thơ trên của ông vẫn luôn chiếm một vị trí nhất định trong kho tàng văn học nước nhà.

Tiếp tục đón đọc 🌳 Phân Tích Chị Em Thuý Kiều 🌳 17 Bài Văn Phân Tích Hay

Cảm Nhận 8 Câu Thơ Giữa Bài Cảnh Ngày Xuân – Mẫu 13

Tham khảo bài cảm nhận 8 câu thơ giữa bài Cảnh ngày xuân dưới đây sẽ giúp các em học sinh củng cố những nội dung kiến thức xoay quanh đoạn trích.

Nhắc đến đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, người ta không thể nào quên được tác phẩm Truyện Kiều – kiệt tác của nền văn học trung đại Việt Nam nói chung và của tác giả nói riêng. Tác phẩm được viết lên bằng ngòi bút tài hoa, bút pháp ước lệ cùng cảm hứng nhân đạo sâu sắc của nhà thơ. Trong số đó, đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một đoạn trích nói lên rõ nét tài năng nghệ thuật của nhà thơ này. Nổi bật lên là khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh Minh ở 8 câu thơ giữa của đoạn trích.

“Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”

Trong tiết thanh minh đầu tháng ba, mọi người rủ nhau đi tảo mộ và thắp nén hương cho người đã khuất. Câu thơ cho thấy tục lệ cũng như nét truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, đó là truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”. Dù có đi đâu xa thì đến ngày giỗ của Tổ tiên, con cháu xa gần đều tụ họp lại để tưởng nhớ đến người thân của mình. Cùng với truyền thống đó là ngày hội mùa xuân. Mọi người, từ lớn đến nhỏ đều háo hức, tấp nập đi chơi xuân:

“Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước áo quần như nêm”.

Trong bốn câu thơ này, nhà thơ đã sử dụng một loạt những tính từ: “gần xa, yến anh, chị em, tài tử, giai nhân, nô nức,….” cho thấy sự đông đúc, không khí rộn ràng, náo nhiệt của lễ hội. Người người, nhà nhà đi chơi hội, đông đúc như chim yến, chim oanh, hình ảnh “nô nức yến anh” cho thấy ngòi bút miêu tả tài hoa của Nguyễn Du. Các từ láy “sắm sửa, dập dìu” khắc họa lên những hoạt động vui tươi, nhộn nhịp của con người.

Khung cảnh ấy đông đến mức nhà thơ so sánh ngựa xe nhiều như nước, áo quần nhiều như nêm. Những nam thanh, nữ tú đang tuổi cập kê như chị em Thúy Kiều, Thúy Vân chính là tâm điểm của lễ hội. Họ kéo tay nhau, tưng bừng háo hức trước vẻ đẹp của mùa xuân, cũng là háo hức trước mùa xuân cuộc đời mình. Trong sự tươi vui ấy, con người vẫn không quên những người đã khuất với việc làm lại thể hiện lên phong tục, tập quán của người Việt:

“Ngổn ngang gò đống kéo lên
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”

Họ đốt giấy vàng gửi cho người đã khuất với mong muốn ở Thế giới bên kia, những người đã khuất cũng sẽ được sống đủ đầy, hạnh phúc.

Tám câu thơ đã tả cảnh lễ hội ngày Thanh Minh, vừa khắc họa được truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa, vừa nói lên được khung cảnh tấp nập tươi vui trong ngày hội. Đoạn trích Cảnh ngày xuân – một đoạn trích tuy ngắn nhưng lại rất đầy đủ, qua đó, ta được một bức tranh thật đẹp, với những phong tục cổ truyền dân gian. .

Mời bạn tham khảo 🌠 Phân Tích Thuý Kiều 🌠 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Cảm Nhận 6 Câu Thơ Cuối Bài Cảnh Ngày Xuân – Mẫu 14

Bài văn mẫu cảm nhận 6 câu thơ cuối bài Cảnh ngày xuân dưới đây sẽ mang đến cho các em học sinh những ý văn hay và giàu hình ảnh.

“Cảnh ngày xuân” là một trong những trích đoạn đặc sắc thể hiện rõ tài năng nghệ thuật của tác giả Nguyễn Du trong việc miêu tả thiên nhiên. Nếu như ở những câu thơ đầu tiên, tác giả làm nổi bật bức tranh mùa xuân tươi sáng, tràn đầy sức sống vào buổi ban mai thì ở sáu câu thơ cuối, cùng với sự chuyển biến và trôi chảy của thời gian, nhà thơ tập trung miêu tả khung cảnh chiều tà khi lễ hội Thanh minh kết thúc và hai chị em Thúy Kiều ra về. Cảnh vật vì thế cũng nhuốm màu tâm trạng nhờ biện pháp “tả cảnh ngụ tình” đặc sắc.

“Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dang tay ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

Sáu câu thơ đã miêu tả thành công cảnh chị em Thúy Kiều ra về trên phông nền phảng phất nét đượm buồn của cảnh vật. Khác với bước đi cùng sự trôi chảy nhanh, vội như “con én đưa thoi” ở phần mở đầu đoạn trích, lúc này thời gian trôi đi chậm rãi và nhẹ nhàng: “Tà tà bóng ngả về tây”.

Hình ảnh mặt trời đang từ từ lặn xuống trong ánh dương xế chiều đã được tác giả tái hiện thành công qua từ láy tượng hình “tà tà”, đồng thời gợi lên tâm trạng tiếc nuối, lưu luyến, bâng khuâng qua bước chân có chút tâm tình “thơ thẩn dang tay ra về” của hai chị em Thúy Kiều. Và dường như tâm trạng lặng buồn của con người đã thấm sâu vào cảnh vật.

Khung cảnh thiên nhiên không còn hiện lên với sự cao rộng, bao la, bát ngát, khoáng đạt tràn trề sức sống như ở bốn câu thơ đầu tiên mà được miêu tả qua những hình ảnh bé nhỏ, thân thuộc hơn như “ngọn tiểu khê”, “dịp cầu nho nhỏ” bắc ngang cuối ghềnh để phù hợp với dòng tâm trạng của con người. Đặc biệt, tác giả đã vận dụng thành công hệ thống từ láy được trải đều trong các câu thơ như “tà tà”, “thơ thẩn”, “nho nhỏ”, “thanh thanh”, “nao nao” giàu giá trị biểu cảm.

Nao nao dòng nước uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

Dòng nước hiện lên qua dòng chảy “nao nao”, lững lờ lưu luyến trôi chậm bên chân cầu “nho nhỏ” vừa gợi lên sắc thái của cảnh vật, vừa diễn tả thành công tâm trạng của con người và hoàn toàn thống nhất với bước chân “thơ thẩn” bâng khuâng của nhân vật trữ tình. “Nao nao” cũng chính là tính từ mang tính chất dự báo, linh cảm cho cuộc gặp gỡ sắp tới của Thúy Kiều và chàng Kim. Tác giả đã vận dụng thành công bút pháp trong thơ ca trung đại như tả cảnh ngụ tình để tạo nên mối tương giao, thống nhất giữa cảnh và tình:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
Người buồn cảnh cũng thẫn thờ
Cảnh buồn người cũng ngẩn ngơ ưu sầu”

Như vậy, ở sáu câu thơ cuối, mối quan hệ hai chiều giữa cảnh và tình thể hiện qua việc khi hội tan, con người bâng khuâng, xao xuyến đầy lưu luyến và cảnh vật cũng vì thế không tránh khỏi màu sắc u buồn và ảm đạm. Để miêu tả thành công điều này, tác giả Nguyễn Du đã sử dụng tinh tế bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, đồng thời lựa chọn những hình ảnh, ngôn từ giàu chất tạo hình, thể hiện khả năng bậc thầy trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên.

Đừng bỏ qua 🔥 Phân Tích Vẻ Đẹp Của Thúy Vân 🔥 12 Bài Văn Phân Tích Hay

Cảm Nhận 6 Câu Cuối Cảnh Ngày Xuân Chi Tiết – Mẫu 15

Chia sẻ dưới đây bài cảm nhận 6 câu cuối Cảnh ngày xuân chi tiết giúp các em học sinh có thêm cho mình tư liệu tham khảo phong phú hơn.

Nguyễn Du vốn là một thiên tài nghệ thuật trong việc tả người với bút pháp ước lệ tượng trưng, với tài năng ấy, nhà thơ đã dựng lên đầy sinh động bức chân dung chị em Thúy Kiều, thật sự là mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười, khiến độc giả phải cảm thán không thôi.

Trong một đoạn trích khác, tài năng miêu tả của Nguyễn Du lại càng được nhấn mạnh, nhưng không phải tả người mà là biệt tài tả cảnh với những vần thơ rất hài hòa sống động, tựa như khung cảnh mùa xuân đang thực sự hiện ra trước mắt. Nghệ thuật tả cảnh đặc sắc như vậy ta sẽ được thấy trong đoạn trích Cảnh ngày xuân.

Cảnh ngày xuân là đoạn trích nối tiếp ngay sau đoạn trích tả tài, sắc của chị em Thúy Kiều. Đoạn trích tả cảnh du xuân của chị em Thúy Kiều trong tiết Thanh Minh, cũng trong đoạn trích này số phận của nàng Thúy Kiều cũng phần nào được dự đoán, đồng thời là tiền đề cho cuộc gặp gỡ của Thúy Kiều với mộ Đạm Tiên, với Kim Trọng, bắt đầu một mối tình đẹp nhưng ngang trái.

Đoạn trích giống như một bức tranh với những gam màu sáng, nhưng lạnh tả sắc thiên nhiên, cảnh người du xuân, thể hiện trình độ bậc thầy trong tả cảnh của đại thi hào Nguyễn Du. Đoạn trích gồm 3 phần, đầu tiên là bức tranh phong cảnh thiên nhiên ngày xuân, phần thứ hai là cảnh lễ hội ngày xuân, cuối cùng ấy là cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.

Trong đó có lẽ phần cuối là một phần khá đặc sắc, trong đó có bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du, cảnh ngày xuân đang tươi vui bỗng chuyển màu buồn vì những nỗi vấn vương, nỗi băn khoăn khó hiểu của lòng người.

“Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dan tay ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

Trong đoạn trích này, cảnh sắc nhuộm một nỗi buồn man mác, lúc này đây, đã là buổi chiều tà “bóng ngả về tây”, cảnh hội đã tàn, người cũng đã tan, không đâu vui bằng cảnh hội, cũng chẳng đâu buồn bằng cảnh hội tan. Chị em Kiều mang trong lòng một nỗi buồn, nỗi hụt hẫng bởi ngày xuân chóng tàn, mặt trời nhanh xuống núi, chính vì lòng người buồn thế nên cảnh sắc xung quanh cũng chẳng thể nào vui cho được.

Những hình ảnh “tiểu khê”, “dòng nước uốn quanh”, “dịp cầu nho nhỏ”, đều được Nguyên Du thu nhỏ lại, mang một vẻ man mác, dịu dàng, thêm màu nắng nhàn nhạt chiều tà, người ta lại càng cảm nhận nhân được cái thanh, cái trầm lắng của cảnh vật và hơn cả đó chính là nỗi buồn bã, trầm tư đọng trong lòng người. Bởi trước những cảnh vật ấy, con người lại càng thấy mình trở nên nhỏ bé, lạc lõng và cô đơn hơn cả, đặc biệt là Kiều vốn là người đa sầu đa cảm thì nàng lại càng thêm thấm thía điều ấy.

Đặc biệt trong đoạn thơ, còn có sự xuất hiện của một loạt các từ láy như “tà tà”, “thơ thẩn”, “thanh thanh”, “nao nao”, đó chính là sự xáo trộn, sự khuấy động âm ỉ trong lòng người, tuy lặng lẽ và im ắng nhưng lại để lại nhiều cảm xúc, khiến người ta dễ nghĩ ngợi vẩn vơ, bởi những bâng khuâng, vấn vương về cảnh xuân đã tàn, những nỗi buồn man mác vì thấy cảnh “tro tàn giấy bay”.

Trong đoạn thơ có một cảnh tả hành động của Thúy Kiều và Thúy Vân, “Chị em thơ thẩn dan tay ra về”, đó là sự kết nối tâm linh tương thông của hai chị em, cái “dang tay” ở đây có thể là cái nắm tay, cái dắt tay thân thiết, cùng chia sẻ tâm trạng, nỗi buồn với nhau mà không cần một từ ngữ nào cả. Nhịp thơ chậm đều dàn trải, càng nhấn mạnh mỗi buồn man mác, gợi một không gian yên ắng cho nỗi buồn ấy được bao trùm khắp cả cảnh sắc, cả con người.

Người buồn khiến cảnh cũng nhuốm màu buồn thêm câu thơ kết đoạn “Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”, dường như có một nhịp ngắt, cái “bắc ngang” ấy là dự đoán một tương lai đầy trái ngang, ắt gặp những trắc trở khó khăn của Thúy Kiều. Nếu đọc thật kỹ và ngẫm lại, thì cuộc đời Kiều tựa như đoạn trích Cảnh ngày xuân vậy, nàng có một khởi đầu rất tươi sáng, vui vẻ, nhưng càng về sau càng buồn dần, dẫn đến kết cục bế tắc, đoạn trường.

Đoạn trích Cảnh ngày xuân là một đoạn trích hay, thể hiện tài năng kiệt xuất của đại thi hào Nguyễn Du, ông không chỉ có tài năng miêu tả người với bút pháp ước lệ mà với cảnh vật tài năng của ông ở phương diện này cũng chẳng hề thua kém, từng vần thơ như được thổi thêm hồn, dần trở nên sống động, tươi đẹp như một bức tranh phong cảnh thiên nhiên tuyệt mỹ.

Thêm vào đó ở phần sau bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc trưng thường xuất hiện trong thơ Nguyễn Du cũng được đưa vào càng làm nổi bật tâm trạng con người, không cần một lời nói một dáng điệu cử chỉ nào của nhân vật, ta cũng cảm nhận được lòng nhân vật ấy đang chất chứa những nỗi buồn sâu thẳm. Đoạn thơ cũng là một dấu khởi đầu, báo hiệu về cuộc đời đầy biến động và đau khổ của Kiều suốt về sau, tiếc thương cho một nàng giai nhân đa sầu đa cảm, nhưng phận mỏng, mệnh bạc…

Đọc nhiều hơn 🌻 Phân Tích Nhân Vật Kim Trọng 🌻 5 Bài Văn Phân Tích Hay

Viết một bình luận