Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ ❤️️ 15 Mẫu Hay

Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ ❤️️ 15 Mẫu Hay ✅ Tham Khảo Tuyển Tập Bài Văn Đặc Sắc Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Nhân Vật Trữ Tình.

NỘI DUNG BÀI VIẾT

Dàn Ý Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ Trong Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ

Tham khảo dàn ý phân tích tâm trạng của người chinh phụ trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ dưới đây sẽ giúp các em học sinh có được cho mình những định hướng làm bài cụ thể nhất.

1.Mở bài phân tích tâm trạng của người chinh phụ:

  • Giới thiệu tác giả Đặng Trần Côn
  • Dẫn dắt vào tác phẩm Chinh phụ ngâm và giới thiệu nội dung cần phân tích – tâm trạng của người chinh phụ.

2.Thân bài phân tích tâm trạng của người chinh phụ:

a. Phân tích 8 câu đầu thể hiện tâm trạng và nỗi cô đơn của người chinh phụ:

-Hoàn cảnh: sau khi tiễn người chồng ra chiến trường, người chinh phụ lẻ loi, nhung nhớ.

-Hành động:

  • “Gieo từng bước”: thể hiện sự nặng nhọc, chậm rãi trong từng bước chân với nỗi buồn vời vợi trong lòng của người chinh phụ.
  • “Rủ thác đòi phen”: thể hiện hành động buông xuống và cuốn lên nhiều lần.
  • Chỉ người phụ nữ đang trong tâm trạng buồn chán, những hành động lặp đi lặp lại nhiều lần, không chủ đích, không có hứng thú làm việc gì.

-Hình ảnh:

  • “Chim thước”: loài chim báo tin lành. Người chinh phụ mong ngày chồng thắng trận trở về bình an vô sự, nhưng mãi vẫn không thấy chim thước bay về báo tin.
  • “Ngọn đèn”, “chẳng biết”: chờ đợi, ngóng trông từ sáng đến đêm khuya. Tâm trạng buồn rầu, nhớ nhung, chờ chồng trong vô vọng của người chinh phụ.
  • “Hoa đèn- bóng người”: thể hiện sự thao thức, trằn trọc từng đêm vì nhớ chồng, cô đơn, không ai chia sẻ.

-Lời độc thoại trong nội tâm của người chinh phụ:

  • “ Lòng thiếp riêng bi thiết”: gợi lên nỗi lòng sầu thảm, bi thương, cô độc đến mức không thể thốt nên lời.
  • “ Buồn rầu”: sự buồn bã, rầu rĩ thường trực.
  • “Khá thương”: tâm trạng lo âu, bồn chồn, xót xa cảnh chồng ở nơi chiến trận gian nguy của người chinh phụ.

-Nghệ thuật:

  • Đối: “rủ- thác, “ngoài-trong”: thể hiện thói quen lặp đi lặp lại hằng ngày.
  • Điệp ngữ bắc cầu: “đèn biết chăng- đèn chẳng biết” thể hiện sự cô đơn, buồn bã đến mức người chinh phụ chỉ còn biết tự vấn cùng cảnh vật xung quanh.
  • Câu hỏi tu từ: “Là lời than thở khắc khoải không yên”
  • Từ biểu cảm: Bi thiết, buồn rầu, khá thương,… Khắc họa rõ nét tâm trạng của người chinh phụ.

b. Phân tích 8 câu tiếp theo thể hiện tâm trạng buồn phiền kéo dài ngày qua ngày của người chinh phụ:

  • Cảnh vật: “gà eo óc”, “năm trống”, “hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”: người chinh phụ nhớ chồng đến thao thức suốt đêm, tâm trạng sầu não rối bời, bồn chồn cùng với cảnh vật cô quạnh, heo hút.
  • Thời gian: “khắc giờ đằng đẵng như niên”, từng phút từng giây đối với người chinh phụ trải qua buồn chán, vô định, mỗi giây trôi qua dài như một năm.
  • “Mối sầu”, “dằng dặc”, “miền biển xa” thể hiện tâm trạng chán chường, lẻ loi, dàn trải ra không gian rộng lớn để khắc họa mức độ cô đơn, nhung nhớ của người chinh phụ.
  • Hành động: “Hương gượng đốt”, “gương gượng soi”, “gượng gảy ngón đàn”: hoạt động một cách miễn cưỡng, gượng gạo, không sức sống

c. Phân tích 8 câu cuối gợi tâm trạng nhớ thương chồng nơi phương xa của người chinh phụ

  • “Gió đông, Non yên”, “Đường lên bằng trời”: gợi khung cảnh cô đơn với nỗi nhớ xa xăm của người chinh phụ.
  • “ Cảnh buồn tha thiết lòng”, “cành cây sương đượm”, “tiếng trùng mưa phun”: cảnh vật cũng buồn rầu, ảo não dưới sự cảm nhận của người chinh phụ đang trong tâm trạng cô đơn, muộn phiền.

3.Kết bài phân tích tâm trạng của người chinh phụ:

Khái quát lại tác phẩm, nêu suy nghĩ bản thân.

Tham khảo trọn bộ 🌹 Phân Tích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 🌹 15 Mẫu Hay Và Đặc Sắc Nhất

Mở Bài Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ

Gợi ý viết mở bài phân tích tâm trạng của người chinh phụ dưới đây sẽ giúp các em học sinh có được cho mình cách bắt đầu bài viết thật ấn tượng.

Trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công, cuộc đời người phụ nữ luôn gắn liền với những đau khổ và bất hạnh. Dù có phẩm cao quý, tốt đẹp đến đâu thì số phận của họ vẫn đầy rẫy những bi kịch. Một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc đời đầy những đau thương, nước mắt của họ chính là tấn bi kịch do chiến tranh phong kiến phi nghĩa gây ra.

Bài thơ “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” của tác giả Đặng Trần Côn là tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ điều này. Qua những câu thơ chất chứa tâm trạng và dòng độc thoại nội tâm nhân vật, thi phẩm đã khắc họa nỗi đau khổ cũng như khát khao về hạnh phúc lứa đôi, về mái ấm gia đình của người chinh phụ trong những tháng ngày xa cách và mong chờ người chinh phu trở về.

Kết Bài Phân Tích Tâm Trạng Người Chinh Phụ

Tham khảo đoạn văn mẫu kết bài phân tích tâm trạng người chinh phụ dưới đây với những đánh giá tổng kết về tác phẩm.

Thông qua việc sử dụng những hình ảnh ước lệ tượng trưng, bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã tái hiện thành công bức tranh tâm trạng đầy phức tạp nhưng thống nhất của người chinh phụ. Các cung bậc khác nhau của nỗi nhớ đã được khắc họa một cách sinh động nhưng đều thể hiện tiếng lòng thiết tha của trái tim người phụ nữ thủy chung, khao khát hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình.

Qua đó, chúng ta có thể thấy được tiếng nói đồng cảm, xót thương của tác giả đối với bi kịch của người phụ nữ cùng sự lên án, phê phán những cuộc chiến tranh phi nghĩa trong thời buổi xã hội phong kiến rối ren, loạn lạc.

Chia sẻ thêm cùng bạn 🍀 Cảm Nhận Về Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 🍀 15 Mẫu Đặc Sắc

Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ Hay Nhất – Mẫu 1

Đón đọc bài văn mẫu phân tích tâm trạng của người chinh phụ hay nhất được chọn lọc và chia sẻ dưới đây dành cho các em học sinh.

Chinh phụ ngâm của tác giả Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, nhận được sự đồng cảm rộng rãi của người dân cũng như tầng lớp nho sĩ. Tác phẩm này phản ánh được bản chất cũng như sự đau khổ, chiến tranh phi nghĩa mà người dân phải gánh chịu trong thời kì xã hội rối ren. Đồng thời đề cao quyền sống và khao khát hạnh phúc đôi lứa, là việc mà ít tác phẩm thời này nhắc đến.

Vì như vậy có xuất hiện rất nhiều bản dịch của tác phẩm, nhưng nổi bật nhất là bản của bà Đoàn Thị Điểm sang chữ nôm. Bản dịch này được thành công cả về nội dung và nghệ thuật từ nguyên tác. “Chinh phụ” trong Chinh phụ ngâm khúc là cô gái chỉ vừa mới tiễn chồng ra trận với hi vọng chàng sẽ lập được công danh hiển hách, mang về phú quý vinh hoa. Nhưng chỉ ngay sau khi tiễn đưa, nàng lập tức nhận ra nỗi cô đơn, lẻ loi, lo lắng từ nơi hậu phương cho chồng và hiểu rằng cảnh lứa đôi hạnh phúc ngày càng xa vời.

Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” nằm từ câu 193 đến 288 của tác phẩm. Đó diễn biến tâm trạng, là những sắc thái khác nhau ở sự cô đơn của người phụ nữ đáng lẽ ra phải đang được hưởng hạnh phúc của tình yêu đôi lứa.

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?

Đèn có biết dường bằng chẳng biết?
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương!

Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Qua những dòng thơ trên, ta có thể tưởng tượng ra được được khung cảnh hoang vắng, tĩnh mịch nơi người chinh phụ đang ở. Nàng thật nhỏ bé, cô độc biết bao giữa không gian rộng lớn: tiếng gà gáy báo canh năm, hoè phất phơ rủ bóng trong ánh sáng lờ mờ càng khiến người ta cảm được nỗi buồn bã.

Không nhắc đến chiến tranh, như ta vẫn thấy được nỗi ai oán trong lòng nàng:

Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.

Nỗi cô đơn cứ luẩn quẩn trong đầu người chinh phụ, khiến nàng muốn nhưng cũng khó lòng thoát ra. Dù có cố gượng dậy tô son điểm phấn hay dạo đàn, thế nhưng những việc ấy dường như lại phản tác dùng vì nó nhắc nàng về tình cảnh chăn đơn gối chiếc.

Soi gương nhớ đến chồng cũng từng chung bóng, lại phản chiếu lại nhan sắc dần tàn phai. Đốt hương thì lại thấp thỏm lo âu, quả thực không lối thoát. Gảy đàn khúc long phụng sum vầy lại chạnh lòng vì sự chia lìa vợ chồng đang gánh chịu. Những vòng luẩn quẩn chỉ toàn đưa cho nàng suy nghĩ tiêu cực, đi đâu cũng đều quay trở về nỗi phiền lòng đã cũ.

Nàng chẳng dám đụng vào thứ gì nữa, vì mỗi đồ vật là một kỷ niệm, mỗi khung cảnh là một kí ức và mỗi hành động lại khiến nàng nghĩ về cảnh đoàn tụ chẳng biết bao giờ mới xảy ra. Sự chông chênh ấy làm sao mới có thể giải quyết đây, vì nó khiến người chinh phụ phải bất an và khổ sở quá rồi. Đâu còn cách nào khác, nàng chỉ đành gửi thương nhớ vào cơn gió:

Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

Một ý nghĩ bất chợt và có phần nên thơ xuất hiện trong đầu người chinh phụ: nhờ gió xuân gửi lòng mình tới người chồng ở chiến trường xa. Người chồng nơi ấy chịu bao khổ sở, vất vả chắc hẳn cũng rất nhớ thương mái ấm gia đình nơi hậu phương. Có lẽ điều ấy cũng giúp nàng giải tỏa được phần nào. Khoảng cách giữa hai đầu nỗi nhớ được tác giả ví von là thăm thẳm như được lên trời. Khoảng cách ấy vừa xa, lại vừa chẳng có cách nào có thể chạm tới. Ngắn gọn, hàm súc, chỉ với vài câu thơ thôi đã giúp ta hiểu được nỗi lo cách trở ấy.

Nàng bộc lộ cảm xúc của mình:

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

Sự xót xa, cay đắng được thể hiện trực tiếp qua hai câu thơ thất ngôn. Nỗi khổ tâm đang giày vò nàng ghê gớm ấy, không biết có trời xanh nào thấu được? Trời cao đất dày, liệu tâm tư nàng gửi gắm đến sẽ được tai ai?

Bởi vậy nên nó càng kết tụ, càng cuộn xoáy, gây nên nỗi đớn đau cho thể xác:

Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

Người ta nói : “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” quả thật rất đúng. Qua đôi mắt đẫm lệ của người chinh phụ, ta thấy được cả nỗi sầu thương của cảnh vật. Tâm hồn giá lạnh lại như phủ thêm tầng băng tuyết cho không gian. Giọt sương sớm long lanh không hề mang đến sự tươi mới, tiếng trùng rả rích trong đêm mưa gió lại càng tôn lên bao nỗi đoạn trường trong lòng. Dưới tình cảnh ấy, ta liền lập tức hiểu ra rằng: Cuộc sống của rất nhiều người phụ nữ trong xã hội phong kiến là bi kịch bởi chiến tranh vô nghĩa và tàn ác.

Nỗi nhớ thì vô cùng, những suy nghĩ người chinh phụ lại bị giới hạn bởi cuộc sống nghiệt ngã của mình. Thiên nhiên lạnh lẽo như truyền, như ngấm cái lạnh đáng sợ vào tận tâm hồn nàng:

Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.

Cuối cùng nàng đã hiểu được sự tàn phá ghê gớm của thời gian. Thế nhưng ít ra người ta cũng thấy được rằng, thất vọng nhưng chưa hề tuyệt vọng, vẫn còn một tia sáng lấp lánh trong lòng nàng.

Có thể bạn sẽ thích 🌟 Phân Tích Chinh Phụ Ngâm 🌟 19 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ Ngắn Gọn – Mẫu 2

Tham khảo bài phân tích tâm trạng của người chinh phụ ngắn gọn dưới đây với cách viết súc tích và cô đọng ý văn.

Người con gái trong xã hội phong kiến xưa luôn là người gánh chịu nhiều đau khổ thiệt thòi nhất. Nếu không bị vào cung trở thành cung nữ, được sủng ái rồi bị ruồng bỏ không thương tiếc hay lấy chung một chồng để rồi phận má đào bị ghẻ lạnh đơn côi thì cũng phải xa chồng vì chiến tranh. Người con gái trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ không phải sống kiếp chồng chung, không bị ruồng bỏ nhưng lại phải lẻ loi đơn chiếc vì chồng ở nơi trận mạc binh đao. Đoạn trích thể hiện rõ tâm trạng cô đơn và nỗi đau khổ của nàng.

Trước hết đoạn trích thể hiện tâm trạng cô đơn của người chinh phụ. Nỗi cô đơn ấy cứ bủa vây lấy nàng, khiến nàng không thể làm gì và cũng chẳng làm được gì, ngày thẫn thờ đêm thức trắng:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương!”

Trên từng bậc thềm, xưa kia còn in dấu gót của hai người vậy mà giờ đây chỉ có mỗi một mình nàng gieo từng bước cô quanh. Hiên cũng như vắng đi một con người đứng đó. Nàng thẫn thờ trong nỗi cô đơn độc bước, dạo để khuây khỏa mà lòng vẫn chưa yên. Đứng không xong nàng lại ngồi trong chiếc rèm chờ con chim thước đưa tin từ chiến trận gửi về.

Nhưng chờ thì cũng chỉ chờ trong vô vọng, chim thước không thấy đâu mà nỗi cô đơn thì ngày càng nuốt chửng lấy người con gái mềm yếu. Ngày đêm chỉ có chiếc đèn làm bạn, đèn thức cùng nàng nhưng liệu rằng đèn có thấu hiểu cho nỗi lòng cô quạnh của người chinh phụ. Nàng tự hỏi rồi tự trả lời, đèn có biết thì cũng bằng không biết chỉ có riêng nàng chịu đựng với nỗi cô quạnh đó mà thôi.

Nàng không chỉ bị nỗi cô đơn vây lấy mà nỗi đau khổ cũng cứ thể mà chiếm lấy nàng. Nó dằn vặt nàng sống mà hồn “mê mải”:

“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.
Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.
Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun.”

Tiếng con gà gáy sáng trong màn sương ảm đạm càng làm cho nỗi cô đơn trở thành nỗi đau. Nàng đã thức trắng cả một đêm, không phải nàng không muốn ngủ mà nàng không thể nào nhắm mắt được. Trước nguy cơ nàng có thể trở thành phụ nữ góa chồng bất cứ nào khiến cho nàng đau khổ. Nàng lo lắng thương cho chồng và ngẫm cho mình.

Cây hòe bên ngoài kia cũng ủ rũ, cành cây ướt đẫm sương đêm. Cái màn sương lạnh giá ấy lại thêm tiếng mưa phùn làm cho người chinh phụ buồn lại càng buồn, nỗi nhớ đau đáu trong tim. Nó thường trực trong lòng chứ không phải phút đến phút lại đi. Mỗi giờ phút qua đi được tính từ cái tích tắc một, thời gian chạy chậm như đè nặng thêm sự đau khổ trong lòng người con gái.

Như vậy qua đây ta có thể thấy, chiến tranh không chỉ cướp đi những người trai tráng hiền lành khỏe mạnh, những người chồng thương yêu vợ mà còn biến những người con gái trẻ thành những bà góa phụ. Người chinh phu ở nơi xa sống chết như thế nào làm sao người chinh phụ có thể biết. Nàng chỉ biết nhớ, biết thương biết lo lắng mà thôi.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ Nâng Cao – Mẫu 3

Bài văn mẫu phân tích tâm trạng của người chinh phụ nâng cao dưới đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh.

Trong xã hội phong kiến, không số phận nào khổ bằng số phận người phụ nữ. Có những người may mắn được vào cung làm phi tần, cung nữ sống trong cảnh nhà lầu gác tía, cung quế, thẩm khuê nhưng vui hay không thì chỉ có họ mới hiểu, nhất là khi vua chúa ruồng bỏ. Hay cũng có những người không phải sống kiếp chồng chung, họ được sống với người mình yêu thương, một vợ một chồng nhưng thời buổi binh đao loạn lạc, chồng bị bắt đi lính thì họ cũng đâu có hạnh phúc gì.

Tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc tiêu biểu là đoạn trích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ là minh chứng cho những nỗi buồn, nỗi nhớ nhung sầu muộn của người phụ nữ có chồng đi lính.

Mười sáu câu thơ đầu thể hiện tâm trạng buồn bã, tủi hờn của người chinh phu. Khi người yêu thương của mình phải đi đánh trận vì một những cuộc chiến tranh vô nghĩa, người vợ ở nhà không thể ngừng lo lắng cho số phận của chồng mình, buồn rồi nhớ, nhớ rồi thương người con gái không thiết làm gì nữa:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương!”

Qua từng câu thơ ta có thể cảm nhận được hình bóng của người chinh phụ đang chậm rãi thả từng bước chân trên hiên vắng, thả như gieo xuống, buông thõng mình mà buồn bã. Hết dạo lại ngồi trong rèm thưa mong con chim thước mách tin về chồng mình. Nhưng ngóng trông vô ích nào có biết được tin tức phu quân nơi trận mạc.

Trong ngôi nhà nhỏ, trong bức rèm thưa chỉ có một mình nàng với cây đèn. Nó thức cùng nàng đấy nhưng nó có hiểu được lòng nàng không. Câu hỏi tu từ vang lên nghe sao buồn đau đáu. Chỉ có một mình nàng một niềm bi thiết mà thôi. Hoa đèn kia như thức cùng bóng người.

“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa
Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.”

Nàng thức cả năm canh, gà “eo óc” gáy báo canh năm, những bông hòe phất phơ nhưng cũng rủ bóng. Cảnh vật nhuốm màu tâm trạng của người chinh phụ. Trước nỗi nhớ chồng một khắc trôi qua mà tựa như một năm, thời gian trôi càng chậm thì mối sầu trong lòng nàng lại càng dày đặc hướng về phía biển xa. Nàng buồn nàng gượng đốt hương, gương cầm lên cũng chỉ gương soi, nhìn mình trông gương tủi phận mà mắt lại lệ chan. Buồn rồi nàng lại gảy đàn nhưng lại sợ dây đứt báo điềm gở.

Người chinh phụ nhớ chồng không buồn làm gì, ngay cả đến việc soi gương cũng chỉ gượng gạo cho xong. Lòng nàng chỉ một mối tơ vương hướng đến người chồng của mình nơi trận mạc:

“Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun”

Nàng muốn gửi tấm lòng vàng của mình cho gió đông để mang tới chàng. Dẫu biết Non Yên cũng chẳng tới miền nhưng nàng vẫn muốn gửi. Nỗi nhớ chồng thăm thẳm như trời cao vậy. Nỗi nhớ ấy luôn đau đáu trong lòng người chinh phụ. Người buồn cảnh cũng buồn cành cây ướt sương đêm tiếng mưa phùn rơi như người chinh phụ đêm qua với giọt nước mắt tràn mi.

Qua đoạn trích ta có thể cảm nhận được nỗi lòng của người chinh phụ. Đó là nỗi buồn thương người chồng nơi trận mạc không biết sống chết thế nào. Một mình nàng lẻ bóng, chăn đơn gối chiếc mà cô đơn một thì lo lắng nhớ thương chàng tới mười. Đồng thời qua đây nhà thơ cũng muốn phản ánh hiện thực xã hội với những cuộc chiến tranh vô nghĩa đã chia lìa những đôi vợ chồng.

Gợi ý cho bạn 🌳 Cảm Nhận 8 Câu Đầu Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 🌳 10 Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ Học Sinh Giỏi – Mẫu 4

Tham khảo bài văn phân tích tâm trạng của người chinh phụ học sinh giỏi dưới đây với những nội dung nghị luận văn học chuyên sâu.

Đặng Trần Côn được nhiều người biết đến nhờ học rộng và tài cao. Ông là tác giả của nhiều bài thơ chữ Hán và bài phú. Trong các tác phẩm, Chinh Phụ Ngâm được xem là nổi bật và được nhiều người biết đến.

“Tình cảnh lẻ loi” chính là đoạn thơ được trích từ tác phẩm từ câu 193 đến câu 220. Nội dung chính là diễn biến tâm trạng của người chinh phụ sau buổi tiễn đưa chồng ra nơi chiến trường. Tâm sự và nỗi buồn ấy được thể hiện sâu sắc khiến lòng người rung động.

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”

Bốn câu thơ đầu của đoạn trích chính là cảm xúc lẻ loi của người chinh phụ. Theo dõi bước chân của người thiếu phụ, ta sẽ thấy được sự thẫn thờ trong tâm trạng. Bàn chân kia không hề muốn bước mà chỉ là đang cố để đi. Hình ảnh ấy cho ta thấy được, mạch cảm xúc đắm chìm trong sâu thẳm con tim. Hiểu đơn giản hơn đó chính là lý trí, cảm xúc đang níu bước chân người chẳng muốn rời đi. Ngồi bên trong rèm thừa mà lòng lại buồn vô tận. Nỗi buồn đó liệu có ai thấu cho nàng.

Nàng buồn bã luôn mong ngóng tin chồng từ phương xa. Thế nhưng, chẳng ai mách tin cho nàng. Hình ảnh chiếc đèn hiện lên như là “người” chứng kiến tất cả nhưng liệu “đèn có biết chăng”. Câu hỏi được đề cập khiến cho người đọc cảm thấy vô cùng chua xót. Mặc dù cạnh kề nhưng dẫu sao đèn cũng là món đồ vô tri vô giác. Nó chẳng thể nào an ủi hay báo tin cho nàng.

“Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu nói chẳng nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Hình ảnh chiếc đèn lại được nhắc đến lần nữa để nói lên nỗi buồn triền miên của người chinh phụ. Kể cho đèn kia có hiểu được thì cũng không thể đồng cảm với tâm trạng của nàng lúc này. Nàng buồn đến nỗi chẳng thiết nói lời chi. Trong 4 câu thơ tiếp, tác giả đã lồng ghép thêm hình ảnh hoa đèn để an ủi tâm tư của nhân vật. Thế nhưng, đọc vào chúng ta còn cảm thấy lòng nặng trĩu hơn. Nỗi buồn của nàng chỉ nàng mới có thể hiểu rõ được.

“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa
Hương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại ngùng”

Nỗi buồn ấy giờ đây đã lan tỏa ra xung quanh và tác động đến cả cảnh vật. Tiếng gà gáy báo hiệu ngày mới bắt đầu với nhiều điều mới mẻ. Thế nhưng, qua từ ngữ tác giả thể hiện nó lại buồn đến nao lòng. Vì buồn mà nàng chẳng thể ngủ được nên mới nghe được tiếng gà sáng sớm. Tiếng gà văng vẳng gợi lên nỗi sầu triền miên giữa không gian. Cây hoa rủ bóng được đề cập đến như mái tóc người chinh phụ cúi đầu nhớ thương chồng.

Chưa dừng lại ở đó, tác giả còn sử dụng hình ảnh miền biển xa để thể hiện sự dài rộng của nỗi buồn, nỗi nhớ. Người chinh phụ đợi chờ một khắc dài tựa một năm. Thời gian đằng đẵng lại khiến cho tình cảnh lẻ loi được làm rõ hơn cả. Lúc này, nàng chẳng thiết tha gì đến bản thân mình. Ngay cả việc soi gương cũng chỉ là gắng gượng. Nàng còn sợ cả việc đánh đàn mà dây bị đứt. Mọi điềm gửi đều khiến cho tâm nàng bất an.

“Lòng này gửi gió đông có tiện
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”

Nỗi nhớ của người chinh phụ đã bao trùm cả không gian. Nàng mượn hình ảnh gió để gửi tâm tình đến người chồng nơi biên ải. Mặc dù không biết chàng có nhận được nhưng vẫn mong gửi tới non yên kia. Con đường gửi gắm tâm tư mặc dù khá trắc trở và chông gai nhưng nàng vẫn nuôi niềm hy vọng. Nỗi nhớ ấy lại dường như thăm thẳm và xoáy sâu hơn trong lòng. Nhớ đến nỗi hóa đau thương bật lên tiếng khóc hòa cùng mưa phùn ngoài kia.

Thông qua diễn biến tâm trạng của người chinh phụ, chúng ta đã thấy rõ hơn thái độ của tác giả. Ông cảm thông, thương xót con người trước tình cảm cô đơn ấy. Đồng thời, tác giả còn ngợi cả tấm lòng thủy chung của người phụ nữ và khao khát về hạnh phúc lứa đôi. Ngoài ra, đoạn trích còn lên án cuộc chiến tranh đã mang đến bao nhiêu đau khổ cho con người. Nó khiến cho người với người xa nhau.

Như vậy, qua bài phân tích tâm trạng của người chinh phụ, chúng ta đã thấy rõ hơn sự cô đơn lẻ loi của con người. Người con gái ấy phải sống xa chồng, chỉ một thân một mình với nỗi nhớ khôn nguôi. Đồng thời, qua đó mỗi người sẽ cảm thấy đồng cảm sâu sắc hơn với tác giả.

SCR.VN chia sẻ 🌼 Phân Tích 8 Câu Đầu Bài Tình Cảnh Lẻ Loi 🌼 13 Mẫu Cực Hay

Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ Đặc Sắc – Mẫu 5

Bài văn phân tích diễn biến tâm trạng của người chinh phụ đặc sắc dưới đây sẽ giúp các em học sinh trau dồi cho mình những ý văn hay.

Đặng Trần Côn là nhà văn đã nói lên được những cảm xúc và tâm trạng của những người thiếu phụ khi phải chịu những cảnh cô đơn, buồn tủi, những cảm xúc đó đang bao trùm lên toàn bộ sáng tác của ông, nổi bật lên trong sáng tác đó là cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

Những người phụ nữ cô đơn khi có chồng đi chinh chiến nơi xa, bao nhiêu cảm xúc đang được thể hiện và nó thực sự mang những nỗi lòng cảm xúc sâu sắc cho tâm hồn của mỗi người, hình ảnh những người thiếu nữ đứng trước mình và soi bóng vào những chiếu cô đơn, thì tâm hồn của chúng ta lại ngập tràn thêm bao nhiêu sự đồng cảm sâu sắc.

Tâm trạng và hình ảnh của người phụ nữ được hiện lên với ngập tràn những nỗi nhớ mong và khắc khoải lên những cảm xúc của con người, mỗi chúng ta đều có thể thấy trong đoạn thơ đầu tác giả hầu như đã tập trung đến tâm trạng và cảm xúc của chính những người thiếu nữ đó:

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết?
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương!

Trước hiên vắng lòng người đang khắc khoải từng bước đi, nó cô đơn và trong khung cảnh đó con người, đang rất cô đơn, và những nỗi nhớ mong đó đang dần làm cho tâm trạng của người con gái đó dạt dào và đậm tình cảm, bước trong hiên thềm chỉ còn hình bóng của người thiếu phụ, những cảm xúc đó đã đủ để diễn tả những dòng cảm xúc của con người.

Trước rèm thưa đang rủ những đòi phen, đó là ngập tràn những cảm xúc, và cả những xúc cảm sâu sắc về chính con người, một lần nữa tác giả lại đang nhấn mạnh đi nguồn cảm hứng xuất hiện trong bài thơ, đó là những khung cảnh của thiên nhiên xa xôi và nó mặn nồng trong biết bao cảm xúc của con người.

Trước những khung cảnh đó, cô đơn lẻ loi, trong khung cảnh đó người con gái luôn phải chịu những cảm giác đau đớn và lẻ loi nhất, đó là những tình cảm thể hiện mạnh mẽ và da diết về tình yêu thương của con người, luôn luôn phải chịu cảnh khổ đau lẻ loi trong những chiếu bóng không cảm xúc, đó là những cảm xúc ngập tràn, và lan tỏa rộng đến tâm hồn của người đọc.

Tình người đang bị chi phối bởi những chiếu rủ cô đơn, lẻ loi khuất bóng con người, những những cảm giác đó, con người dường như chỉ biết làm bạn với hình bóng của mình, trong hình ảnh của người chinh phụ, những chiếc bóng và chiếc đèn vẫn đang tâm tình và khắc khoải những nỗi chờ mong cô đơn của những người con gái. Biết bao nhiêu cảm xúc đang đan xen và trào dâng trong tâm hồn của con người, những tình cảm đó mạnh mẽ và mãnh liệt nhất trong tâm hồn, và nỗi nhớ mong của người chinh phụ.

Hình bóng của những người chinh phụ hiện lên trong một khoảng không gian mênh mông, và nó ngập tràn những cảm xúc và những nỗi nhớ thương đối với người chồng của mình, tình cảm đó là sự xúc động sâu sắc và mạnh mẽ nhất, nó là nguồn xúc cảm để nói lên tâm hồn đang mênh mông dạt dào cảm xúc của con người.

Những cảm xúc đang dần biểu lộ lên những xúc cảm mạnh mẽ và day dứt nhất trong tâm hồn của mỗi con người, những điều đó đã tạo nên được nhiều cảm xúc trong tâm hồn của tác giả, luôn luôn phải biết làm nên những điều có ý nghĩa khi tác giả đã vẽ ra những tâm trạng và khắc khoải những dòng tâm trạng đó, nhiều cảm xúc và hình thức đó được tạo nên nhiều cảm xúc của riêng chính con người của tác giả về cuộc đời và điều đó làm nên những giá trị trong việc khắc sâu thêm dòng tâm trạng điển hình và mênh mông trong tâm hồn của con người.

Những tiếng gà eo óc đang gay trong những năm sương và đang trống vắng trong khoảng trống tâm hồn của chính tác giả về những năm tháng xa cách tình cảm lẻ loi, và không có sự gắn bó, nó tạo dựng nên những cảm xúc xa vắng và đang làm gia tăng lên những nhịp cảm to lớn và đang ản chứa bao dòng tâm trạng lớn lao và mênh mang về con người.

Tâm trạng đó đã khắc khoải, cảm giác cô đơn, lẻ loi, và bóng dáng của họ chỉ đơn chiếc như những tấm tà chiều, đơn côi trong ngày dài lê thê, những cung cách trong đó đã mang đậm những giá trị lớn lao và tạo dựng nên nhiều cảm xúc to lớn khi chúng ta nhìn thấy hình ảnh xa xôi và đơn bóng một mình:

Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Những tiếng gà gáy năm trống nhưng người chinh phụ vẫn đơn bóng trong phòng của mình, với những hình bóng bốn bên phơ rũ không còn sức sống, những thời gian dài khắc khảo như niên, năm tháng đã trôi qua nhưng tình cảm đó đã mang nặng những tình cảm và nỗi nhớ thương với người chồng, người yêu của mình.

Thời gian xa vắng nhưng nỗi buồn đó thì mênh mang và dằng dặc tựa như miền biển xa, nó xa xôi và cách trở lòng người, làm cho tâm hồn của những người chinh phụ héo mòn đi những sức sống và tình yêu của chính mình, khi cứ phải chờ đợi và khắc khoải những nỗi nhớ mong.

Những tiếng gà đang gáy và mong mỏi đến trời sáng để cho những nỗi nhớ mong đó bị giảm nhẹ đi, nhưng tình cảm của con người dường như vẫn không thể thoát khỏi trong cái không gian đó, tình cảm mặn nồng và nó đã có tác động lớn lao đối với con người trong cả bầu không gian rộng của thiên nhiên của những cảnh vật.

Trong những cảnh giới đó, con người dường như đang phải trải qua những thời kì cô đơn và hiu quạnh nhất của lòng người, những gượng giụ trong những cung đàn và cầm gảy những nỗi lòng, nhưng rồi những phím đàn đó cũng đã thể hiện được rất chi tiết những tình cảm và sự mặn nồng trong tình yêu mặc dù, vẫn luôn phải chờ mong và thương nhớ:

Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.

Tâm hồn của những người chinh phụ đang mê sắc trong những nỗi nhớ,và đang soi mình trong chiếc gương, để rồi những giọt lệ rơi ra, cầm đàn mà gảy nhưng tâm trạng đang trĩu nặng, những dòng cảm xúc đó đang dần khắc sâu và ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với mỗi con người khi đọc những dòng thương nhớ của chính tác giả, về cảm xúc và tâm trạng của những người thiếu phụ.

Trong bao nhiêu cung bậc tình cảm đó, nỗi lòng thầm kín chỉ muốn dành tặng cho những người luôn mong mỏi và đến ngày được gặp lại những vị tiên non, gửi theo gió biết bao nhiêu lời thương:

Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

Những hình bóng và dáng vẻ thăm thẳm của không gian rộng lớn, nhưng chính tác giả cũng đang khắc khoải những nỗi nhớ mong tới người thương của mình, điều đó đem lại một cảm nhận mới mẻ, và nó khắc sâu trong tâm hồn một nỗi nhớ, một nỗi nhớ da diết khôn nguôi không thể nào thay đổi được.

Cho dù không gian xa xôi cách trở nhưng lòng tin và sự yêu thương đó vẫn luôn dành tặng cho trái tim của mỗi người chinh phụ. Những hình ảnh đơn bóng và mang trong mình bao nhiêu cảm xúc, dùng tình yêu thương của mình đối với chính những người thân thương là những điều tuyệt vời nhất, cuối bài thơ là dòng tâm trạng của tác giả, khi dùng vật để nói lên tâm trạng của những người chinh phụ, cảm xúc thật khó diễn tả:

Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!

Những hình bóng cô đơn, và mang những dòng cảm xúc chan chứa những nỗi chứa tran và mang trong lòng người những cảm xúc của con người, những cảnh vật như chiếc bóng cô đơn, và in dấu trong những nỗi đau xé lòng về tâm trạng của những người chinh phụ cô đơn, lẻ loi. Hình ảnh người thiếu phụ đang đơn chiếc trong hình bóng cô đơn và lẻ loi đơn bóng của mỗi ngày, đó là điều buồn bã và tủi hờn nhất.

Tiếp theo đón đọc 🌹 Phân Tích 8 Câu Giữa Bài Tình Cảnh Lẻ Loi 🌹 10 Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Tâm Trạng Nhân Vật Người Chinh Phụ Chi Tiết – Mẫu 6

Đón đọc bài phân tích tâm trạng nhân vật người chinh phụ chi tiết dưới đây để củng cố lại những nội dung kiến thức xoay quanh tác phẩm.

Được trích trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của tác giả Đặng Trần Côn, đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã thể hiện một cách chân thật và sâu sắc nỗi cô đơn, lẻ loi của người phụ nữ ngóng trông, nhớ thương người chồng đi chinh chiến nơi xa. Không chỉ mang ý nghĩa lớn về giá trị văn chương, tác phẩm còn mang ý nghĩa nhân đạo lớn lao.

Sau khi tiễn chồng đi nơi biên ải xa xôi, người vợ trẻ mới trở về với cuộc sống hàng ngày – cuộc sống của sự lẻ bóng và cô đơn được khắc họa rõ nét qua 8 câu thơ đầu tiên:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”

Chỉ qua 2 câu thơ, tác giả đã vẽ ra trước mắt người đọc hình ảnh một người chinh phụ với hành động đi đi lại lại ngoài hiên, rồi cuốn rèm lên lại hạ rèm xuống. Dường như các hành động được thực hiện trong vô thức, chứ người chinh phụ vốn chẳng màng để tâm đến. Những hành động lặp đi lặp lại ấy phải chăng cũng để giết thời gian, chất chứa đầy nỗi lòng của người phụ nữ. Nỗi cô đơn cứ bủa vây xung quanh khi nàng phải sống một mình trong ngôi nhà đó.

“Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng”

Câu thơ này có sự xuất hiện của hình ảnh chim ô thước – loài chim may mắn luôn báo tin vui. Thế nhưng “chẳng mách tin” – chim ô thước không báo tin vui về làm người vợ trẻ lo lắng ngày đêm cho người chồng nơi sa trường, trận mạc. Nỗi day dứt trong lòng người chinh phụ càng được tô đậm với câu hỏi tu từ “Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng”.

“Buồn rầu nói chẳng nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Ngọn đèn là hình ảnh chỉ thời gian đêm khuya – người chinh phụ vẫn thức đợi và ngóng trông. Sự cô đơn lên đến đỉnh điểm khi không ai sẻ chia. Hoa đèn – bóng người cho thấy người chinh phụ trằn trọc nhớ chồng đến mức không còn chút sức sống nào. Tâm trạng cũng vì thế mà buồn sầu, nhớ nhung nhưng tất cả chỉ trong vô vọng.

“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”

Tác giả tả cảnh nhưng thực chất để ngụ tình. Cảnh vật xuất hiện nhưng cũng chỉ để khắc họa rõ nét hơn, lột tả sâu sắc hơn tình cảnh của người chinh phụ mà thôi. Đúng như Nguyễn Du đã từng nói: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Tâm trạng não nề của người chinh phụ đã nhuốm màu lên cảnh vật khiến cảnh vật và sự sống đều trở nên trống trải, hoang vắng và buồn bã tột cùng.

Tiếng gà gáy vang vọng – dường như cả đêm khuya thanh vắng người chinh phụ chẳng thể ngủ được vì nỗi nhớ chồng. Tiếng gà ấy khắc khoải như khoan sâu thêm vào tâm trạng người phụ nữ đang đau đáu nhớ chồng. Cây hòe dường như cũng chẳng còn sức sống, chỉ phất phơ bên thềm. Nỗi nhớ, nỗi buồn ấy cứ đầy lên theo thời gian, cứ chồng chất lên theo thời gian và kéo dài ra đằng đẵng.

“Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”

Một giờ xa cách như một năm, cứ trải qua từng khắc từng giờ, nỗi nhớ trong lòng người chinh phụ lại càng được nối dài dằng dặc như biển xa. Liệu có ai có thể thấu hiểu nỗi lòng ấy cho người chinh phụ hay không? Nỗi buồn ấy chẳng có điểm dừng, chẳng có hồi kết khiến tâm trạng của người chinh phụ bị đẩy lên tột cùng:

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại ngùng”

Sự rối bời và cô đơn, buồn tủi của người chinh phụ khiến nàng làm bất cứ thứ gì cũng chỉ là sự gượng gạo và miễn cưỡng mà thôi. Nàng miễn cưỡng đốt hương mong thấy sự tỉnh táo thì tâm hồn lại mê man trong nỗi nhớ. Nàng miễn cưỡng soi gương để chải chuốt dung nhan lại nhìn thấy mình u sầu với lệ chan nhạt nhòa phản chiếu.

Nàng định đánh đàn để giải khuây, để vơi bớt đi nỗi buồn, nỗi nhớ đang giăng kín trong lòng mình lại càng thêm sầu khổ bởi “dây uyên”, “phím loan” là đại diện của lứa đôi hạnh phúc khác hoàn toàn với thực tại nàng đang trải qua. Tất cả như đang cuộn xoáy trong lòng nàng, chất chứa thêm chẳng thể vơi bớt, chẳng thể giải tỏa cùng ai. Nàng hướng đến nơi biên ải xa xôi có người chồng nàng ngày đêm mong nhớ:

“Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”

Không gian trở lên rộng lớn hơn, xa xôi hơn nhưng cũng chỉ toàn chất chứa nỗi buồn và cách biệt nghìn trùng chẳng thể nào đi tới. Trời thăm thẳm như chính nỗi nhớ trải dài trong triền miên không dứt, nỗi nhớ ấy còn có cả sự “đau đáu” ngóng trông trong vô vọng, mòn mỏi. Người chinh phụ cũng chỉ đành biết gửi tới người chồng nỗi nhớ qua gió miền, nhưng núi cao liệu gió có tới nơi?

“Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”

Nỗi lòng của người chinh phụ đã trở nên quá bí bách cần được sẻ chia, nhưng ngoài cảnh vật xung quanh, người chinh phụ còn biết chia sẻ nơi ai. Dường như hiểu được nỗi lòng ấy, cảnh vật xung quanh cũng có sự đồng cảm. “Sương đượm” và “mưa phun” là sự lạnh giá như lòng nàng bây giờ cũng đã giá băng và tan nát theo từng nỗi nhớ.

Bằng thể thơ song thất lục bát với giọng thơ buồn bi thương kết hợp các biện pháp nghệ thuật tư từ tác giả Đặng Trần Côn đã lột tả trọn vẹn tỉnh cảnh lẻ loi, tâm trạng buồn khổ, nỗi nhớ mong day dứt của người chinh phụ ấy. Không chỉ dừng lại ở giá trị văn chương, thông qua tác phẩm này tác giả bày tỏ sự xót thương và đồng cảm sâu sắc với thân phận phụ nữ có chồng đi chinh chiến xa nhà đồng thời còn gián tiếp lên án chiến tranh phong kiến đã gây ra cảnh chia ly và thậm chí cảnh nước mất, nhà tan…

Trích đoạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” chỉ là diễn biến tâm trạng của người phụ nữ đợi chồng, chờ chồng chinh chiến nơi xa nhưng bằng tài năng và tấm lòng của mình, Đặng Trần Côn đã tái hiện thật đặc sắc, sâu đậm nỗi lòng ấy.

SCR.VN tặng bạn 💧 Phân Tích 12 Câu Đầu Tình Cảnh Lẻ Loi 💧 8 Bài Văn Hay

Phân Tích Tâm Trạng Người Chinh Phụ Trong Tình Cảnh Lẻ Loi Ngắn Hay – Mẫu 7

Tham khảo và linh hoạt vận dụng những gợi ý phân tích tâm trạng người chinh phụ trong Tình cảnh lẻ loi ngắn hay trong bài văn mẫu sau đây:

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ được trích từ tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Tác phẩm đã cho thấy nỗi cô đơn khắc khoải của người chinh phụ có chồng ra chiến trận. Nỗi cô đơn ấy càng đậm nét hơn khi nàng vừa tiễn chồng đi còn mình trở về nơi buông the cô đơn lạnh lẽo. Tất cả những cung bậc cảm xúc đó đã được khắc họa trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

Văn bản được trích từ câu 193 đến câu 216 của bản diễn Nôm. Sau buổi đưa tiễn chồng, người chinh phụ trở về, tưởng tượng nơi chiến trường đầy chết chóc mà lòng xót xa, lo lắng cho chồng và thương cảm cho hoàn cảnh cô đơn, lẻ loi của mình. Tâm sự của nàng diễn biến qua rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau đã được tác giả tinh tế nắm bắt trọn vẹn.

Tám dòng thơ đầu cho thấy tâm trạng bồn chồn của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi, đơn chiếc :

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen

Không gian hết sức cô quạnh, vắng vẻ chỉ có bước chân người chinh phụ thầm gieo trên hiên vắng. Tâm trạng nàng hết sức bồn chồn, lo lắng, nàng đứng ngồi không yên, hết rủ rèm rồi lại cuốn rèm, đi đi lại lại ngong ngóng tin chồng trở về, nhưng người chồng vẫn ra đi bặt vô âm tín. Hành động treo rèm lại rồi lại kéo rèm xuống là hành động diễn ra trong vô thức, nàng làm mà không hề hay biết, điều đó càng khắc họa rõ nét hơn nỗi thất vọng tràn trề của nàng.

Dù ở ngoài hiên hay trong rèm nàng vẫn cô đơn, lẻ loi hết sức. Nàng mong ngóng tiếng con chim thước báo tin nhưng chim thước cũng im ắng. Đêm khuya chỉ có một mình, nàng càng khao khát sự sẻ chia hơn bao giờ hết, nhưng ngọn đèn vô tri, vô cảm không thể an ủi, chia sẻ với nàng: Đèn có biết dường bằng chẳng biết/ Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Hình ảnh Hoa đèn kia với bóng người khá thương càng đậm tô hơn nữa sự cô đơn, tội nghiệp của người chinh phụ.

Từ nỗi khát khao đồng cảm chuyển sang sự chờ đợi dài đằng đẵng: Gà eo óc gáy sương năm trống/ Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên/ Khắc giờ đằng đẵng như niên/ Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa. Tiếng gà eo óc thê lương, càng vang vọng hơn trong không gian đêm khuya tĩnh mịch vắng vẻ. Tiếng gà ấy vừa là sự chảy trôi chậm chạp của thời gian vừa là sự giày vò trong lòng người chinh phụ, nghe tiếng gà, lòng lại càng thổn thức chờ mong hơn gấp bội.

Nhìn ra ngoài đêm tối mịt mùng, bóng hòe phất phơ cứ đều đặn lay động qua trước mắt, càng khiến cho thời gian chậm chạp, nặng nề trôi hơn. Thời gian tâm lý được nhân lên gấp bội Khắc giờ đằng đẵng như niên và mối sầu trong lòng người lẻ loi, cô đơn trải ra một không gian vô tận tựa miền biển xa.

Trong bốn câu thơ tác giả đã sử dụng thành công bốn từ láy vừa gợi âm thanh vừa gợi nên sự giày vò trong tâm trạng (éo óc) vừa diễn tả sự hoang vắng (phất phơ), từ lại gợi nên không gian thời gian vô tận (đằng đẵng, dằng dặc), qua đó đã diễn tả được nỗi cô đơn, sầu muộn trong vô vọng của người chinh phụ.

Khổ thơ thứ tư diễn tả những gắng gượng của người chinh phụ để trốn khỏi sự bủa vây của nỗi cô đơn, nhưng càng cố trốn tránh nỗi cô đơn lại càng ôm chặt lấy nàng. Nàng lấy gương soi trang điểm để quên nhưng nhìn thấy mặt mình nàng lại không cầm nổi nước mắt lệ lại châu chan. Nàng đốt hương mong lấy lại sự thư thái trong tâm hồn nhưng hồn đà mê mải, nỗi cô đơn sầu muộn lại càng đậm sâu hơn. Và đau đớn nhất là khoảnh khắc:

Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng

Đàn cầm và đàn sắt khi hòa âm với nhau thường được ví với sự sum vầy, hòa hợp yên ấm của hai vợ chồng. Dây uyên biểu tượng cho lựa đôi gắn bó, tất các sự vật đều có đôi có lứa, chỉ riêng mình nàng là cô đơn lẻ bóng. Những biểu tượng ấy càng khơi sâu nỗi cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ.

Ba từ gượng diễn tả sự trớ trêu, xót xa trước cảnh ngộ của chính mình. Dây đàn đứt và chúng đều là dấu hiệu của điềm xấu trong tình yêu, bởi vậy, nỗi kinh sợ của người chinh phụ khi gượng gảy đàn trở thành một nỗi ám ảnh về sự cô đơn lẻ loi trọn kiếp của người cô phụ.

Khổ thơ cuối cùng diễn tả nỗi khao khát gửi gắm tình cảm thương nhớ sâu nặng của người chinh phụ đến nơi chiến trường xa xôi. Nàng gửi tình cảm qua ngọn gió đông (gió xuân) nhưng gió đông yếu ớt không đủ sức mang nỗi nhớ thương nghìn vàng của nàng đến nơi Non Yên xa thẳm. Người chinh phụ lại phải đối mặt với thực tế và thấm thía bi kịch cá nhân:

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

Nỗi niềm chìm vào cô đơn, chìm vào không gian lạnh lẽo, quạnh vắng, cảnh vật ảm đạm thê lương như đang bủa vây lấy người chinh phụ. Nàng đang đớn, tuyệt vọng đến cùng cực.

Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, ngôn từ tinh tế, hình ảnh giàu sức biểu tượng, đoạn trích đã diễn tả thật tinh tế và chính xác những cung bậc cảm xúc của người chinh phụ, đó là nỗi cô đơn, lẻ loi vô cùng. Đoạn trích có ý nghĩa đề cao hạnh phúc cá nhân đồng lời là lời tố cáo, lên án chiến tranh phi nghĩa đã hủy hoại hạnh phúc của con người.

Mời bạn tham khảo 🌹 Phân Tích 16 Câu Đầu Bài Tình Cảnh Lẻ Loi 🌹 13 Bài Văn Hay

Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ Đơn Giản – Mẫu 8

Tham khảo bài văn phân tích tâm trạng của người chinh phụ đơn giản dưới đây với những ý văn ngắn gọn và luận điểm cơ bản nhất.

Đặng Trần Côn là người làng Mọc, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Hiện chưa rõ năm sinh, năm mất của ông, chỉ biết ông là một danh sĩ nổi tiếng hiếu học, tài ba sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Cảm xúc trước hiện thực những cuộc chiến tranh do giai cấp phong kiến đương thời tiến hành chém giết lẫn nhau để tranh giành địa vị hoặc đàn áp những cuộc khởi nghĩa của nông dân, Đặng Trần Côn đã sáng tác “Chinh Phụ Ngâm” để nói lên những khổ đau, mất mát của con người, nhất là tình cảnh người vợ lính trong chiến tranh.

Nhiều người đã diễn Nôm Chinh phụ ngâm, song chỉ bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm vượt qua giới hạn của bản dịch để trở thành sự đồng sáng tạo tuyệt vời. Dịch giả đã dùng thể thơ song thất lục bát, một thể thơ do người Việt sáng tạo để miêu tả những diễn biến tâm trạng người chinh phụ có chồng đi chinh chiến.

Trong đó đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã nói lên tình cảnh và tâm trạng người chinh phụ cô đơn, buồn khổ trong thời gian chồng ngoài chiến trận, không có tin tức, không rõ ngày trở về, đồng thời thể hiện ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.

Tám câu thơ đầu diễn tả nỗi bồn chồn của người chinh phụ trong cảnh lẻ loi. Không gian hết sức vắng lặng, hiu hắt, chỉ có bước chân của người lẻ bóng thầm gieo trên hiên vắng. người chinh phụ đứng ngồi không yên, hết rủ rèm rồi lại cuốn rèm, đi đi lại lại như chờ mong tin lành báo chồng trở về, nhưng tin tức về người chồng vẫn bặt vô âm tín. Nỗi thất vọng tràn trề.

Ở ngoài hiên hay ở trong phòng, nàng vẫn lẻ loi, cô đơn hết sức. Mong con chim thước cất lên tiếng kêu, nhưng đến cả tiếng chim của sự mong mỏi cũng im vắng. Đêm khuya, một mình một bóng dưới ánh đèn, người chinh phụ khao khát sự đồng cảm, sẻ chia, nàng hi vọng ngọn đèn thấu hiểu và soi tỏ lòng mình. Nhưng đèn vô tri, vô cảm, đèn không thể an ủi, sẻ chia cùng người nỗi buồn đau cô lẻ.

“Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”

Bốn câu thơ tiếp theo từ nỗi khát khao đồng cảm chuyển sang thời gian chờ đợi dài vô cùng như không gian mênh mông vô tận. Tiếng “gà eo óc gáy sương năm trống” vừa diễn tả sự trôi chảy của thời gian, vừa diễn tả sự giày vò của lòng người. Biết bao đêm một mình một bóng, một ngọn đèn thao thức năm trống canh, nghe tiếng “gà eo óc gáy sương”, lòng thổn thức mong chờ. Tuổi trẻ dần phôi pha theo thời gian. Bóng cây hoè lặng lẽ im lìm trong đêm gợi thêm cảm giác hoang vắng.

Thời gian tâm lý được nhân lên gấp bội: “Khắc giờ đằng đẵng như niên”, và mối sầu trong lòng người lẻ loi, cô đơn trải ra trong một không gian vô tận: “Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”. Bốn dòng thơ có bốn từ láy được chia đều, một từ gợi âm thanh, gợi lên sự giày vò trong tâm trạng (eo óc); một từ gợi cảm giác hoang vắng (phất phơ); một từ gợi thời gian tâm lý (đằng đẵng); một từ gợi không gian vô tận, nỗi sầu vô tận (dằng dặc), đồng thời gợi âm điệu sầu não bình yên.

Bốn câu thơ tiếp theo diễn tả những gắng gượng của người chinh phụ để mong thoát khỏi vòng vây của cảm giác lẻ loi, cô đơn, nhưng không thoát nổi. người chinh phụ gượng soi gương để trang điểm, nhưng nhìn thấy gương mặt mình, người chinh phụ lại không cầm nổi nước mắt. Đau đớn nhất là khi:

“Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”

Đàn cầm, đàn sắt thường hoà âm với nhau ví như cảnh vợ chồng đoàn tụ, hòa thuận, ấm êm. Dây đàn uyên ương gợi lên biểu tượng lứa đôi gắn bó, hòa hợp như đôi chim uyên ương. Những biểu tượng ấy càng khơi sâu nỗi sầu cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ. Ba từ “gượng” diễn tả cảm giác vô duyên, trớ trêu, xót xa trước cảnh ngộ. Dây đàn “đứt” và “chùng” đều là dấu hiệu về điềm gở. Nỗi kinh hãi, ngại ngùng của người chinh phụ khi “gượng gảy ngón đàn” trở thành một mặc cảm về sự lẻ loi, cô đơn trọn kiếp của cô phụ.

Tám câu thơ cuối thể hiện nỗi khao khát gửi tình thương nhớ sâu nặng của người chinh phụ đến chồng, nhưng trong nỗi khao khát ấy đã chứa sẵn mầm tuyệt vọng. Làn gió đông yếu ớt kia không đủ sức mang nỗi lòng thương nhớ “nghìn vàng” của nàng đến tận non Yên xa thẳm. Nỗi nhớ thương càng trở nên thăm thẳm, không thể cân đo đong đếm được. Nỗi niềm ấy chìm vào lạnh lẽo với hình ảnh sương gió, mưa, tiếng côn trùng. Tất cả đều sự gợi cô đơn, buồn nhớ.

Chinh phụ ngâm thể hiện nỗi đau khổ của người chinh phụ phải sống trong cảnh lẻ loi, cô đơn. Đoạn trích có ý nghĩa đề cao hạnh phúc lứa đôi của tuổi trẻ và phản kháng chiến tranh phi nghĩa. Tiếng nói nhân đạo của Chinh phụ ngâm hoà vào với tiếng nói nhân đạo của văn học thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX có ý nghĩa khẳng định truyền thống quý báu của văn học dân tộc.

Đọc nhiều hơn dành cho bạn ☀️ Cảm Nhận Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 16 Câu Đầu ☀️ Tuyển Tập Đặc Sắc

Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ Qua 8 Câu Thơ Đầu – Mẫu 9

Gợi ý phân tích tâm trạng của người chinh phụ qua 8 câu thơ đầu sẽ giúp các em học sinh đi sâu phân tích đoạn thơ và trau dồi kỹ năng nghị luận văn học.

Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn là một áng thơ hay thuộc thể ngâm khúc, hơn hết đoạn trích còn để lại cho hậu thế một giá trị hiện thực vô cùng sâu sắc. Đặc biệt chính là tâm trạng hiu quạnh cô đơn của người chinh phụ trong 8 câu thơ đầu tiên.

Hai câu thơ đầu, Đặng Trần Côn tâm trạng của người chinh phụ đã được khắc họa qua các hình động:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

Tiếng than đầy oán trách của người phụ nữ vắng bóng chồng, khi chồng phải ra chiến trận, chính cái hành động lặp đi lặp lại “gieo từng bước”, “rèm thưa rủ” việc miêu tả các hành động ngoại hình mà dụng ý chính của tác giả chính là miêu tả tâm trạng cô đơn trống vắng, nỗi nhớ da diết chồng của người chinh phụ.

Khung cảnh là buổi chiều tối, với một hiên vắng hành động lặp đi lặp lại “gieo từng bước” đầy mệt mỏi như muốn nói lên cái chờ đợi cái trống vắng lặp đi lặp lại của người phụ nữ xa chồng. Hành động gieo từng bước như nỗi lòng nặng trĩu mong ngóng ngày người chồng trở về.

“Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen” chiếc rèm cuốn lên hạ xuống như vô thức thể hiện một trạng thái tâm lí buồn bã, chán chường. Cảm giác bất an lo lắng cho người chồng ngoài chiến trận vừa là nỗi nhớ tha thiết, cảm xúc dồn nén càng làm cho người chinh phụ trở nên buồn bã, ngóng trông nhiều hơn, nhưng:

“Ngoài rèm thước chẳng mách tin”

Chờ đợi nhưng chẳng thấy tin? Chim “thước” là biểu tượng của điềm lành sẽ có người đi xa trở về. Thế nhưng chả thấy hình bóng của chim thước để baso tin nỗi nhớ đầy rẫy khắc khoải, ngóng chờ một tín hiệu dù chỉ là nhỏ nhoi nhưng không có càng làm người nỗi buồn người chinh phụ càng tăng lên bội phần. Nhưng trong khung cảnh đau buồn này thì chỉ có ngọn đèn leo lét làm bạn với nàng.

“Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”

Sự cô đơn đến cùng cực đã làm cho người chinh phụ phải thốt lên “Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” Ngọn đèn có thể soi sáng nỗi lòng của nàng người phụ nữ không, có rọi sáng được sự nhớ nhung của nàng dành cho chồng, hai câu thơ tiếp theo lại càng diễn tả thêm sự ưu phiền của người chinh phụ:

“Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”

Tác giả sử dụng điệp ngữ “Đèn biết chăng – đèn có biết” càng làm cho nỗi cô đơn của người phụ nữ kéo dài ra, triền miên ra. Hình ảnh ngọn đèn được sử dụng hai lần như thể là nỗi trút bầu tâm sự của nhân vật trữ tình , ngọn đèn là vật vô tri nó chăng thể hiểu được nỗi lòng của người phụ nữ, nó chỉ có tasc dụng là giải toả tâm trạng cho người chinh phụ mà thôi. Nhìn ngọn đèn heo hắt trong đêm tối càng làm lòng người thêm ưu phiền mà thô. Ngọn đèn sáng ấm áp thể hiện cái đối nghịch của sự cô đơn, rầu rĩ:

“Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Câu thơ thứ tám kết lại là hình ảnh hoa đèn, như thế nỗi nhớ nhung cứ đọng lại, dồn nén lại, đỏ rực như bấc đèn nung nóng, ánh sáng lên như hoa. Trong bóng đêm đen như mực người chinh phụ chỉ biết trút bầu tâm sự với ngọn đèn, với cái bóng của chính mình in lên tường cho vơi đi nỗi cô đơn nỗi nhớ chồng da diết mà thôi.

Tám câu thơ đầu trong đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã cho người đọc thấy được tâm trạng của người phụ nữ, cùng khung cảnh hiu quạnh, cô đơn của người phụ nữ phải xa chồng, tất cả do chiến tranh đã khiến những cặp vợ chồng son phải xa nhau trong nhớ thương, các biện pháp tu từ đã khắc họa nên bao nỗi ưu sầu, nỗi cô đơn trống trải của những người ở lại chờ tin người đi xa.

Tiếp tục tham khảo 💕 Phân Tích 8 Câu Cuối Bài Tình Cảnh Lẻ Loi 💕 10 Mẫu Siêu Hay

Bài Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ Trong 8 Câu Đầu Hay – Mẫu 10

Dưới đây chia sẻ bài phân tích tâm trạng của người chinh phụ trong 8 câu đầu hay để các em học sinh cùng tham khảo.

Đặng Trần Côn là tác giả sống vào nửa đầu thế kỉ XVIII, tài nghệ văn chương của ông lừng thiên hạ vời nhiều tác phẩm nổi tiếng, một trong số ấy có “Chinh phụ ngâm”. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” thuộc thể loại ngâm khúc, có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.

Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” được trích trong tác phẩm đã thể hiện nỗi nhớ mong người chồng chinh chiến cùng với khát khao hạnh phúc của ngưởi chinh phụ. Đặc biệt qua tám câu thơ đầu của đoạn trích, người đọc dễ dàng cảm nhận được tình cảnh trống vắng và tâm trạng của nhân vật trữ tình.

Mở đầu đoạn trích, tác giả đã miêu tả tâm trạng của người chinh phụ, thông qua những hành động:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

Đây là lời than thở triền miên, da diết của người phụ nữ có chồng ra trận. Tác giả đã dùng bút pháp miêu tả nội tâm qua ngoại hình, hành động lặp đi lặp lại không mục đích của người chinh phụ và dáng vẻ buồn rầu, ủ ê không nói lên lời, trong hiên vắng thẫn thờ đợi chồng về. Thời gian đã là chiều tối, không gian là một khoảng hiên vắng lặng cùng với cử chỉ “gieo từng bước” như khắc họa rõ nét cảm giác cô đơn, quạnh vắng của người chinh phụ.

Với một khung cảnh như vậy, gợi cho ta sự sum họp, đầm ấm của gia đình, nhưng giờ đây chỉ có mình người phụ nữ lẻ loi, cô độc trong khoảng không trống vắng, không có người chồng bên cạnh. Cảm giác trống trải bủa vây người chinh phụ làm cho nàng gieo từng bước chân một cách mệt mỏi và chậm rãi. Mỗi bước chân như chất chứa nỗi lòng, nỗi ưu tư phiền muộn của người phụ nữ xa chồng, đang mong ngóng từng ngày chồng trở về. Người phụ nữ như quặn thắt trong lòng khi chỉ nghe được tiếng bước chân âm thầm của mình.

“Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”

Hành động buông rèm rồi cuốn lên nhiều lần đó là hành động lặp đi, lặp lại không có mục đích rõ ràng, thể hiện một tâm trạng tù túng, nóng ruột. Cảm giác vừa nhớ nhung da diết, vừa lo lắng sốt ruột cho sự an nguy của chồng mình đang đi chinh chiến phương xa. Nỗi nhớ cùng với tâm trạng mong ngóng đợi tin của chồng dồn nén ở người chinh phụ, tạo ra một cảm giác cô đơn buồn khổ ở nhân vật trữ tình. Chẳng những thế, càng mong ngóng chờ đợi thì kết quả lại chẳng được gì.

“Ngoài rèm thước chẳng mách tin”

“Thước” là loài chim báo tin lành, báo tin người đi xa đã trở về. Thế mà ngay lúc này, con chim Thước lại im bặt, làm cho nỗi nhớ, nỗi khắc khoải mong chờ trong lòng người chinh phụ lại tăng lên gấp bội. Chim thước chẳng mách tin, người chồng yêu thương vẫn chưa trở về, nỗi đau đớn âm thầm nhưng quá lớn ấy khiến nàng khao khát có sự đồng cảm. Nhưng trong khung cảnh đau buồn này thì chỉ có ngọn đèn leo lét làm bạn với nàng.

“Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”

Tâm trạng quá cô đơn đã làm cho nàng phải thốt lên câu hỏi: Liệu ngọn đèn dầu mờ ảo ấy có thấu chăng nỗi lòng của nàng, có chiếu sáng được đến tâm can đang mong nhớ chồng của nàng, Liệu ngọn đèn có thấu hiểu được sức nặng của nỗi cô đơn, của sự nhung nhớ lại dồn cả lên nàng.

Câu hỏi tu từ như là tâm trạng của người chinh phụ, câu hỏi nhưng không có câu trả lời, nhân vật trữ tình hỏi ngọn đèn – một vật vô tri vô giác – nhưng dường như đang muốn được bày tỏ nỗi lòng của mình. Đó chính là lời than thở, hi vọng trong nàng, nỗi khắc khoải đợi chờ đã trở nên day dứt không yên.

“Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”

Điệp ngữ bắc cầu “Đèn biết chăng – đèn có biết” diễn tả nỗi tù túng, nỗi buồn dài lê thê của người chinh phụ. Hình ảnh “đèn” đã được lặp lại hai lần, nhân vật trữ tình đã giải tỏa tâm sự với ngọn đèn, nhưng một vật vô tri vô giác như vậy thì làm sao hiểu rõ được cảm giác của người chinh phụ.

Nhân vật trữ tình lại ôm nỗi cô đơn, buồn bã một mình. Nhìn ngọn đèn leo lét trong màn đêm tĩnh mịch như vậy, lòng người chinh phụ càng thêm quặn thắt. Ngọn đèn là hình ảnh gợi cảm giác sum họp, ấm áp, càng khắc sâu nỗi cô đơn, buồn bã, khắc khoải trong lòng người.

“Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Kết thúc tám câu thơ là hình ảnh “hoa đèn”. “Hoa đèn” là đầu bấc đèn dầu đã cháy như than nhưng được nung đỏ lên trông như hoa. Hình ảnh “ngọn đèn, hoa đèn”, gợi cho ta liên tưởng đến hình ảnh “đèn không tắt” trong bài ca dao:

“Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt?”

Trong im lặng dằng dặc, dưới ánh đèn đêm thăm thẳm, chinh phụ trẻ chỉ có biết trò chuyện với cái bóng của chính mình, với ngọn đèn, gợi cho ta cảm nhận được nỗi cô đơn khắc khoải và vô vọng của người chinh phụ.

Qua tám câu thơ đầu, người đọc đã cảm nhận được những tâm trạng của người chinh phụ. Khung cảnh quạnh hiu, trống vắng cùng với những động từ miêu tả hành động để thể hiện tâm trạng, điệp ngữ bắc cầu đã khắc họa sự ưu tư, phiền muộn và cô đơn của nhân vật trữ tình khi nhớ về người chồng chinh chiến của mình.

SCR.VN chia sẻ 🌼 Mở Bài Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 🌼 20 Mẫu Đầy Đủ Nhất

Bài Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ Trong 8 Câu Thơ Đầu Mở Rộng – Mẫu 11

Đón đọc bài phân tích tâm trạng của người chinh phụ trong 8 câu thơ đầu mở rộng dưới đây để có thêm cho mình những ý tưởng hay khi làm bài.

Đặng Trần Côn là một danh sĩ, nhà thơ kiệt xuất của nền văn học Cổ Điển. Trong đó, tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” là một trong những tuyệt tác của ông được viết bằng chữ Hán. Tác phẩm đã được dịch bởi nữ danh sĩ Đoàn Thị Điểm và trở nên nổi tiếng trong giới văn thơ. Trong đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” – một đoạn trích được đánh giá hay nhất thể hiện những tâm sự , nỗi nhớ của người Chinh phụ và hơn hết còn mang giá trị nhân đạo sâu sắc, đặc biệt 8 câu thơ đầu bài.

Mở đầu 4 câu trước:

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”

Qua khổ thơ ta cảm nhận rằng, người phụ nữ đang cô đơn buồn bã vô cùng. Căn phòng tưởng chừng như rất rộng khi chỉ còn người chinh phục sống. Nó trở nên tù túng, tăm tối và cô đơn khắc khoải khiến ta hình dung lên hình ảnh người vợ đang cô đơn nhớ chồng. Căn phòng lẽ ra đang rộn rã tiếng vui đùa, hạnh phúc vậy mà giờ đây chỉ im ắng.

Sự chờ đợi đã khiến cho người vợ tiễn chồng ra chiến trận tưởng chừng như nhiều kiếp trôi qua. Có khá nào như đá vọng phù, chờ mãi chờ mãi mà người không về. Câu thơ: “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước “ cho thấy sự mệt mỏi não nề, bước chân nặng nề đến độ không muốn nhấc lên, chỉ “gieo” từng bước thê lương, dù không muốn vẫn phải bước đi để chờ đợi. Giọng thơ chầm chậm, nhẹ nhàng như đúng tâm trạng u buồn của người vợ.

Không gian “hiên vắng” càng tĩnh lặng lại càng làm cho tình cảm thêm thê lương hơn. “Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”. Ngoài hiên vắng một mình dạo bước cô đơn là thế, về đến phòng lại càng cô đơn hơn. Chiếc rèm cứ kéo lên, rồi lại kéo xuống, ngày qua ngày vẫn không thấy chồng, lòng nàng chỉ một hướng cho chàng nhưng cô đơn quá đỗi vì “cảnh xưa còn đó mà người xưa đâu rồi!?”.

Nhưng, sự chờ đợi vẫn không có hồi âm. Nếu người ta nói “đợi chờ là hạnh phúc” có lẽ đó là trong một hoàn cảnh nào đó đặc biệt, một hoàn cảnh mà người ta biết sự đợi chờ có hồi đáp. Còn với người vợ chờ chồng nơi chiến trận thì cô đơn đến tê dại lòng, càng ngóng lại càng xa. Đến nỗi : “Ngoài rèm thước chẳng mách tin/ Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?” Sự chờ đợi lâu lắm, lâu đến cùng cực mà mãi cũng không nghe thấy tin tức gì, chút hi vọng gì. Ngồi trước ngọn đèn chỉ biết ngóng trông.

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,

Hình ảnh chiếc đèn lại trở nên vô cùng quan trọng trong khổ thơ đầu của bài thơ. Tại sao vậy? Tại vì nó chính là người bạn tri kỉ của người vợ lúc này. Khi người chồng ra trận không biết khi nào mới trở về, sự cô đơn khiến người vợ muốn tìm đến một người để sẻ chia tâm trạng.

Nhưng nàng lại không có ai, sự hà khắc của xã hội phong kiến khiến người phụ nữ chỉ biết đến gia đình chồng, hết lòng cho gia đình chồng và “xuất giá tòng phu”. Nào dám kết bạn với ai xa. Nào dám sẻ chia với ai. Tìm một người bạn tâm tình thật khó. Nhất là khi chồng đi xa, chẳng may có điều tiếng xấu thì ôi thôi… cả đời coi như sống không bằng chết.

Vậy chăng, chỉ có ngọn đèn kia tưởng vô tri vô giác mà lại có thể thấu hiểu tâm tình người chinh phụ, có thể giúp cho người vợ sẻ chia được những cô đơn trong lòng. Nàng tự hỏi rằng, liệu ngọn đèn kia có hiểu được tấm lòng chung thủy của nàng, có hiểu được sự chịu đựng nỗi nhớ nhung của nàng. Nỗi nhớ nhung đến đau lòng : “Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”.

Hình ảnh chiếc đèn hiện lên chứng minh cho sự cô đơn lẻ loi của người chinh phụ, đến nỗi, nàng buồn rầu mà chẳng thể giãi bày:

“Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Buồn quá đến nỗi nàng chẳng buồn nói, chẳng buồn cười, nàng chỉ có mình với mình với hoa đèn đáng thương mà thôi. Hoa đèn chính là tàn của bấc đèn, bấc đèn vẫn còn được nung đỏ sáng rực cũng như lòng nàng đáng cháy đến tàn đỏ như bấc đèn kia.

Nàng cũng đang nhớ nhung chồng nơi chiến trận, nhưng ngọn lửa nhớ nhung giờ đang cháy đỏ rồi cũng sẽ tàn phai theo thời gian. Dường như nàng đã nhìn thấy tương lai của chính mình qua hình ảnh chiếc đèn, sáng rực là thế rồi cũng sẽ tàn thôi. Và sự tàn phai của đời con gái trong cô đơn lẻ như chiếc đèn kia.

Chỉ qua 8 câu thơ đầu đã cho chúng ta thấy được nghệ thuật và giá trị nhân đạo mà tác phẩm mang lại. Với bút pháp nghệ thuật ước lệ kết hợp thể thơ song thất lục bát, giọng thơ nhẹ nhàng, thiết tha khiến người đọc cảm nhận được tâm trạng u uất, sầu não, cô đơn khát khao cháy bỏng được sống hạnh phúc của người chinh phụ.

Đoạn trích cũng thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc khi lên án chiến tranh phi nghĩa, những khuôn phép hà khắc của xã hội phong kiến bấy giờ đã đẩy cuộc đời bao nhiêu người phụ nữ phải sống trong cô đơn, và ở giá suốt đời nếu chồng mất ngoài chiến trận.

Đừng bỏ qua 🔥 Phân Tích Tựa Trích Diễm Thi Tập 🔥 8 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Tâm Trạng Người Chinh Phụ 8 Câu Giữa – Mẫu 12

Bài văn phân tích tâm trạng người chinh phụ 8 câu giữa dưới đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh.

Văn học Việt Nam đã từng chứng kiến biết bao những cuộc chia li, tiễn biệt đầy lưu luyến như thế. Và ở thế kỉ thứ XVIII, “Chinh phụ ngâm” một tác phẩm lấy từ đề tài chia li trong chiến tranh đã của Đặng Trần Côn đã cho chúng ta thấy được một cuộc tiễn biệt thấm đẫm tâm trạng, đằng sau đó là nỗi đau người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Đoạn trích “Gà eo óc gáy sương năm trống, đến Dây uyên kinh dứt, phím loan ngại chùng” đã làm nỗi bật lên nỗi lẻ loi cô đơn cùng những nhớ mong của người chinh phụ.

Bức chân dung người phụ nữ ấy không chỉ gợi lên qua những bước chân, động tác, cử chỉ, qua gương mặt buồn rầu, qua dáng ngồi bất động trước ngọn đèn khuya mà còn nổi bật lên trên nền của không gian và thời gian:

“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”

Hình ảnh “bóng hòe phất phơ” suốt ngày dài cùng biện pháp lấy động tả tĩnh với sự xuất hiện âm thanh “tiếng gà eo óc suốt” đêm thâu như tô đậm nỗi cô đơn, triền miên của nhân vật trữ tình. “Eo óc” đó là âm thanh thưa thớt trong một không gian rộng lớn, hiu quạnh có cảm giác tang tóc, tang thương đã bộc lộ sâu sắc nỗi chán chường của chủ thể trong đêm thâu.

Tâm trạng của nhân vật trữ tình như đang thấm đẫm, lan tỏa cả trong thời gian và xuyên suốt cả thời gian. Tác giả đã biến thời gian thành thời gian tâm lí, không gian thành không gian cảm xúc bằng bút pháp ước lệ và nghệ thuật so sánh trong hai câu thơ:

“Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tự miền biển xa”

Câu thơ theo đúng nguyên tác của Đặng Trần Côn:

“Sầu tựa hải
Khắc như niên”

Chỉ thêm hai từ láy “dằng dặc” và “đằng đẵng” nhưng sự chán chường, mệt mỏi kéo dài vô vọng của người chinh phụ trở nên thật cụ thể, hữu hình và có cả chiều sâu trong đó. Kể từ khi chinh phu ra đi, một ngày trở nên dài lê thê như cả một năm, những mối lo toan, nỗi buồn sầu như đông đặc, tích tụ đè nặng lên tâm hồn người phụ nữ đáng thương ấy. Từng ngày, từng giờ, từng phút người chinh phụ vẫn đang chiến đấu với nỗi cô đơn, chiến đấu để thoát khỏi cuộc sống tẻ nhạt của chính mình:

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”

Điệp từ “gượng” được điệp đi điệp lại ba lần trong bốn câu thơ tiếp theo đã thể hiện sự nỗ lực vượt thoát ấy của người chinh phụ. Nàng gượng đốt hương để kiếm tìm sự thanh thản thì lại rơi sâu hơn vào cơn mê man. Nàng gượng soi gương để chỉnh trang nhan sắc thì lại chỉ thấy những giọt sầu. Nàng gượng tìm đến với âm nhạc để giải tỏa thì nỗi âu lo về duyên cầm sắt và tình loan phượng lại hiện hình.

Dường như nàng đang mang trong mình quá nhiều những nỗi lo sợ, lo lắng, bởi thế, người chinh phụ không những không thể giải tỏa được nỗi niềm bản thân mà còn như chìm sâu hơn vào nỗi bi thương xót xa.

Nỗi cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ được đã đặc tả bằng bút pháp trữ tình đa dạng để độc giả có thể cảm nhận được tâm trạng ấy của nhân vật trữ tình ngay cả khi ngày lên cũng như khi đêm xuống, luôn đồng hanh cùng người chinh phụ cả khi đứng, khi ngồi, lúc ở trong phòng và ngoài phòng và bủa vây khắp không gian xung quanh. Sự cô đơn ấy đã làm hao gầy cả hình dáng và héo úa cả tâm tư và người chinh phụ như đang chết dần trong cái bọc cô đơn ấy.

Chỉ mới 8 câu thơ thôi nhưng mà ta dường như đã được trải nghiệm một cuộc sống hay chỉ là sự tưởng tượng một phần nỗi cô đơn, nhớ mong người chồng chốn sa trường của người chinh phụ. Nỗi đau này còn tố cáo chiến tranh của chế độ phong kiến xưa, làm chia rẽ lứa đôi hạnh phúc. Qua đó ta cũng cảm nhận được một phần nào đó cái khát khao quyền hạnh phúc của con người.

Mời bạn tiếp tục đón đọc 🌳 Phân Tích Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên 🌳 15 Mẫu Hay Và Đặc Sắc

Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ Trong 16 Câu Đầu – Mẫu 13

Với bài văn phân tích tâm trạng của người chinh phụ trong 16 câu đầu dưới đây, các em học sinh có thể trau dồi cho mình những ý văn hay và đặc sắc.

“Chinh phụ ngâm khúc” là một trong những kiệt tác của danh sĩ, nhà thơ Đặng Trần Côn. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, được mọi người biết đến qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” bộc lộ rõ tâm trạng u buồn, nhớ nhung của người chinh phụ khi phải sống trong tình cảnh lẻ loi, vì chồng phải tham gia vào trận đánh chiến tranh tàn khốc. Tác phẩm thể hiện sâu sắc cảm hứng nhân đạo và sự lên án, tố cáo chiến tranh phi nghĩa khiến con người phải chia cắt.

Trong 16 câu thơ đầu tiên, tác giả thể hiện nỗi cô đơn của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi, cảm giác về thời gian chờ đợi, cố tìm cách giải khuây mà không được. Đến 11 câu thơ tiếp theo, thi nhân đã họa lại nỗi nhớ thương chồng ở phương xa của người chinh phụ khiến lòng nàng càng thêm ảm đạm. Trong những câu thơ còn lại, cảnh vật xung quanh càng khiến lòng người chinh phụ thêm rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi.

Những câu thơ đầu tiên chất chứa tâm trạng nhớ nhung, sầu muộn của người phụ nữ:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Chúng ta thấy người chinh phụ khắc khoải chờ mong chồng dẫu ngày hay đêm. Nằm trong phòng, nàng hết buông rèm xuống lại cuốn rèm lên. Tác giả đã rất tinh tế khi miêu tả từng động tác, cử chỉ, hành động được lặp đi, lặp lại nhiều lần của người chinh phụ. Những hành động ấy không xuất phát từ bất kỳ mục đích gì, tất cả đều là những động tác vô thức, không chủ đích, không ý nghĩa, cốt chỉ để biểu lộ tâm trạng cô đơn, lẻ loi của nàng.

Người chinh phụ mong mỏi có được sự đồng cảm, nhưng thực tại lại càng thất vọng: “chim thước” chẳng chịu mách tin, “đèn” không hiểu được tâm sự của mình. Câu hỏi tu từ được sử dụng “đèn biết chăng?”, “đèn chẳng biết” phải chăng là lời thở than, thể hiện nỗi khắc khoải trong đợi chờ vô vọng, day dứt mãi khôn nguôi.

Tâm trạng của nhân vật đã chuyển giọng kể tự nhiên, từ lời kể bên ngoài thành lời độc thoại nội tâm da diết, dằn vặt, ngậm ngùi. Hình ảnh “ngọn đèn”, “hoa đèn” cùng với cái bóng trên tường của chính mình gợi cho người đọc nhớ đến hình ảnh đèn không tắt trong bài ca dao vốn rất quen thuộc:

“Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt?
Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên?”

Nhận thấy trong tám câu thơ tiếp theo, người chinh phụ đã mượn cảnh thiên nhiên để diễn tả tâm trạng của mình, dùng cái khách quan để miêu tả sự chủ quan:

“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”

Âm thanh “tiếng gà eo óc” báo hiệu canh năm, đồng thời như sự minh chứng rằng người vợ xa chồng đã thức suốt đêm dài. Hình ảnh “bóng hòe” ngoài sân, hết ngắn rồi dài, rủ xuống mặt đất, càng khiến không gian thêm ảm đạm, ngột ngạt. Thời gian của xa cách, nhớ thương cùng với tâm trạng da diết khôn nguôi. Cụm từ “gượng” được tác giả diễn tả cách đặc biệt, đi liền với các động từ “gảy”, “soi”, đốt” cùng những đồ vật “đàn”, “hương”, “gương”.

Tất cả đều cho thấy, những thú vui tao nhã, những thói quen trang điểm hằng ngày của người phụ nữ, giờ đây vắng chồng, vắng niềm hạnh phúc, tiếng cười, bỗng được tiến hành một cách gượng ép. Đốt hương mà tâm hồn lại chìm đắm vào nỗi sầu tủi miên man. Soi gương lại không cầm được những giọt nước mắt không ngừng rơi vì tủi hổ. Đàn đứt dây, chùng lại, nào có thoát khỏi bể trời đơn côi?

Chúng ta thấy rằng chỉ vỏn vẹn 16 câu thơ đầu tiên, tác giả đã thể hiện rõ nỗi cô đơn, sầu tủi của người chinh phụ khi phải sống trong tình cảnh lẻ loi. Nàng cảm giác về thời gian trong đợi chờ, cố tìm cách giải khuây mà không được. Tác giả đã rất tinh tế khi diễn tả tâm trạng phong phú, tinh vi, sâu kín trong tình cảm của người phụ nữ, càng thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo dành cho người chinh phụ trong hoàn cảnh đơn côi, lẻ loi.

Giới thiệu đến bạn 🌟 Phân Tích Độc Tiểu Thanh Ký 🌟 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Bài Văn Phân Tích Tâm Trạng Người Chinh Phụ 16 Câu Đầu Đặc Sắc – Mẫu 14

Dưới đây là bài văn phân tích tâm trạng người chinh phụ 16 câu đầu đầy đủ giúp các em học sinh hoàn thành tốt bài viết của mình.

Đặng Trần Côn là một trong những tác giả nổi tiếng của văn học Việt Nam khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy biến động, nhiều trai tráng phải giã từ người thân để ra trận. Sống trong thời kỳ ấy, cảm nhận được nỗi thống khổ của người vợ lính, Đặng Trần Côn đã viết nên tác phẩm Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán. Đó là một khúc ngâm đầy cảm xúc lột tả tình cảnh của người chinh phụ lúc bấy giờ.

Trong đó đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là đoạn trích hay đặc biệt là 16 câu thơ đầu đã thể hiện rõ nét nỗi cô đơn của người vợ có chồng đi chinh chiến. Đã có nhiều bản dịch đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” nhưng trong đó, bản dịch thành công nhất là bản dịch của Đoàn Thị Điểm bởi bà cũng có hoàn cảnh giống người chinh phụ. Mười sáu câu đầu đoạn trích tác giả đã mở ra khung cảnh người chinh phụ chờ chồng trong tâm trạng u buồn, đơn độc.

Những hành động của người chinh phụ chậm rãi làm dâng lên cảm giác cô đơn, đau buồn:

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Rèm thưa rủ thác đòi phen

Nhịp thơ nhẹ nhàng đi sâu vào cảm xúc. Hành động của người chinh phụ hiện ra với dáng vẻ u buồn. Những động từ “dạo” “gieo từng bước” ta thấy được sự nặng nề với tâm trạng bâng khuâng, lo lắng. Dường như không gian im lặng đến mức nghe được cả tiếng bước chân của người chinh phụ. Tất cả mọi hành động, cảnh vật đều thể hiện sự cô độc.

Người phụ nữ ấy chẳng thể tìm được một người để sẻ chia. Thế nên hành động của người chinh phụ cứ lặp đi lặp lại vô nghĩa, kéo mành lên rồi lại buông mành xuống. Từ sự cô độc đó, sâu trong tâm hồn của người chinh phụ lại thầm thì trách móc:

“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”

Ở đây ta thấy được rõ nét sự nhớ nhung của người chinh phụ qua hình ảnh “chim thước”. Có lẽ nàng đang chờ đợi một tin tốt lành từ loài chim ấy. Vậy mà chờ hoài, đợi mãi chẳng thấy đâu. Thế nên nàng đâm trách chim thước chẳng báo tin tức gì, để nàng phải ngóng, mong khắc khoải. Tác giả cũng sử dụng nghệ thuật đối lập “ngoài rèm”, “trong rèm” để thấy được nỗi cô đơn đã ăn sâu vào cả không gian bên trong và bên ngoài.

Thế nên, nàng cần lắm một người bạn tâm sự cùng mình. Có lẽ vậy, nhà thơ đã nhân hóa “đèn” khuya thành một người bạn của người chinh phụ. Nhưng ngay cả chiếc đèn cũng phũ phàng với người phụ nữ đang lẻ loi ấy. Đáng nhẽ lúc này “đèn” phải thao thức cùng nàng suốt đêm, ấy thế nhưng “đèn” đã tắt ngay khi người chinh phụ cần lắm sự sẻ chia. Điều ấy làm cho người chinh phụ nhận ra rằng “đèn” cũng chỉ là một vật vô tri vô giác chẳng thể nào sẻ chia được điều gì.

Câu hỏi tu từ “trong rèm dường đã có đèn biết chăng” tác giả sử dụng cho người đọc cảm nhận được những cung bậc cảm xúc người chinh phụ đã trải qua. Và câu nói của người chinh phụ bật ra đau như xé lòng “Lòng thiếp riêng bi thiếp mà thôi”. Vì chẳng có ai bên cạnh để sẻ chia nên nàng xin nhận hết và chịu đựng hết nỗi cô đơn ấy.

Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương

Nỗi buồn của nàng giờ đây chẳng nói nên lời. Có lẽ nỗi buồn ấy đã quá lớn và hiện lên mỗi ngày. Ở đây, người chinh phụ nhìn hoa đèn mà nghĩ đến cuộc đời mình. Dường như cuộc đời nàng giống như hoa đèn vậy cũng mau lụi tàn. Càng nghĩ, nàng càng buồn khiến cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng, giống như Nguyễn Du đã miêu tả “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”:

“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”

Trời về khuya, không gian càng yên tĩnh khiến tiếng gà gáy làm tâm trạng thêm u uất. Tiếng gà “eo óc” là tiếng gáy thưa thớt, thể hiện sự đơn độc. Tác giả đã dùng hình ảnh “rủ bóng bốn bên” để miêu tả thời khắc không gian chìm vào đêm tối. Đã qua năm canh vậy mà người chinh phụ vẫn còn thao thức với nỗi sầu thương nhớ chồng.

Tác giả đã so sánh “khắc giờ” như “niên”. Có lẽ khi tâm trạng buồn thì một giờ mà như một năm, dài đằng đẵng khiến nỗi buồn, cô đơn ấy các thêm sâu đậm. Cùng với đó là từ láy “đằng đẵng” “dằng dặc” làm cho nỗi đau cứ triền miên không dứt. Ở đây ta thấy được sự tinh tế của tác giả khi lấy động tả tĩnh. Nhờ đó làm nổi bật lên không gian, thời gian. Để quên đi nỗi buồn trước mắt, người chinh phụ tìm đến những thú vui tao nhã:

Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”

Muốn quên đi nỗi buồn, nỗi cô đơn nàng tìm đến tô son điểm phấn, gảy đàn. Ấy thế nhưng những thú vui tao nhã mà nàng tìm đến lại càng khiến nàng chìm đắm vào nỗi sầu miên man. Khi đốt hương, mùi hương mê mải ấy lại khiến nàng rơi vào sự mơ màng làm nỗi sầu càng dân cao. Khi soi gương điểm phấn tô son, nàng lại xót xa hơn cho phận mình, nàng chợt nhận ra nhan sắc của mình đang dần phai mòn theo năm tháng.

Không có chồng ở bên cạnh chia sẻ, những ngày xuân chẳng còn nhiều. Khi đánh đàn lại khiến nàng nhớ lại những chuyện ngày xưa khi chồng còn kề cạnh. Thế nên nàng sợ “dây uyên đứt”, sợ “phím loan chùng” – những nỗi sợ cứ thế bủa vây quanh nàng.

Tìm đến những thú vui để quên đi nỗi buồn, nhưng hành động lại “gượng” thể hiện sự miễn cưỡng. Dường như chỉ vì quá cô đơn mà nàng mới gắng gượng để làm. Nhưng lúc này dù thú vui nào thì cũng chẳng làm nàng vui. Bởi vì ngay lúc này bao trùm tâm trạng nàng là nỗi cô đơn mong mỏi chồng từ nơi chinh chiến. Điều mà người chinh phụ mong mỏi ngay lúc này chính là nghe được một lời động viên từ người chồng của mình. Nhưng tất cả đều im lặng, chẳng có tin tức.

Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, sử dụng nhiều điệp từ, hình ảnh so sánh, tác giả đã vẽ ra tâm trạng rối bời của người chinh phụ. Sự cô đơn, lẻ loi của nàng được thể hiện rõ nét. Hình ảnh của người chinh phụ chính là hình ảnh đại diện cho một lớp người trong thời kỳ này. Nó lột trần tội ác xấu xa của chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao gia đình rơi vào cảnh chia lìa. Người phụ nữ phải hy sinh tuổi xuân, sống trong sự cô đơn, tuổi khổ để chờ chồng mặc dù chẳng biết bao giờ mới là lúc đoàn viên.

Chỉ với 16 câu đầu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ ta thấy được những nỗi cô đơn của người phụ nữ khi có chồng đi chinh chiến. Đó là nỗi cô đơn kéo dài triền miên theo không gian và thời gian. Nỗi cô đơn ấy chẳng có điều gì có thể xoa dịu bớt được. Có chăng chỉ là sự hy vọng ở người phụ nữ làm cho họ trở nên mạnh mẽ hơn. Qua đây ta cũng thấy được sự tài hoa của Đặng Trần Côn khi chạm đến trái tim người đọc bằng những ngôn từ cảm xúc.

Ngoài ra, tại SCR.VN còn có 🌺 Phân Tích Hồi Trống Cổ Thành 🌺 11 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Tâm Trạng Của Người Chinh Phụ Trong 8 Câu Thơ Cuối – Mẫu 15

Bài văn phân tích tâm trạng của người chinh phụ trong 8 câu thơ cuối dưới đây sẽ giúp các em học sinh có thêm cho mình tư liệu tham khảo phong phú hơn.

Ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVIII với nguyên tác bằng Hán văn của Đặng Trần Côn, Chinh Phụ Ngâm đã mau chóng đi vào lòng mọi tầng lớp quần chúng. Trải qua hơn hai thế kỉ rưỡi cho đến nay, Chinh Phụ Ngâm luôn giữ nguyên giá trị của một viên ngọc văn chương sáng ngời, một sản phẩm đáng tự hào của xứ sở vốn “nổi tiếng thi thư”.

Trong đó, đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cho thấy rõ tâm trạng cô đơn của người vợ nhớ chồng ra trận và nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc thầy của hai tác giả Đặng – Đoàn, với nghệ thuật diễn Nôm đặc biệt xuất sắc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Đoạn trích tinh cảnh lẻ loi của người chinh phụ viết về tình cảnh và tâm trạng người chinh phụ phải sống cô đơn, buồn khổ trong thời gian dài người chồng đi đánh trận mà không rõ tin tức:

Nếu mười sáu câu đầu là đoạn điệp khúc khi mà nỗi nhớ thương và tâm trạng đau thương được đẩy lên đến cùng cực, thì tám câu sau này lại như một đoạn nhạc dạo trước cao trào. Tấm lòng hướng về phương xa nơi chồng đang chinh chiến chậm rãi biến nỗi cô đơn thành một nỗi đau, một nỗi đau không gì sánh được. Như một chữ ‘thiết tha’, nó mài, nó cắt vào ruột gan người đọc hệt như cách nó làm đau đớn lòng người chinh phụ. Trước hết là một ước mong cháy bỏng đêm ngày:

“Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên

Sau những day dứt của một trạng thái bế tắc cao độ, người chinh phụ chợt nảy ra một ý nghĩ rất chân thành mà cũng rất nên thơ: nhờ ngọn gió xuân gửi lòng mình tới người chồng ở chiến trường xa, đang đối đầu từng ngày từng giờ với cái chết để mong kiếm chút tước hầu. Chắc chắn, chàng cũng sống trong tâm trạng nhớ nhung mái ấm gia đinh cùng với bóng dáng thân yêu của người vợ trẻ:

Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

Không gian xa cách giữa hai đầu nỗi nhớ được tác giả so sánh với hình ảnh vũ trụ vô biên: Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Thăm thẳm nỗi nhớ người yêu, thăm thẳm con đường đến chỗ người yêu, thăm thẳm con đường lên trời. Câu thơ hàm súc về mặt ý nghĩa và cô đọng về mặt hình thức. Cách bộc lộ tâm trạng cá nhân trực tiếp như thế này cũng là điều mới mẻ, hiếm thấy trong văn chương nước ta thời trung đại:

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

Hai câu thất ngôn chứa đựng sự tương phản sâu sắc tạo nên cảm giác xót xa, cay đắng. Đất trời thì bao la, bát ngát, không giới hạn, liệu có thấu nỗi đau đớn đang giày vò ghê gớm cõi lòng người chinh phụ hay chăng? Nói như người xưa: trời thì cao, đất thì dày, nỗi niềm uất ức biết kêu ai? Biết ngỏ cùng ai? Bởi vậy nên nó càng kết tụ, càng cuộn xoáy, gây nên nỗi đau đớn khôn nguôi:

Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

Giữa con người và cảnh vật dường như có sự tương đồng khiến cho nỗi sầu thương trở nên da diết, bất tận. Cảnh vật xung quanh người chinh phụ đã chuyển thành tâm cảnh bởi được nhìn qua đôi mắt đẫm lệ buồn thương. Sự giá lạnh của tâm hồn làm tăng thêm sự giá lạnh của cảnh vật. Cũng giọt sương ấy đọng trên cành cây, cũng tiếng trùng ấy rả rích trong đêm mưa gió, nhưng cảnh ấy tình này lại gợi nên bao sóng gió, bao nỗi đoạn trường trong lòng người chinh phụ.

Tình cảnh ấy, tâm trạng ấy tự nó đã nói lên bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia. Ý thơ đi từ tình đến cảnh rồi lại từ cảnh trở về tình, cứ lặp đi lặp lại như vậy nhằm thể hiện rõ tình cảnh lẻ loi và tâm trạng cô đơn của người chinh phụ. Dù ở đâu, lúc nào, làm gì nàng cũng chỉ lầm lũi, vò võ một mình một bóng mà thôi!

Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tác giả đã diễn tả được những diễn biến phong phú, tinh vi các cung bậc tình cảm của người chinh phụ. Cảnh cũng như tình được miêu tả rất phù hợp với diễn biến của tâm trạng nhân vật. Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ đang sống trong tình, cảnh lẻ loi vì chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của vua chúa, tác giả có chủ ý đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện thái độ bất bình, phản kháng đối với chiến tranh phi nghĩa.

Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương một thời, đó là tư tưởng đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người.

Gợi ý cho bạn ☔ Phân Tích Hoàng Hạc Lâu Của Thôi Hiệu ☔ 8 Bài Mẫu Hay Nhất

Viết một bình luận