Soạn Bài Hầu Trời
Quote Hay Nhất 🎖 1001 Câu Nói Hay Nhất

Soạn Bài Hầu Trời Tản Đà ❤️️ Trọn Bộ Giáo Án, Phân Tích

Soạn Bài Hầu Trời Tản Đà ❤️️ Trọn Bộ Giáo Án, Phân Tích Hãy Tham Khảo Những Phân Tích, Tóm Tắt Ngắn Gọn, Đầy Đủ Ý Nghĩa Của Tác Phẩm

Soạn Bài Hầu Trời

Gợi ý đến bạn đọc bài Soạn Bài Hầu Trời của tác giả Tản Đà ngắn gọn,

Soạn bài Hầu trời của Tản Đà theo chương trình sách giáo khoa chương trình cơ bản

Câu 1: Phân tích đoạn mở đầu

4 câu thơ mở đầu đầu thể hiện sự hư hư thực thực của một giấc mơ mà tác giả vừa trải qua. Ngay câu thơ đầu “ Đêm qua chẳng biết có hay không” thể hiện sự bàng hoàng của tác giác khi vừa tỉnh mộng, mà đã là mộng thì không phải là sự thật.

Đây thực chất là một cái cớ hoàn hảo để Tản Đà được tự do bộc bạch tâm sự của mình trong thời buổi xã hội thực dân nửa phong kiến, con người bị tù hãm, khó có thể nói lên suy nghĩ của riêng mình

Tuy nhiên, 3 câu thơ sau lại lật ngược lại vấn đề bằng những câu khẳng định: “Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng”. “Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể”, “ thật được lên tiên”. Điều này khiến cho người đọc cảm nhận được câu chuyện mà tác giả giả sắp kể đây là sự thật mặc dù là diễn ra trong cõi mộng của tác giả

Khổ thơ mở đầu đã tạo ra được sự nghi vấn, tò mò và gây hấp dẫn cho người đọc một cách rất tự nhiên, rất duyên

Câu 2: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng lại có một đoạn rất hiện thực

Trời rằng: “Không phải là Trời đày,
….
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu”

Đây chính là tình cảnh mà nhà văn đang gặp phải ở hạ giới: cuộc sống nghèo khổ, vất vả đủ điều. Mặc dù được trời trao cho việc thiên lương của nhân loại nhưng vì quá khổ nên “Biết có làm được mà dám theo”

Ý nghĩa đầy đủ của đoạn thơ này:

  • Hoàn cảnh hiện tại của văn sĩ thời kỳ này nói chung và của Tản Đà nói riêng
  • Tác giả rất ý thực được tài năng và trân trọng văn chương của mình, nhưng do thời cuộc, văn chương lại bị coi rẻ, bị biến thành công cụ để kiếm tiền, giọng văn hài hước nhưng thật xót xa biết bao
  • Hai nguồn cảm hứng liên hệ với nhau: Bởi vì ý thức sâu sắc về hiện thực nên khát khao thoát li khỏi hiện thực ⇒ cảm hứng lãng mạn để thoát khỏi sự thật trần trụi

Câu 3: Những cái mới và hay về nghệ thuật của bài thơ

  • Thể thơ: thể thất ngôn trường thiên tự do, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu nào
  • Ngôn từ: hóm hỉnh, hài hước
  • Cách dẫn dắt câu chuyện vừa có sự chọn lọc vừa tự do, lôi cuốn người đọc
  • Tác giả hiện diện trong bài thơ với tư cách vừa là người kể chuyện, vừa là nhân vật chính để dễ dàng bộc lộ tính cách của mình vừa chủ quan vừa khách quan.

🌻 Ngoài Soạn Bài Hầu Trời 🌻 Tham khảo Bài Thơ Cảnh Ngày Xuân

Soạn Hầu Trời Ngắn Gọn

Soạn Bài Hầu Trời Ngắn Gọn dành cho những bạn đọc quan tâm đến nội dung ý nghĩa của tác phẩm này

Tác giả

  • Tản Đà là một ngôi sao sáng trên thi đàn vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX
  • Thơ văn của ông được xem là gạch nối giữa văn học thời kỳ trung đại và hiện đại

Nội dung chính

Văn bản Hầu Trời tập trung vào việc tả cảnh Tản Đà đọc thơ cho Trời và các chư tiên nghe, ông dám mạnh dạn thể hiện “cái tôi” cá nhân mạnh mẽ, cái “ngông” của mình qua việc tự coi mình là một trích tiên, lại được đàm đạo cùng các cao nhân.

Ông tự ý thức được tài năng, giá trị đích thực của bản thân, qua đó thể hiện sự khao khát được khẳng định mình giữa cuộc đời, giữa xã hội thực dân nửa phong kiến tù túng, u uất

Nghệ thuật

  • Thể thơ trường thiên tự do
  • Ngôn ngữ tự nhiên, gần gũi nhưng có sự chọn lọc tinh tế
  • Cách kể chuyện hóm hỉnh, sống động

Bố cục bài thơ Hầu Trời có 4 phần

  • Phần 1: Năm khổ thơ đầu
    Lý do được lên trời đọc thơ
  • Phần 2: Tám khổ tiếp theo
    Diễn biến và quang cảnh của buổi đọc thơ trên trời với sự đón tiếp đầy trân trọng
  • Phần 3: Bốn khổ tiếp theo
    Lời trần tình của tác giả về cảnh ngộ ở trần gian, về nghề văn của mình
  • Phần 4: Phần còn lại
    Cảm nghĩ của tác giả khi về lại trần gian

🌻 Ngoài Soạn Bài Hầu Trời 🌻 Chia sẻ Thơ Tình Xuân Quỳnh Hay

Mẫu Giáo Án Hầu Trời

Đừng bỏ lỡ Mẫu Giáo Án Soạn Bài Hầu Trời chi tiết và đầy đủ nhất

I. Mục tiêu bài học

  1. Kiến thức
  • Ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ và quan niệm về nghề văn của Tản Đà.
  • Những sáng tạo hình thức nghệ thuật của bài thơ: thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, giọng điệu thoải mái, tự nhiên, ngôn ngữ sinh động.

2. Kỹ năng

Đọc hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.. Bình giảng những câu thơ hay.

  1. Thái độ
  • Có thái độ trân trọng những giá trị văn chương và người nghệ sĩ.

II. Phương tiện

  1. Giáo viên

SGK, SGV, thiết kế dạy học, tài liệu tham khảo…

  1. Học sinh

Vở soạn, sgk, vở ghi

III. Phương pháp
Nêu vấn đề, gợi mở, đàm thoại, thảo luận nhóm, thực hành, đọc diễn cảm… GV phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong giờ dạy

IV. Hoạt động dạy & học

  1. Ổn định tổ chức lớp
  2. Kiểm tra bài cũ
  3. Bài mới

Hoạt động 1: Hoạt động khởi động

Trong “Thi nhân Việt Nam” – một cuốn sách được coi là bảo tàng của Thơ mới,

Thơ Tản Đà mang những dấu hiệu đổi mới cả về nội dung tư tưởng lẫn nghệ thuật, đặc biệt ta nhận thấy rất rõ cái tôi với những điệu tính cảm xúc mới. “Hầu trời” là bài thơ dài tiêu biểu cho những đặc điểm thơ Tản Đà.

Hoạt động 2: Hoạt động của GV và HS

Hoạt động của GV và HSKiến thức cần đạt
Hoạt động hình thành kiến thức mới
Gv hướng dẫn đọc hiểu khái quát.
Gv gọi một Hs đọc phần tiểu dẫn sgk và đưa ra câu hỏi Hs trả lời:
I.Tìm hiểu chung
– Hãy nêu vài nét về tác giả Tản Đà?* lưu ý: bút danh Tản Đà.1. Tác giả
– Tản Đà tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu(1889-1939).
– Quê: Khê Thượng- Bất Bạt- tỉnh Sơn Tây(nay thuộc Ba Vì- Hà Nội).
– Là một thi mang đầy đủ tính chất của “con người của hai thế kỉ”.Cả về học vấn, lối sống và sự nghiệp văn chương.
– Có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền văn học Việt Nam – gạch nối giữa văn học trung đại và văn học hiện đại.
– Hãy cho biết xuất xứ của tác phẩm? Nhận xét về đề tài bài thơ?Xuất xứ:
Bài thơ được in trong tập “Còn chơi” xuất bản năm 1921.
– Bài thơ là câu chuyện kể lên tiêm gặp trời của thi sĩ Tản Đà.
Nêu đặc điểm văn chương Tản Đà?- Cá nhân trả lời
Nêu bố cục bài thơ?- Cá nhân trả lờiNhận xét về bố cục bài thơ?- Cá nhân trả lời– Bố cục:
Gv hướng dẫn Hs đọc hiểu chi tiết.II. Đọc-hiểu văn bản
Hs đọc Sgk-Tác giả kể lại lí do, thời điểm lên hầu trời như thế nào?
– Cá nhân trả lời- Gv nhận xét, bổ sung
1. Nội dung
a. Tác giả lên hầu trời
-Trăng sáng, canh ba (rất khuya)
-Nhà thơ không ngủ được, thức bên ngọn đèn xanh, vắt chân chữ ngũ…Tâm trạng buồn, ngồi dậy đun nước, ngâm ngợi thơ văn, ngắm trăng trên sân nhà
-Hai cô tiên xuất hiện, cùng cười, nói: trời đang mắng vì người đọc thơ mất giấc ngủ của trời, trời sai lên đọc thơ cho trời nghe!
-Trời đã sai gọi buộc phải lên!
Câu chuyện lên tiên được kể với giọng điệu như thế nào?“Đêm qua chẳng biết có hay không
Chẳng phải hoảng hốt, không mơ màngThật hồn! Thật phách! Thật thân thể!
Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.
Cách kể tự nhiên, nhân vật trữ tình như giãi bày, kể lại một câu chuyện có thật! (một sự thoả thuận ngầm với người đọc).
Cách đọc thơ:“Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà”Giọng đọc vừa có âm vực (cao), vừa có trường độ(dài), vọng lên cả sông Ngân Hà trên trời
Em có nhận xét gì về hai câu thơ sau?
– Cá nhân trả lời
– Gv nhận xét, bổ sung
“Ước mãi bây giờ mới gặp tiên
Người tiên nghe tiếng lại như quen”Câu thứ nhất nội dung bình thường, nhưng đến câu thứ hai, thật lạ: quen cả với tiên! nhà thơ cũng là vị “trích tiên” – tiên bị đày xuống hạ giới.
Việc lên đọc thơ hầu trời cũng là việc bất đăc dĩ:
“Trời đã sai gọi thời phải lên
”Có chút gì đó ngông nghênh, kiêu bạc! tự nâng mình lên trên thiên hạ, trời cũng phải nể, phải sai gọi lên đọc thơ hầu trời!
Hs đọc đoạn hai(?) Tác giả kể chuyện mình đọc thơ cho trời và các vị chư tiên như thế nào?
– Hs độc lập trả lời
b. Tác giả đọc thơ hầu trời
-Theo lời kể của nhân vật trữ tình, không gian, cảnh tiên như hiện ra:“Đường mây” rộng mở“Cửa son đỏ chói” → tạo vẻ rực rỡ“Thiên môn đế khuyết” → nơi ở của vua, vẻ sang trọng. “Ghế bành như tuyết vân như mây” → tạo vẻ quý phái.Không gian bao la, sang trọng, quý phái của trời. nhưng không phải ai cũng được lên đọc thơ cho trời nghe. Cách miêu tả làm nổi bật cái ngông của nhân vật trữ tình.
– Văn sĩ hạ giới – người đọc thơ được miêu tả như thế nào?(Gv phát vấn, hs trả lời)+ “Vừa trông thấy trời sụp xuống lạy”-vào nơi thiên môn đế khuyết phải như thế!
– Trời, chư tiên nghe đọc thơ như thế nào?+ Được mời ngồi: “truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy”, đọc thơ say sưa “đắc ý đọc đã thích” (có cảm hứng, càng đọc càng hay) “Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi” (hài hước), “văn dài hơi tốt ran cung mây”.
+ Trời khen: “trời nghe, trời cũng lấy làm hay”. Trời tán thưởng “Trời nghe trời cũng bật buồn cười”. Trời khẳng định cái tài của người đọc thơ:“ Trời lại phê cho văn thật tuyệtVăn trần như thế chắc có ít”
– Em thấy thái độ của các vị chư tiên có điều gì đặc biệt?(Cá nhân trả lời)Nở dạ: mở mang nhận thức được nhiều cái hay.Lè lưỡi: văn hay làm người nghe đến bất ngờ! “Chau đôi mày” văn hay làm người nghe phải suy nghĩ tưởng tượng. “Lắng tai đứng” đứng ngây ra để nghe. Tác giả viết tiếp hai câu thơ:“Chư tiên ao ước tranh nhau dặnAnh gánh lên đây bán chợ trời”→ cảnh đọc thơ diễn ra thật sôi nổi, hào hứng, linh hoạt…⇒ Người đọc thơ hay mà tâm lí người nghe thơ cũng thấy hay! khiến người đọc bài thơ này cũng như bị cuốn hút vào câu chuyện đọc thơ ấy, cũng cảm thấy “đắc ý” “sướng lạ lùng”!
– Qua việc đọc thơ hầu trời, tác giả muốn bày tỏ thái độ của mình về điều gì?( Hs chia nhóm thảo luận. Gv quan sát, định hướng)*Các nhà Nho tài tử thường khoe tài (thị tài), tài năng mà họ nói đến là tài Kinh bang tế thế!Tự khen mình (vì xưa nay ai thấy trời nói đâu?!), tự phô diễn tài năng của mình.c. Thái độ của tác giả qua việc đọc thơ hầu trời
+Thể hiện quan niệm về tài năng (tài thơ)Nhà thơ nói được nhiều tài năng của mình một cách tự nhiên, qua câu chuyện tưởng tượng Hầu trời đọc thơ:
+“Văn dài hơi tốt ran cung mâyTrời nghe, trời cũng lấy làm hay”
+ “Văn đã giàu thay, lại lắm lối”
+ “Trời lại phê cho văn thật tuyệtVăn trần như thế chắc có ít Nhời văn chuốt đẹp như sao băng Khí văn hùng mạnh như mây chuyển Êm như gió thoảng, tinh như sương Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết”
→ Tản Đà khoe tài thơ, nói thẳng ra “hay” “thật tuyệt” mà lại nói với trời.Trời khen: là sự khẳng định có sức nặng, không thể phủ định tài năng của tác giả – lối khẳng định rất ngông của văn sĩ hạ giới, vị trích tiên – nhà thơ.
⇒ Bài thơ thể hiện ý thức cá nhân của Tản Đà về cái tôi tài năng của mình!
– Tuy Tản Đà không nói trực tiếp, nhưng em có thể nhận biết quan niệm của Tản Đà về văn chương như thế nào?+Quan niệm của Tản Đà về nghề văn:Văn chương là một nghề, nghề kiếm sống. Có kẻ bán, người mua, có chuyện thuê, mượn; đắt rẻ… vốn, lãi… Quả là bao nhiêu chuyện hành nghề văn chương! một quan niệm mới mẻ lúc bấy giờ.
+“Nhờ trời văn con còn bán được”+ “Anh gánh lên đây bán chợ trời”
+ “Vốn liếng còn một bụng văn đó”
+ “Giấy người, mực người, thuê người in Mướn cửa hàng người bán phường phố Văn chương hạ giới rẻ như bèo Kiếm được đồng lãi thực là khó”
→ Khát vọng ý thức sáng tạo, trong nghề văn:Người viết văn phải có nhận thức phong phú, phải viết được nhiều thể loại: thơ, truyện, văn, triết lí, dịch thuật (đa dạng về thể loại).
– ý thức cá nhân của Tản Đà qua lời tự nói về mình như thế nào? So sánh với các thi sĩ khác ùng thời?(Cá nhân độc lập trả lời)So với các danh sĩ khác:“ Bất tri tam bách dư niên hậuThiên Hạ hà nhân khấp Tố Như”(Nguyễn Du – Đọc Tiểu Thanh kí)Hoặc:“Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”(Nguyễn Công Trứ – Bài ca ngất ngưởng)Hay:“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôiNày của Xuân Hương mới quệt rồi”(Hồ Xuân Hương – Mời trầu)Tấu trình với trời về nguồn gốc của mình:“Con tên Khắc Hiếu họ là NguyễnQuê ở á Châu về địa cầu Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”Tản Đà giới thiệu về mình, với nét riêng:
+Tách tên, họ.
+Nói rõ quê quán, châu lục, hành tinh.Nói rõ để trời hiểu Nguyễn Khắc Hiếu
→ ý cái tôi cá nhân và thể hiện lòng tự tôn , tự hào về dân tộc mình “sông Đà núi Tản nước Nam Việt” …
⇒ Cảm hứng lãng mạn và hiện thực đan xen nhau, trong bài thơ. (hiện thực: đoạn nhà thơ kể về cuộc sống của chính mình), khẳng định vị trí thơ Tản Đà là“gạch nối của hai thời đại thi ca”
– Hs nhận xét những nét đáng chú ý về nghệ thuật của bài thơ?(Một vài cá nhân trả lời, bổ sung)2. Nghệ thuật
Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, giọng điệu thoải mái, ngôn ngữ tự nhiên, giản dị sinh động.
– Hãy rút ra ý nghĩa của văn bản?3. Ý nghĩa văn bản
Ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ và quan niệm về nghề văn của Tản Đà.
Gv hướng dẫn tổng kết.III. Tổng kết
Ghi nhớ (Sgk)

🌻 Ngoài Soạn Bài Hầu Trời 🌻 Đọc thêm Bài Thơ Lỡ Bước Sang Ngang

Phân Tích Bài Hầu Trời

Cùng SCR.VN Phân Tích Soạn Bài Hầu Trời của Tản Đà chi tiết và hấp dẫn

Khi chốn nước non này còn lặng lẽ vào những năm đầu thế kỉ XX, người ta bỗng thấy một nhà thơ đã làm xao động cả giới văn đàn. Ông được gọi là người “nằm vắt mình qua hai thế kỉ”, “gạch nối giữa hai thế kỉ”, người đặt nền móng đầu tiên cho thơ mới. Ông chính là Tản Đà.

Điều ông mang tới là một hồn thơ lãng mạn, bay bổng mà vẫn đầy cảm thương, phong cách tài hoa, độc đáo mà vẫn giữ được cốt cách thơ ca dân tộc. Một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho cái tôi trong thơ ấy là Hầu Trời. Thi phẩm được in trong tập Còn chơi xuất bản vào năm 1921 đã tạo nên ấn tượng đặc biệt và khẳng định tài năng của nhà thơ.

Được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên khá phóng khoáng, tự do, lại thêm cách thể hiện đậm chất tự sự với các yếu tố cốt truyện, tình huống, nhân vật, lời kể… đã tạo nên một cấu tứ rất đặc biệt của tác phẩm này.

Đó là một câu chuyện “hầu Trời” của nhân vật chính là tác giả – một thi sĩ, hoàn toàn hư cấu, tưởng tượng, nhưng lại được kể với một giọng điệu say mê, tự nhiên và rất bình dị.

Kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn và hiện thực, câu chuyện ấy có thể tóm tắt lại qua ba sự việc theo trật tự thời gian: trình bày lí do được lên Trời đọc thơ, cảnh đọc thơ hào hứng của tác giả và thái độ ngợi ca, tán thưởng của Trời và các chư tiên, và cuộc chia tay đầy lưu luyến, xúc động.

Chắc hẳn nhiều người vẫn còn quá ấn tượng với cách mở đầu câu chuyện này của thi sĩ Tản Đà:

“ Đêm qua chẳng biết có hay không,
Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!
Thật được lên tiên – sướng lạ lùng,”

Đây chỉ là một lời thông báo về sự việc “được lên tiên – sướng lạ lùng” vào đêm qua mà nhiều người chúng ta nghĩ là chuyện bịa. Nhưng cách dẫn dắt của thi nhân khiến người ta tin đó là thật, mà thật một cách đầy tự nhiên, chứ không hề gượng gạo.

Ông cũng đặt ra nghi vấn chẳng biết có hay không theo kiểu khoa học nhưng vẫn khẳng định rằng: không hoảng hốt, không mơ mòng và có đến bốn cái thật khiến người ta tin.

Cách mở đầu câu chuyện vì thế mà đầy khéo léo và duyên dáng, đến nỗi nhà thơ Xuân Diệu cũng trầm trồ, thán phục. Tình huống độc đáo, hấp dẫn của câu chuyện được mở ra.

Ngay sau đó, thi sĩ trình bày lý do được lên tiên cũng đầy lạ lùng. Trong đêm khuya trăng sáng, lúc canh ba, nằm buồn một mình, tác giả ngồi dậy đun nước uống rồi ngâm nga văn thơ.

Bỗng thấy hai cô tiên xuống, vì tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà khiến Trời không ngủ được nên Trời mời lên đọc để nghe qua. Đúng là có vẻ khó tin nhưng cách giải thích đầy hóm hỉnh và tự nhiên như thế khiến người đọc thấy được sự thú vị, đời thường và cũng đáng tin.

Câu chuyện vì thế càng gợi thêm sự tò mò, hấp dẫn. Vậy đối diện với Trời, thi sĩ sẽ thể hiện mình như thế nào?

Được đón tiếp nồng nhiệt, trang trọng, ngồi ghế bành như tuyết vân như mây, uống chè trời nhấp giọng, thi nhân bước vào một cuộc thể hiện tài năng, mà khán giả không ai khác là Trời và các chư tiên. Chỉ nghĩ đến đây thôi đã thấy quả là một câu chuyện hư cấu đầy thú vị, độc đáo chưa từng có.

Việc lên tiên, lên trời không phải là một đề tài xa lạ, ngay cả với bản thân thi sĩ Tản Đà, nhưng việc lên đó để ngâm văn, đọc thơ thì chắc chắn là chỉ có ông mà thôi.

Bởi vậy với bút pháp lãng mạn, nhà thơ đã tái hiện lại cảnh đọc thơ cho Trời và các chư tiên nghe đầy hứng khởi, tự hào

🌻 Ngoài Soạn Bài Hầu Trời 🌻 Chia sẻ Bài Thơ Thuyền Và Biển

Soạn Bài Hầu Trời Lớp 11

Soạn Bài Hầu Trời Lớp 11 giúp các em học sinh tiếp thu kiến thức nhanh và dễ dàng để nhớ

CÂU 1

Cách xưng danh của tác giả:

  • Tác giả đã tâu trình rõ ràng về họ tên, xuất xứ của mình cho Trời nghe.
  • Có một nụ cười hóm hỉnh ẩn đằng sau vẻ thật thà, thành khẩn trước đấng trí tôn, nhưng điều đáng nói hơn hết vẫn là ý thức cá nhân, ý thức dân tộc của nhà thơ.
  • Cách nói của nhà thơ không chỉ là cách nói của ý thức cá nhân, của cái ngông mà còn chứa đựng một thái độ tự tôn dân tộc, một tình cảm yêu nước đáng quý.
  • Những trường hợp xưng danh trong thơ thời văn học trung đại: Mời trầu – Hồ Xuân Hương, Đọc Tiểu Thanh kí – Nguyễn Du, Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ

CÂU 2

  • “Ngông” chỉ sự khác thường. “Ngông” trong văn chương dùng để chỉ một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác thói thường có ở nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ.
  • Trong bài Hầu Trời, cái ngông của Tản Đà có những biểu hiện nổi bật:
    • Tự cho mình văn
    • Không thấy có ai đáng là kẻ tri âm tri kỉ với mình ngoài Trời và chư tiên.
    • Xem mình là một trích tiên bị đày xuống hạ giới vì tội ngông.
    • Nhận mình là người nhà Trời, được sai xuống hạ giới thực hiện một sứ mệnh cao cả
    • Ngoài ra, việc nhà thơ bịa ra chuyện hầu Trời.
  • Tản Đà không phải trường hợp ngông cá biệt trong văn học Việt Nam. Trước ông, những người như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,… đều ngông.

Câu 3

Tản Đã đã phản ánh rất chân thực và cảm động về cuộc sống của mình cũng như tầng lớp văn nghệ sĩ đương thời:

  • Tản Đà không chỉ muốn thoát li cuộc đời bằng những cuộc mơ ước lên trăng, lên tiên. Ông đã vẽ bức tranh hiện thực về chính cuộc đời tác giả, cũng như bao nhà văn khác.
  • Trong mắt Tản Đà, văn chương lúc này là một nghề kiếm sống mới, có người bán, kẻ mua, có thị trường tiêu thụ và bản thân thị trường cũng hết sức phức tạp, không dễ chiều
  • Tản Đà cũng chớm nhận ra: đa dạng về thể loại là một đòi hỏi thiết yếu của hoạt động sáng tác và với những sáng tác mới thì tiêu chí đánh giá tất nhiên là phải khác xưa

Câu 4

Những cái mới và hay về nghệ thuật của bài thơ là:

  • Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do.
  • Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm và rất gần gũi với đời sống, không cách điệu, ước lệ.
  • Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên và lôi cuốn người đọc
  • Từ ngữ nôm na, bình dị, như lấy ở đời sống bình thường.
  • Tác giả tự hiện diện trong bài thơ với tư cách người kể chuyện, đồng thời là nhân vật chính. Cảm xúc biểu hiện phóng túng, tự do, không hề gò ép.
  • Nhà thơ đã sáng tạo ra một cuộc hầu Trời thật lí thú, ngộ nghĩnh mà như thật.

🌻 Ngoài Soạn Bài Hầu Trời 🌻 Tham khảo Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam

Hầu Trời Giáo Án

Xem thêm những mẫu giáo án về soạn bài Hầu Trời của các giáo viên

Bài Giảng Hầu Trời

Gửi tặng đến bạn Bài Giảng Soạn Bài Hầu Trời hay và để lại những ấn tượng trong lòng của bạn đọc

🌻 Ngoài Soạn Bài Hầu Trời 🌻 Tham khảo Thơ Tình Cuối Mùa Thu Xuân Quỳnh 

Soạn Hầu Trời Nâng Cao

Tham khảo thêm những bài Soạn Bài Hầu Trời Nâng Cao hay nhất

Câu hỏi

  1. Tìm hiểu bí quyết hấp dẫn người đọc của Tản Đà khi kể lại câu chuyện mình được lên “hầu Trời”. .
  2. Phân tích ý thức cá nhân, ý thức dân tộc của Tản Đà thể hiện qua việc nhà thơ khai danh tính, gốc gác của mình cho Trời nghe (từ câu 65 đến câu 68).
    Lối kể chuyện có tính chất “bình dân” cùng giọng khôi hài đã được nhà thơ sử dụng như thế nào và đạt hiệu quả ra sao trong bài Hầu Trời ?
  3. Làm rõ đặc trưng cái “ngông” của Tản Đà được thể hiện trong bài thơ. Chứng minh cái “ngông” ấy là một nhân tố cần thiết của hoạt động sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là với trường hợp Tản Đà.
  4. Nêu một cách khái quát những dấu hiệu mới về hình thức của thơ trữ tình Việt Nam trong những năm hai mươi của thế kỉ XX được biểu lộ qua bài Hầu Trời.

Gợi ý trả lời soạn bài Hầu Trời

  1. Chuyện “hầu Trời” hiển nhiên là chuyện hư cấu nhưng được tác giả kể như thật, rất sinh động : vào chuyện đột ngột mà tự nhiên ; chi tiết, tình tiết được xếp đặt hợp lí; bối cảnh được vẽ ra một cách cụ thể ; các đoạn đối thoại và miêu tả những phản ứng tâm lí đa dạng của từng loại nhân vật được cài vào nhau thật linh hoạt…
  2. Ý thức cá nhân, ý thức dân tộc của nhà thơ thể hiện rõ ở lời “tâu trình” cho Trời nghe về danh tính, gốc gác bản thân.
    • Một cái tên mà được nói ra trịnh trọng đến vậy hẳn nhà thơ phải thấy có một giả trị không thể phủ nhận gắn liền với nó. Hơn nữa, ông còn muốn
    • Trời thấy được Nguyễn Khắc Hiếu chính là con người của Á châu, của xứ sở có một nền “văn minh tinh thần” cao quý, đáng tự hào.
  3. Cổ tích, ca dao thường nhìn nhận, miêu tả Trời và tiên như những nhân vật cụ thể, sống động, hành xử không khác bao nhiêu con người bình thường nơi hạ giới.
    • Trong bài thơ của mình, Tản Đà đã để cho Trời và tiên làm những việc, nói những câu rất đời, rất ngộ.
    • Hiển nhiên, riêng ở mặt này, ông không chịu ảnh hưởng của thơ bác học thời trung đại mà tiếp thu cái nhìn của các tác giả dân gian.
    • Nói đúng hơn, Tản Đà đã thực sự “bình dân hoá” những chất liệu đặc thù của thi ca cổ điển.
  4. Cái “ngông” thể hiện trong bài thơ là cái “ngông” gắn liền với ý thức cá nhân khá đậm của Tản Đà
    • Ông tự cho văn mình hay đến mức Trời cũng phải tán thưởng ; ông thấy không có ai đáng là kẻ tri âm của mình ngoài Trời và chư tiên ; ông nhận mình là người được Trời sai xuống hạ giới thực hiện sứ mệnh cải cách xã hội rất cao cả,…
    • Tản Đà đã tỏ thái độ khiêu khích đối với cái nhìn tôn ti, đẳng cấp đang thống trị xã hội lúc ấy. Tản Đà quả đã rũ bỏ được khá nhiều gánh nặng trách nhiệm mà thông thường các nhà nho vẫn đặt trên vai mình để sống thoải mái hơn với cái tự do cá nhân mới mẻ mà thời đại đưa tới.
    • Một khi ông đã xem văn chương là một nghề, sự tự do cá nhân ấy trở thành một nhân tố tích cực, thúc đẩy ông đi vào con đường đổi mới thơ, nhằm đưa đến cho nền thơ Việt Nam lúc đó những ý vị thẩm mĩ khác lạ.
  5. Những dấu hiệu mới về hình thức của thơ trữ tình Việt Nam được thể hiện qua Hầu Trời : bài thơ được chia thành nhiều khổ, những hình tượng quen thuộc của văn học cổ điển đã được “bình dân hoá”, ngữ điệu thơ mang dáng dấp của ngữ điệu nói, tính truyện trong thơ được gia tăng,…

🌻 Ngoài Soạn Bài Hầu Trời 🌻 Chia sẻ Thơ Tản Đà Nổi Tiếng

Giáo Án Hầu Trời Lớp 11

Giáo Án Soạn Bài Hầu Trời Lớp 11 ngắn gọn và được các bạn học sinh, giáo viên tham khảo

A. VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
I. Tên bài học : Hầu trời

II. Hình thức dạy học : DH trên lớp.

III. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh (giáo án hầu trời)

  1. Giáo viên:

– Phương tiện, thiết bị:

  • SGK, SGV, Tư liệu Ngữ Văn 11, thiết kế bài học.
  • Máy tính, máy chiếu, loa…

– PPDH: Phát vấn, thuyết trình, nêu vấn đề, thảo luận nhóm, trò chơi

  1. Học sinh: Sách giáo khoa, bài soạn.

B. NỘI DUNG BÀI HỌC (giáo án hầu trời)
Hầu trời

C. MỤC TIÊU BÀI HỌC
1.Kiến thức
– Cảm nhận được tâm hồn lãng mạn độc đáo của thi sĩ Tản Đà và những dấu hiệu đổi mới theo hướng hiện đại của thơ ca Việt Nam vào đầu những năm 20 của thế kỉ XX.

– Thấy được giá trị nghệ thuật đặc sắc của thơ Tản Đà .

  1. Kĩ năng

Đọc – hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.

  1. Thái độ: trân trọng hồn thơ lãng mạn, khao khát khẳng định mình của Tản Đà .
  2. Những năng lực cụ thể học sinh cần phát triển:

– Năng lực thu thập thông tin liên quan đến thơ Tản Đà

– Năng lực đọc – hiểu các tác phẩm thơ Tản Đà

– Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về thơ Tản Đà

– Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ.

– Năng lực tạo lập văn bản nghị luận.

D. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC BÀI HỌC (giáo án hầu trời)

1. KHỞI ĐỘNG ( 5 phút)

Hoạt động của Thầy và tròChuẩn kiến thức kĩ năng  cần đạt, năng lực cần phát triển
– GV giao nhiệm vụ:
+Trình chiếu tranh ảnh, cho hs xem tranh ảnh (CNTT)
+Chuẩn bị bảng lắp ghép
* HS: + Nhìn hình đoán tác giả Tản Đà
+ Lắp ghép tác phẩm với tác giả
+ Đọc, ngâm thơ liên quan đến tác giả
–   HS thực hiện nhiệm vụ:
–  HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ: 
Từ đó, giáo viên giới thiệu Vào bài: Ớ THCS, chúng ta đã được làm quen với Tản Đà khi ông Muốn làm thằng Cuội để tựa vai trông xuống thế gian cười, khi ông chán trần gian và mơ giấc mơ thoát li lên thượng giới trong bài thơ thất ngôn bát cú; một lần nữa chúng ta lại nghe nhà thơ kể chuyên một đêm mơ lên Hầu Trời vừa lạ kì vừa dí dỏm.          Trong “Thi nhân Việt Nam” – một cuốn sách được coi là bảo tàng của Thơ mới, Tản Đà được cung kính đặt lên hàng đầu. Tản Đà chưa phải là một nhà thơ mới nhưng những gì thi nhân để lại cho thơ ca thì Hoài Thanh đã coi ông là “con người của  hai thế kỉ”, “người đã tạo nên những bản đàn cho một cuộc đại nhạc hội đang sắp sửa”. Thơ Tản Đà mang những dấu hiệu đổi mới cả về nội dung tư tưởng lẫn nghệ thuật, đặc biệt ta nhận thấy rất rõ cái tôi với những điệu tính cảm xúc mới.“Hầu trơi” là bài thơ dài tiêu biểu cho những đặc điểm thơ Tản Đà.
– Nhận thức được nhiệm vụ  cần giải quyết của bài học.   – Tập trung cao và hợp tác tốt để giải quyết  nhiệm vụ.                     – Có thái độ tích cực, hứng thú.

2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC (giáo án hầu trời)

Hoạt động của GV – HSKiến thức cần đạt
* Thao tác 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm
Bước 1: GV giao nhiệm vụ
– GV tổ chức cho HS nhớ lại và trình bày những nét cơ bản về tác giả Tản Đà
– Gọi 1 HS đọc phần Tiểu dẫn.  
*GV Tích hợp kiến thức Địa lí, Lịch sử Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX, hướng dẫn học sinh tìm hiểu quê hương nhà thơ và hoàn cảnh ra đời bài thơ của Tản Đà
Họ và tên thật của Tản Đà? Giải thích ý nghĩa bút danh Tản Đà. Vì sao nói Tản Đà là người của hai thế kỉ, người dạo khúc nhạc mở đầu cho cuộc hoà nhạc tân kì đang sắp sửa (Hoài Thanh)? GV: Em hãy nêu vài nét về tác phẩm?Thể thơ và bố cục?    
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ
Bước 3: HS báo cáo kết quả thực hiện         
HS Tái hiện kiến thức và trình bày.
– Tên thật: Nguyễn Khắc Hiếu
– Là nhà Nho tinh thông chữ Hán nhưng lại  sáng  tác văn thơ bằng chữ quốc ngữ.
– Sử dụng các thể loại truyền thống: thơ lục bát, hát nói ca trù, thơ Đường luật với cảm hứng mới mẻ.  
-Cái “tôi” lãng mạn bay bổng vừa phóng khoáng vừa cảm thương vừa tìm về ngọn nguồn dân tộc vừa có sáng tạo tài hoa độc đáo. Thơ văn ông là cái gạch nối giữa hai thời đại văn học: trung đại và hiện đại.
– In trong tập “Còn chơi” xuất bản lần đầu năm 1921, cùng với các bài thơ nổi tiếng khác: Thề non nước, hỏi gió, cảm thu, tiễn thu
* HS phát biểu về thể thơ, nhận xét bố cục.
− Thể thơ: Thất ngôn trường thiên: 4 câu/7 tiếng/khổ, kéo dài không hạn định; vần nhịp tương đối tự do, phóng khoáng. Có khổ vần bằng, có khổ vần trắc, ví dụ khổ 7 − 8; có khổ 6 câu, 10 câu…
-Bố cục (theo thời gian và diễn biến sự việc): (1) Khổ thơ đầu: Nhớ lại cảm xúc đêm qua − đêm được lên tiên ; (2) Sáu khổ tiếp (in chữ nhỏ): Kể chuyện theo hai cô tiên lên Thiên môn gặp Trời; (3) 12 khổ tiếp theo: Kể chuyện Tản Đà đọc thơ văn cho Trời và chư tiên nghe; cảm xúc của Trời và chư tiên khi nghe văn thơ của Tản Đà và những lời hỏi thăm của Trời, những lời bộc bạch của thi nhân; (4) Còn lại (chữ nhỏ): Cảnh và cảm xúc trên đ−ờng về hạ giới; tỉnh giấc và lại muốn đêm nào cũng được mơ lên Hầu Trời. 
Bước 4: GV nhận xét, chốt kiến thức
I. Tìm hiểu chung
1. Tản Đà (1889- 1939)
– “Con người của 2 thế kỉ” cả về học vấn, lối sống và sự nghiệp văn chương.
– Thơ văn TĐ có thể xem như cái gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại                          
2. Bài thơ “Hầu trời
– In trong tập “Còn chơi”, xuất bản lần đầu năm 1921.
– Cảnh trời-> mô típ nghệ thuật có tính hệ thống trong thơ TĐ. Bài thơ Hầu trời là một khoảnh khắc trong chuỗi cảm hứng lãng mạn đó.
– Bài thơ cấu tứ như một câu chuyện. – Thể thơ:
– Bố cục
Thao tác 1 : Hướng dẫn HS đọc văn bản
Thao tác 2: Tìm hiểu văn bản
Bước 1: GV giao nhiệm vụ
– GV: Đặt câu hỏi cách mở đầu câu chuyện của tác giả có điều gì đặc biệt và điều đó thể hiện thái độ của tác giả như thế nào?
– GV: Đặt câu hỏi: Tác giả kể câu chuyện đó như thế nào? Xác định điệp từ và nêu hiệu quả nghệ thuật điệp từ đó?
– GV: Đặt câu hỏi câu chuyện đó được kể theo dòng, mạch cảm xúc như thế nào? 
– Nghe tác giả đọc thơ, Trời và các chư tiên có biểu hiện gì?
– Qua đoạn thơ, em cảm nhận được gì về cá tính của nhà thơ và niềm khao khát chân thành của thi sĩ?
* 1-2 HS đọc, cả lớp theo dõi.
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ
– HS: Suy ghĩ và trả lời.
Cách vào đề của bài thơ: Gợi ra một mối nghi vấn, gợi trí tò mò của người đọc. Cảm giác đó làm cho câu chuyện mà tác giả sắp kể trở nên có sức hấp dẫn đặc biệt -> Cách vào đề độc đao, có duyên
– Điệp từ thật được sử dụng 4 lần trong câu 3, 4.  
– HS: Suy nghĩ và trả lời.  
+Thi sĩ rất cao hứng và có phần tự đắc: “đương cơn đắc ý”, đọc “ran cung mây”, tự khen mình “Văn đã giàu thay lại lắm lối”
+ Trời đánh giá cao và không tiếc lời tán dương:Văn thật tuyệt, Nhời văn chuốt đẹp như sao băng, khí văn hùng mạnh như mây chuyển, êm như gió thoảng, tinh như sương….
– Chư tiên nghe thơ cũng rất xúc động, tán thưởng và hâm mộ.
– Giọng thơ hào sảng, lai láng tràn trề -> TĐ rất ý thức về tài năng của mình. TĐ còn rất táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ bản ngã của mình, thâm chí còn rất “ngông” khi tìm đến tận trời để khẳng định mình. Đó là niềm khao khát chân thành của thi sĩ không bị kiềm chế, cương toả đã biểu hiện một cách thoải mái, phóng khoáng. Giữa chốn hạ giới mà văn chương “rẻ như bèo”…Tản Đà không tìm được tri âm tri kỉ đành lên tận cõi tiên mới thoả nguyện.
Bước 3: HS báo cáo kết quả thực hiện
Bước 4: GV nhận xét, chốt kiến thức
Thao tác 2: Tổ chức cho HS thảo luận nhóm:
Bước 1: GV giao nhiệm vụ
Nhóm 1: Khi trời sai đọc thơ, thì tác giả đọc như thế nào?Qua đó thể hiện thái độ của tác giả như thế nào? 
Nhóm 2: Thái độ và tình cảm của người nghe (Trời và chư tiên) khi nghe thơ văn của Tản Đà như thế nào?  
Nhóm 3: Quan niệm của tác giả về nghề văn như thế nào?
Nhóm 4: Cái tôi cá nhân biểu hiện trong bài thơ như thế nào?
– GV: Đặt câu hỏi khi đọc xong thơ văn, thì trên đường về, tác giả thể hiện thái độ như thế nào? 
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ
Bước 3: HS báo cáo kết quả thực hiện  
Nhóm 1 trình bày kết quả thảo luận:
– Thi sĩ đọc rất nhiệt tình, cao hứng.
-Thi sĩ đọc rất nhiệt tình, cao hứng, có phần tự hào tự đắc vì văn thơ của chính mình, đọc thơ say sưa.
Nhóm 2 trình bày kết quả thảo luận:
– Nở dạ: mở mang nhận thức được nhiều cái hay.
– Lè lưỡi: văn hay làm người nghe đến bất ngờ! “Chau đôi mày” văn hay làm người nghe phải suy nghĩ tưởng tượng. “Lắng tai đứng” đứng ngây ra để nghe. Tác giả viết tiếp hai câu thơ:  “Chư tiên ao ước tranh nhau dặn Anh gánh lên đây bán chợ trời”
– Những phản ứng về mặt tâm lí của trời và các vị chư tiên đan xen vào nhau làm cho cảnh đọc thơ diễn ra thật sôi nổi, hào hứng, linh hoạt…
-Người đọc thơ hay mà tâm lí người nghe thơ cũng  thấy hay! khiến người đọc bài thơ này cũng như bị cuốn hút vào câu chuyện đọc thơ ấy, cũng cảm thấy “đắc ý” “sướng lạ lùng”! 
Nhóm 3 trình bày kết quả thảo luận:
-Văn chương là một nghề, nghề kiếm sống.
– Khát vọng ý thức sáng tạo, trong nghề văn  
Nhóm 4 trình bày kết quả thảo luận: “Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn, Quê ở Á Châu về địa cầu Sông Đà núi Tản nước Nam Việt” So với các danh sĩ khác: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương…Tản Đà giới thiệu về mình, với nét riêng:
+ Tách tên, họ.
+ Nói rõ quê quán, châu lục, hành tinh. Nói rõ để trời hiểu Nguyễn Khắc Hiếu (ý cái tôi cá nhân) và thể hiện lòng tự tôn , tự hào về dân tộc mình “sông Đà núi Tản nước Nam Việt” …
– HS: Suy nghĩ và trả lời.
– HS: Suy nghĩ trao đổi và trả lời.  
*Lối kể dân giã, giọng điệu khôi hài
* Cách dùng từ có nhiều thú vị:
* Nhân vật trữ tình bộc lộ ý thức cá nhân, tạo nên cái “ngông” riêng của Tản Đà:
Cảm hứng lãng mạn và hiện thực đan xen nhau, trong bài thơ. (hiện thực: đoạn nhà thơ kể về cuộc sống của chính mình), khẳng định vị trí thơ Tản Đà là“gạch nối của hai thời đại thi ca” 
Bước 4: GV nhận xét, chốt kiến thức
II/ Đọc – hiểu văn bản:
1. Khổ thơ đầu : Nhớ lại cảm xúc đêm qua – đêm được lên tiên
– Cách mở đầu câu chuyện rất riêng và đầy sáng tạo. Chuyện kể về một giấc mơ nhưng nhà thơ lại cố ý nhấn mạnh rằng đây không phải là mơ mà là thật, sự thật tác giả đã trải qua
– Điệp từ thật được sử dụng 4 lần trong câu 3, 4 : Thật hồn, thật phách, thật thân thể, thật được lên tiên…
2. Đoạn 2 : Đọc thơ hầu trời
– Trăng sáng, canh ba (rất khuya)
– Nhà thơ không ngủ được, thức bên ngọn đèn xanh, vắt chân chữ ngũ…Tâm trạng buồn, ngồi dậy đun nước, ngâm ngợi thơ văn, ngắm trăng trên sân nhà
– Hai cô tiên xuất hiện, cùng cười, nói: trời đang mắng vì người đọc thơ mất giấc ngủ của trời, trời sai lên đọc thơ cho trời nghe!
-> Cách kể tự nhiên, nhân vật trữ tình như giãi bày, kể lại một câu chuyện có thật!
– Theo lời kể của nhân vật trữ tình, không gian, cảnh tiên như hiện ra: +“Đường mây”  rộng mở
+“Cửa son đỏ chói”  -> tạo vẻ rực rỡ
+“Thiên môn đế khuyết”  -> nơi ở của vua, vẻ sang trọng. “Ghế bành như tuyết vân như mây” -> tạo vẻ quý phái. Không gian bao la, sang trọng, quý phái  của trời, nhưng không phải ai cũng được lên đọc thơ cho trời nghe. Cách miêu tả làm nổi bật cái ngông của nhân vật trữ tình.
– Cảnh thi nhân lạy trời, được tiên nữ lôi dậy, dắt lên ngồi ghế bành như tuyết như mây…
->Cách kể, tả cụ thể, cảnh nhà Trời, Thiên đường mà không quá xa xôi, cách biệt với trần thế. Câu chuyện diễn biến tự nhiên hợp lý.  
HẾT TIẾT 1  
3. Đoạn 3: Cuộc đời người nghệ sĩ tài hoa trong xã hội thực dân nửa phong kiến. 
Trời pha nước để nhấp giọng rồi mới truyền đọc. Thi sĩ đọc rất nhiệt tình, cao hứng. Thi sĩ đọc rất nhiệt tình, cao hứng, có phần tự hào tự đắc vì văn thơ của chính mình, đọc thơ say sưa “đắc ý đọc đã thích” (có cảm hứng, càng đọc càng hay) “Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi” (hài hước), “văn dài hơi tốt ran cung mây”. “ Trời lại phê cho văn thật tuyệt Văn trần được thế chắc có ít”
+ Thái độ của tác giả qua việc đọc thơ hầu trời:
– Thể hiện quan niệm về tài năng (tài thơ) Nhà thơ nói được nhiều tài năng của mình một cách tự nhiên, qua câu chuyện tưởng tượng Hầu trời đọc thơ:
– “Văn dài hơi tốt ran cung mây / Trời nghe, trời cũng lấy làm hay” – “Văn đã giàu thay, lại lắm lối” – “Trời lại phê cho văn thật tuyệt
Các nhà Nho tài tử thường khoe tài (thị tài), tài năng mà họ nói đến là tài Kinh bang tế thế!
+Tản Đà khoe tài thơ, nói thẳng ra “hay” “thật tuyệt” mà lại nói với trời.
+Tự khen mình (vì xưa nay ai thấy trời nói đâu?!), tự phô diễn tài năng của mình.
+ Trời khen: là sự khẳng định có sức nặng, không thể phủ định tài năng của tác giả – lối khẳng định rất ngông của văn sĩ hạ giới, vị trích tiên – nhà thơ.
*Bài thơ thể hiện ý thức cá nhân của Tản Đà về cái tôi tài năng của mình!
* Quan niệm của Tản Đà về nghề văn:
-Văn chương là một nghề, nghề kiếm sống. Có kẻ bán, người mua, có chuyện thuê, mượn; đắt rẻ… vốn, lãi… Quả là bao nhiêu chuyện hành nghề văn chương! một quan niệm mới mẻ lúc bấy giờ.
– Khát vọng ý thức sáng tạo, trong nghề văn: Người viết văn phải có nhận thức phong phú, phải viết được nhiều thể loại: thơ, truyện, văn, triết lí, dịch thuật (đa dạng về thể loại).        
Cái tôi cá nhân biểu hiện trong bài thơ
+ Hư cấu chuyện hầu trời để giãi bày cảm xúc cá phóng khoáng của con người cá nhân.
+ Nhà thơ nói được nhiều về tài năng của mình.
+ Thể hiện quan niệm về nghề văn
+ Cách tấu trình với trời về nguồn gốc của mình.       
4.Đoạn 4: Cảnh và cảm xúc trên đường về hạ giới, tỉnh giấc lại và muốn đêm nào cũng được lên hầu trời   
Hướng dẫn HS tổng kết bài học      III. Tổng kết
1. Nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do; giọng điệu thoải mái, tự nhiên; ngôn ngữ giản dị, sống động,…
2. Ý nghĩa văn bản: Bài thơ thể hiện ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ và quan niệm mới về nghề văn của Tản Đà.

🌻 Ngoài Soạn Bài Hầu Trời 🌻 Gợi ý Bài Thơ Sóng Xuân Quỳnh 

Nội Dung Bài Hầu Trời

Chia sẻ đến bạn đọc Nội Dung Soạn Bài Hầu Trời, những cái ” ngông” trong thơ Tản Đà

Nội dung bài học

  • Nội dung:
    • Cái tôi cá nhân của nhà thơ được bộc lộ, thể hiện rõ nét trong bài thơ. Một cái tôi phóng túng nhưng cũng tự ý thức được tài năng và giá trị của bản thân.
    • Mong muốn được khẳng định mình.
  • Nghệ thuật:
    • Thể thơ không bị ràng buộc bởi bất cứ khuôn mẫu nào, nhà thơ được tự do bộc lộ cảm xúc.
    • Ngôn từ giản dị nhưng tinh tế, ước lệ.
    • Lối dẫn chuyện hài hước, thu hút người đọc.

🌻 Ngoài Soạn Bài Hầu Trời 🌻 Tham khảo Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Hay

Tóm Tắt Bài Hầu Trời

Đọc thêm Tóm Tắt Soạn Bài Hầu Trời ngắn gọn, đừng bỏ lỡ nhé!

❣️ Tóm tắt bài thơ Hầu trời

  • Thi nhân đêm khuya buồn không ngủ được bằng đun nước uống rồi nằm ngâm thơ, ngắm trăng.
  • Giọng thơ hay đến nỗi vang vọng tới trời cao, Trời sai Hai tiên nữ xuống mời thi sĩ lên hầu chuyện.
  • Thi sĩ rất thích thú khi được lên tiên chơi và được thể hiện tài năng “đọc hết văn vần lẫn văn xuôi”, cả Trời và các chư tiên nghe xong thích thú, khen thưởng.
  • Trời hỏi thi sĩ họ tên, người phương nào, thi sĩ xưng tên của mình và kể về tình cảnh khốn khó khi theo đuổi nghề văn dưới trần. Trời động viên, an ủi, thi sĩ cảm tạ rồi được đưa về trần. Sau cùng là cuộc chia tay của Trời và chư tiên cùng với thi sĩ.

🌻 Ngoài Soạn Bài Hầu Trời 🌻 Chia sẻ Thơ Vui Về Phái Yếu Của Xuân Quỳnh

Bố Cục Bài Hầu Trời

Tìm hiểu thêm Bố Cục Soạn Bài Hầu Trời có gì đặc biệt không nhé

Bố cục: 4 phần

  • Phần 1 (khổ thơ đầu): Thi nhân nhớ lại cảm xúc đêm qua – đêm được lên tiên.
  • Phần 2 (6 khổ thơ tiếp): Tiếp diễn câu chuyện thi nhân theo 2 cô tiên lên gặp trời.
  • Phần 3 (12 khổ tiếp theo): Thi nhân được đọc thơ văn cho trời và các chư tiên cùng nghe.
  • Phần 4 (còn lại): Cảnh vật và xúc cảm trên đường về hạ giới, mong muốn đêm nào cũng được lên hầu trời.

🌻 Ngoài Soạn Bài Hầu Trời 🌻 Xem thêm Thơ Quê Hương Tế Hanh 

Soạn Bài Hầu Trời Siêu Ngắn

Soạn Bài Hầu Trời Siêu Ngắn gọn nhất được tất cả bạn đọc quan tâm và chia sẻ

Vài nét về tác giả, tác phẩm

Tác giả

  • Tản Đà (1889 -1939) tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu, quê ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay Ba Vì, Hà Nội). Ông sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời, Hán học đã tàn mà Tây học cũng mới bắt đầu, nên con người ông, kể cả học vấn, lối sống và sự nghiệp văn chương đều mang dấu ấn “người của hai thế kỉ” (Hoài Thanh).
  • Vào những năm 20 của thế kỉ XX, tên tuổi Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng trên thi đàn. Các tác phẩm chính của Tản Đà: Khối tình con I, II (thơ – 1916, 1918), Giấc mộng con I, II (truyện phiêu lưu viễn tưởng – 1916, 1932), Khối tình bản chính, Khối tình bản phụ (luận thuyết – 1918), Còn chơi (thơ và văn xuôi – 1921, Thơ Tản Đà (1925),Giấc mộng lớn (tự truyện – 1928),…
  • Phong cách thơ: Lãng mạn, bay bổng, vừa phóng khoáng, vừa ngông nghênh, vừa cảm thương, vừa ưu ái,..Thơ văn ông có thể xem như là một gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại.

Tác phẩm: bài Hầu trời in trong tập Còn chơi, xuất bản lần đầu năm 1921.

Bố cục: 4 phần

  • Đoạn 1 (Câu 1- 20): Lí do, hoàn cảnh được lên đọc thơ hầu Trời
  • Đoạn 2 (Câu 21 – 68):Kể về buổi đọc thơ cho Trời và chư tiên
  • Đoạn 3 (Câu 68 -98): Tâm sự của nhà thơ với Trời về hoàn cảnh khốn khó của mình
  • Đoạn 4 (Còn lại): Phút tiễn biệt Trời, về lại thực tại

🌻 Ngoài Soạn Bài Hầu Trời 🌻 Chia sẻ Thơ Thế Lữ  Hay

Soạn Bài Hầu Trời Ngữ Văn 11 Tập 2

Gợi ý đến tất cả các bạn học sinh trung học về Soạn Bài Hầu Trời Ngữ Văn 11 Tập 2 ấn tượng

❣️ Gợi ý soạn bài Hầu Trời các câu hỏi tại  Trang 17 SGK ngữ văn 11 tập 2

Câu 1

Khổ thơ đầu mở ra giấc mơ của chính tác giả, câu thơ đầu tiên nghe như tác giả đặt vấn đề có vẻ khách quan: câu chuyện tôi sắp kể “chẳng biết có hay không”
Cách “nhập đề” lạ, một sự “hư cấu” nghệ thuật.
Nó là cớ để nhân vật bộc lộ được cảm xúc trong “cõi mộng”
Cách vào đề gợi được sự thích thú, tò mò, dường như rất có duyên đối với người đọc

Câu 2

Thi nhân đọc thơ trong sự hào hứng, có phần tự đắc:
Đương cơn tự đắc đọc đã thích
Trời nghe, trời cũng lấy làm hay
Chửa biết con in ra mấy mươi

  • Giọng của thi nhân truyền cảm, hóm hỉnh, sảng khoái, cuốn hút
    Thái độ của chư tiên khi nghe Tản Đà đọc thơ:
  • Trời khen nhiệt thành: văn thật tuyệt, chắc có ít, đẹp như sao băng…
  • Chư tiên xúc động, tán thưởng và hâm mộ: Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
    • Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày
    • Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai nghe
      → Tản Đà là người “ngông” khi lên lên Trời khẳng định tài năng thơ văn của mình.
  • Nhà thơ ý thức về tài năng, thơ văn của mình, dám thể hiện cái tài đó
  • Đó là phản ứng của người nghệ sĩ tài hoa, có cốt cách, tâm hồn không muốn chấp nhận sự bằng phẳng, sự đơn điệu, nên thường tự đề cao, phóng đại cá tính của mình
  • Giọng thơ của Tản Đà cũng thể hiện niềm khát khao chân thành trong tâm hồn thi sĩ. Giữa chốn hạ giới rẻ như bèo, thân phận bị rẻ rúng, khinh bỉ, ông không tìm được tri kỉ
  • Giọng kể của tác giả: đa dạng, hóm hỉnh có phần ngôn nghênh, tự đắc

Khác với thơ ca trung đại có tính phi ngã thì trong thơ của Tản Đà có tính phi ngã

Câu 3

Cảm hứng lãng mạn có một đoạn hiện thực, đó là đoạn:
Bẩm trời cảnh con thực nghèo khó

Biết làm có được mà dám theo

  • Bẩm với trời về cảnh nghèo khó, vất vả của nghề viết văn dưới hạ giới
  • Ý nghĩa đoạn thơ:
    • Đoạn thơ là bức tranh hiện thực về chính cuộc đời của tác giả, nhiều nhà văn khác
    • Tiếp sau đoạn thơ là tâm trạng của tác giả, khiến người đọc xót xa, ngậm ngùi trước cuộc sống cơ cực của lớp nhà văn trong chế độ cũ

Câu 4

Những cái mới và hay về nghệ thuật của bài thơ

  • Thể thơ: thể thất ngôn trường thiên tự do, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu nào
  • Ngôn từ: hóm hỉnh, hài hước, có duyên và lôi cuốn
  • Cách biểu hiện cảm xúc: tự do, phóng khoáng

Tác giả miêu tả Trời và Chư tiên không có chút đạo mạo, ngược lại các đấng siêu nhiên đó cũng có cách bộc lộ cảm xúc ngộ nghĩnh, bình dân ( lè lưỡi, chau mày, tranh nhau dặn…)

🌻 Ngoài Soạn Bài Hầu Trời 🌻 Xem thêm Bài Thơ Nhớ Rừng Hay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *