Cảm Nhận Bài Thơ Khi Con Tu Hú ❤️️ 12 Bài Văn Hay Nhất

Cảm Nhận Bài Thơ Khi Con Tu Hú ❤️️ 12 Bài Văn Hay Nhất ✅ Giới Thiệu Tuyển Tập Bài Viết Đặc Sắc Cảm Thụ Tác Phẩm Nổi Tiếng Của Nhà Thơ Tố Hữu.

Dàn Ý Cảm Nhận Bài Thơ Khi Con Tu Hú Của Tố Hữu

Tham khảo mẫu dàn ý cảm nhận bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu dưới đây để nắm được những luận điểm trọng tâm khi làm bài.

I. Mở bài cảm nhận bài thơ Khi con tu hú:

  • Giới thiệu về tác giả Tố Hữu và sự nghiệp của ông
  • Bài thơ Khi con tu hú được sáng tác năm 1939 khi Tố Hữu bị giam trong nhà lao Thừa Phủ.
  • Bài thơ là khúc ca về tình yêu cuộc sống và khao khát được tự do mãnh liệt của người tù Cách mạng trẻ tuổi.
  • Nhan đề được mang tên một loài chim: chim tu hú. Đây là loài chim đặc trưng của mùa hè, thường cất tiếng kêu trong ngày hè.

II. Thân bài cảm nhận bài thơ Khi con tu hú:

a. Sáu câu thơ đầu: Bức tranh ngày hè sôi động, vui tươi:

-Bức tranh ngày hè với những thanh âm thật rộn rã:

  • Tiếng chim tu hú: gọi nhau “gọi bầy”
  • Tiếng ve râm ra trong vườn cây
  • Tiếng sáo diều vi vu trên không
  • Những âm thanh thật sống động, tươi vui báo hiệu ngày hè đang tới (một bản nhạc rộn ràng âm sắc).

-Màu sắc trong khung cảnh cũng thật tươi tắn và rực rỡ:

  • Lúa chiêm đang vào vụ chín vàng rực
  • Những hạt bắp vàng ươm
  • Cả sân nhà đều bao trùm bởi màu nắng hồng “đào”
  • Bầu trời trong xanh
  • Chúng đều là những gam màu thật tươi tắn, đẹp đẽ.
  • Hình ảnh cũng mang đậm sắc thái của ngày hè sôi động:
  • Cánh đồng lúa chiêm vàng chín
  • Vườn trái cây đang “ngọt dần”:
  • Đó là sự vận động của thời gian, đầy tươi vui, ngọt ngào và sức sống.
  • Không gian trong bức tranh:
  • Được mở rộng, cao, thoáng đạt với điểm nhấn là hình ảnh của “đôi con diều sáo lộn nhào từng không”
  • Cảnh ngày hè được dựng lên thật sống động với đầy âm thanh, sắc màu, không gian, hình ảnh rực rỡ. Tất cả chúng đều chân thực, hết sức đẹp đẽ, tươi mới.
  • Thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết của nhà thơ và cái nhìn tinh tế khi nhận ra sự chuyển mình của thời gian.

b. Bốn câu thơ cuối là tâm trạng, cảm xúc của người tù Cách mạng

-Khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp nhưng chỉ là trong trí tưởng tượng của nhà thơ khi đang trong nhà tù Thừa Phủ

-Cảm xúc ngột ngạt, khao khát được tự do, đến với thiên nhiên, bầu trời:

  • Thể hiện qua cách nhà thơ sử dụng 1 loạt những động từ mạnh:”đập tan”, “chết uất” và các từ ngữ cảm thán “ôi, thôi, làm sao”
  • Nhịp thơ ngắt quãng nhanh 6/2, 3/3
  • Truyền đến cho người đọc cảm giác ngột ngạt tới cao độ của nhà thơ và khát khao cháy bỏng được trở về với tự do, với đồng đội.

-Bài thơ mở đầu bằng tiếng tu hú, kết thúc cũng bằng tiếng tu hú:

  • Đầu bài thơ: Tiếng chim là tiếng gọi của tự do, của bầu trời bao la, đầy sức sống
  • Kết bài thơ: Tiếng chim lại khiến người tù cảm thấy đau khổ, bực bội hơn bao giờ hết vì bị giam cầm trong bốn bức tường nhà giam.
  • Cả hai tiếng chim đều gợi lên sự tự do, biểu tượng cho sự sống, khiến người tù phải bồn chốn, mong mỏi được thoát ra ngoài chốn lao tù để hòa mình vào tự do.
  • Tiếng chim còn là lời thúc giục hối hả về sự tự do.

c. Nghệ thuật:

  • Thể thơ lục bát dễ hiểu, dễ nghe, gần gũi, quen thuộc với người dân ta.
  • Nhịp thơ được thể hiện linh hoạt, biến hóa theo xúc cảm của nhà thơ
  • Ngôn từ dễ hiểu, giản dị, hình ảnh thơ mộc mạc, gần gũi, lời thơ da diết, thể hiện tình yêu cuộc sống và khát vọng tự do cháy bỏng của nhà thơ.

d. Kết luận chung:

  • Bức tranh màu hè được nhà thơ dựng lên thật đẹp đẽ, tươi vui, sống động bằng tình yêu cuộc sống tha thiết.
  • Được thể hiện rất sâu sắc qua thể thơ lục bát uyển chuyển, giọng điệu chân thành, nhất quán
  • Bài thơ là tình yêu cuộc sống, khát vọng tự do đến cháy bỏng của người tù Cách mạng trong cảnh tù đày.

III. Kết bài cảm nhận bài thơ Khi con tu hú:

  • Khẳng định lại ý nghĩa của bài thơ.
  • Nêu cảm nhận của bản thân.

Đừng bỏ qua 🔥 Bài Thơ Khi Con Tu Hú 🔥 Trọn Bộ Nội Dung Cảm Nhận Hay

Sơ Đồ Dàn Ý Cảm Nhận Bài Khi Con Tu Hú

Mẫu sơ đồ dàn ý cảm nhận bài Khi con tu hú dưới đây sẽ giúp các em học sinh hệ thống hoá kiến thức và ôn tập hiệu quả.

Sơ Đồ Dàn Ý Cảm Nhận Bài Khi Con Tu Hú
Sơ Đồ Dàn Ý Cảm Nhận Bài Khi Con Tu Hú

Chia sẻ thêm cùng bạn 🍀 Sơ Đồ Tư Duy Khi Con Tu Hú Tố Hữu 🍀 11 Mẫu Vẽ Tóm Tắt

Đoạn Văn Cảm Nhận Bài Thơ Khi Con Tu Hú

Tham khảo đoạn văn cảm nhận bài thơ Khi con tu hú dưới đây để nắm được cách triển khai ý văn.

Tố Hữu viết bài thơ “Khi con tu hú” vào tháng 7 năm 1939 sau gần 100 ngày “ác mộng” bị cùm trói trong nhà lao Thừa Thiên. Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, tâm trạng nghệ thuật, đồng hiện qua 10 câu thơ lục bát da diết và ám ảnh. Cái mùa hè hơn 70 năm về trước ấy thật không bao giờ có thể quên!

Tiếng chim tu hú vọng qua song sắt nhà tù hay tiếng chim trong nỗi nhớ, trong hoài niệm? Chim thì “gọi bầy”. Lúa chiêm thì “đương chín”. Trái cây thì “ngọt dần”. Âm thanh ấy, hương vị ấy thể hiện nỗi nhớ đồng quê, nhớ làng xóm thân yêu. Chữ “đương chín” và “ngọt dần” gợi tả thời gian đang lặng lẽ trôi qua. Một giọng thơ bồi hồi tha thiết: “Nghe chim như nhắc tấm lồng thần hôn” (Truyện Kiều):

“Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần”

Giữa chốn ngục tù “lòng sôi rạo rực”, người chiến sĩ trẻ nhớ “tiếng ve ngân”, nhớ màu “vàng” của bắp, nhớ màu “đào” của nắng. Cánh sắc đồng quê trong hoài niệm trào lên trong tâm hồn biết bao bình dị, thân thiết, yêu thương:

“Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt, đầy sân nắng đào”.

Có khao khát sống mới có nỗi nhớ ấy. Vần thơ đầy màu sắc, ánh sáng và âm thanh. Tiếng ve chứa đầy tâm trạng. Ve không kêu mà là “ve ngân”. Sáu trăm năm về trước, Nguyễn Trãi lấy tiếng ve để nói về cảnh tình mùa hè:

“Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
(Quốc âm thi tập)

Sau này, trong bài “Việt Bắc”, Tố Hữu lại viết:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng”.

Sau tiếng ve là màu “vàng” của bắp, là màu “đào” của nắng hiện lên. Chữ “ngân” tả tiếng ve “sôi” lên và ngân dài trong vườn quê. Chữ “đầy” gợi nắng đẹp, nắng chan hòa, nắng đầy sân, nắng rực rỡ. Nỗi nhớ trở nên bồi hồi: nhớ bầu trời xanh, nhớ con diều sáo “lộn nhào” giữa cái mênh mông “cao rộng” của từng không. Hình ảnh con diều “lộn nhào từng không” mang ý nghĩa biểu tượng cho sự tung hoành và khát vọng tự do:.

“Trời xanh ccìng rộng càng cao,
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”.

Sáu câu thơ đầu làm hiện lên bức tranh đồng quê thân yêu. Thơ nên nhạc, nên họa. Ngôn từ trong sáng, tinh luyện. Mỗi chữ được dùng như được chắt lọc qua hồn quê và hồn thơ đậm đà: “đương chín”, “ngọt dần”, “dậy tiếng ve ngân”, “đầy sân nắng đào”, “xanh, rộng, cao”, “lộn nhào”…

Trẻ trung và yêu đời, say mê và khao khát sống, khao khát tự do. Nhà thơ đang bị đày đọa trong ngục tối, nhưng ” tinh thần ở ngoài lao” mới có cảm xúc, cảm hứng ấy.

Giọng thơ từ tha thiết nhớ chuyển thành uất hận sục sôi:

“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chán muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu”.

Mùa hè đã đến, mùa hè đang qua. Bao âm thanh đã “dậy bên lòng”, thôi thúc, gịuc giã: “muốn đạp tan phòng” xà lim chật chội. Không cam chịu cảnh tù đày! Lòng uất hận dâng trào muốn phá tung chốn ngục tù chật chội và ngột ngạt. Câu thơ “Ngột làm sao / chết uất thôi” với cách ngắt nhịp 3/3, cảm xúc như nén xuống bỗng trào lên thể hiện một ý chí bất khuất. Quyết sống vì tự do! Quyết chết vì tự do! Mở đầu bài thơ là tiếng chim tu hú “gọi bầy”, khép lại bài thơ là tiếng chim tu hú ”ngoài trời cứ kêu”. Tiếng chim vừa gợi nhớ gợi thương, vừa giục giã lên đường chiến đấu.

“Khi con tu hú” là khúc ca tâm tình, là tiếng gọi đàn, hướng về đồng quê và bầu trời tự do với tất cả tình yêu và niềm khao khát cháy bỏng. Bài thơ ghi lại một nét đẹp bức chân dung tinh thần tự họa của người thanh niên cộng sản Tố Hữu thuở ấy. Để ta ngưỡng mộ và tin yêu.

Mời bạn tiếp tục đón đọc 🌳 Phân Tích Bài Thơ Khi Con Tu Hú 🌳 Những Bài Cảm Nhận Đặc Sắc

Bài Văn Cảm Nhận Tác Phẩm Khi Con Tu Hú – Mẫu 1

Bài văn cảm nhận tác phẩm Khi con tu hú dưới đây sẽ giúp các em học sinh nắm được những định hướng làm bài cụ thể.

Tố Hữu sinh năm 1920, là nhà thơ lớn của văn học cách mạng Việt Nam. Cuộc đời cách mạng và cuộc đời thơ của ông có sự thống nhất, hài hòa. Hồn thơ Tố Hữu trong trẻo, ngọt ngào, da diết mà sâu lắng với hình ảnh thơ gần gũi, bình dị mà giàu chất tạo hình, khơi gợi bao cảm xúc lắng đọng trong lòng người. “Khi con tú hú” là một thi phẩm thành công tiêu biểu cho phong cách thơ của ông.

Bài thơ được in trong phần Xiềng xích thuộc tập thơ Từ ấy. Tác phẩm được viết vào tháng 7 năm 1939, khi tác giả đang bị giam cầm tại nhà lao Thừa Phủ thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Bài thơ đã thể hiện lòng yêu cuộc sống và trái tim khát khao về sự tự do cháy bỏng của nhà thơ trong cảnh tù đày.

“Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…”

Những câu thơ lục bát thanh thoát mở đầu bài thơ gợi ra một bức tranh mùa hè xinh đẹp, và căng tràn nhựa sống. Một thế giới rộn ràng với những hình ảnh, âm thanh sống động được mở ra: Đó là hình ảnh của lúa chiêm, của tiếng ve, của hạt bắp, của bầu trời cao rộng với những cánh diều bay lượn hay những trái cây đượm ngọt,…

Âm thanh đặc trưng khi hè đến là tiếng chim tú hú, là tiếng ve ngân vang trên những cành cây trong vườn nhỏ. Tiếng tu hú, tiếng ve gọi hè về khiến khu vườn trở nên tươi vui hẳn, những bản hòa ca, những thanh âm diệu kì của cuộc sống góp vào hè nét sống động, nên thơ.

Hè đến, cảnh vật còn được điểm tô bởi những gam màu rực rỡ, tươi tắn: Đó là sắc vàng của những lúa chiêm đang reo vui rộn rã trên cánh đồng quê “lúa chiêm đang chín”, là sắc vàng đậm của bắp rây “bắp rây vàng hạt”. Đó còn là màu hồng của “nắng đào”, màu xanh lá của cỏ cây và sắc xanh biếc của mây trời “trời xanh”. Tất cả hòa vào không gian cao rộng tạo nên một vẻ đẹp xao xuyến lòng người.

Bằng cảm nhận tinh tế của mình, tác giả gợi mùa hè không chỉ qua hình ảnh, âm thanh, màu sắc mà hè còn được gợi ra bởi những hương vị thanh khiết của tự nhiên. Hương nồng nàn của lúa bắp, hương dịu ngọt của trái cây trong vườn nhà vào độ chín, hương tinh khiết của nắng trời hòa vào bầu không khí trong lành khiến mùa hè càng thêm quyến rũ.

Tác giả sử dụng các phó từ như “đang”, “dần”, “càng”, kết hợp khéo léo với các tính từ “chín”, “ngọt”, “rộng”; những động từ “gọi”, “ngân”, “lộn nhào” cũng được sử dụng vô cùng linh hoạt diễn tả được sự vận động bên trong của cảnh vật. Mùa hè sôi động, dạt dào sức sống, cảnh vật không hề tĩnh tại mà luôn vận động, luôn hướng về sự sống.

Qua bức tranh mùa hè đẹp đẽ, đầy khoáng đạt, tự do và thanh bình ấy, ta cảm nhận được một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống mãnh liệt của tác giả. Trong chốn ngục tù chật hẹp có thể chôn chân người lính trẻ nhưng nào có thể trói buộc tâm hồn trẻ trung, yêu đời kẻ thiết tha với nhân dân, với cuộc đời. Mùa hè tươi vui ấy phải chăng là tiếng gọi của tự do, của cuộc sống bên ngoài, của nỗi khát khao tự do mãnh liệt của một trái tim trẻ tuổi đang bị giam cầm.

Vốn đang say mê với lý tưởng, nhiệt huyết, niềm vui phơi phới đang ngập tràn trong tim, trở về với hiện thực khắc nghiệt, bị bó buộc tự do trong phòng giam chật chội, tù túng, bí bách khiến người lính trẻ không khỏi ngột ngạt, bức bối:

“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!”

Mùa hè đang vẫy gọi, cuộc sống tự do, tươi đẹp bên ngoài đón chờ khiến lòng người không khỏi rạo rực, băn khoăn. Các tính từ, động từ mạnh như “ngột”, “chết uất”, “đạp” được sử dụng kết hợp với các từ cảm thán “ôi”, “thôi” cùng nhịp thơ bất thường 6/2; 3/3 nhấn mạnh cảm ngột ngạt đến cao độ và nỗi khát khao mãnh liệt được bước ra cuộc sống bên ngoài của người tù cách mạng.

Những cảm xúc, tâm trạng phơi phới của tác giả trong những ngày được cống hiến, được say sưa với cuộc đời trước đây dường như bị thay thế bởi nỗi buồn đau đến tột độ khi bị giam cầm trong bốn bức tường lạnh lẽo. Bốn câu thơ khiến ta nhớ đến những lời cùng tâm trạng mà ông từng viết:

“ Cô đơn thay là cảnh thân tù!
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực
Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức
Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!”

Nỗi ngột ngạt bủa vây lấy tâm trí, ôm lấy tâm hồn người chiến sĩ, lời thơ buông theo cảm xúc uất ức, bức bối buông ra trong từng hơi thở, tất cả như muốn biến thành hành động phá tan xiềng xích để chạm lấy tự do “đạp tan phòng”, để vượt thoát ra ngoài. Nơi ấy có nhân dân mình, có đồng đội, đồng chí, nơi ấy có tự do để đôi chân được tiếp tục say sưa với cách mạng.

Âm thanh của tiếng chim tu hú kết thúc bài thơ là một tín hiệu nghệ thuật độc đáo. Nếu tiếng chim tu hú ở đầu bài là tiếng chim gọi hè, sứ giả báo hiệu mùa hè đến, mở ra một khung cảnh mùa hè rộn ràng, đẹp đẽ thì tiếng tu hú cuối bài là tiếng kêu đầy khắc khoải, da diết gợi sự bức bối, thôi thúc khát khao cuộc sống bên ngoài. Đó cũng là tiếng gọi của tự do- một tiếng gọi tha thiết mà đầy quyến rũ.

Bàng thể thơ lục bát giản dị mà nhịp ngàng, uyển chuyển cùng dòng cảm xúc tự nhiên, Tố Hữu đã viết nên một bài thơ đượm cảnh- đượm tình. Cảnh thì đẹp, dạt dào sức sống, tình thì sôi nổi, da diết mà sâu sắc. Một biểu hiện của lòng yêu nước, đẹp đẽ, sáng trong và mãnh liệt được hội tụ trong từng lời thơ, toát ra trong từng nhịp điệu của thi phẩm. Bài thơ đã gieo vào lòng bao thế hệ đọc giả lòng yêu nước thiết tha và tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống trên quê hương mình.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Cảm Nhận Bài Thơ Khi Con Tu Hú Hay Nhất – Mẫu 2

Đón đọc bài văn mẫu cảm nhận bài thơ Khi con tu hú hay nhất được chọn lọc và chia sẻ dưới đây:

Có những bài thơ để ta yêu. Có những bài thơ để ta nhớ. Bài “Khi con tu hú” của Tố Hữu là một trong những bài thơ để ta nhớ – nhớ tình người và nhớ tình đời một thời gian khổ mà oanh liệt.

Bài thơ này, Tố Hữu viết vào tháng 7 – 1939, khi nhà thơ bước sang tuổi 19, ở nhà lao Thừa Thiên, tư thế hiên ngang của người chiến sĩ cách mạng. Bài thơ gồm 10 câu lục bát, chứa đầy tâm trạng. Sáu câu thơ đầu nói lên nỗi nhớ da diết đồng quê. Bốn câu cuối là niềm sục sôi căm hờn uất hận.

Thời kì Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939), Tố Hữu được giác ngộ cách mạng, hoạt động bí mật trong học sinh, thanh niên tại thành phố Huế quê mẹ. Tháng 4 – 1939, nhà thơ bị mật thám Pháp bắt giam. Nhiều bài thơ tràn đầy dũng khí cách mạng được viết sau song sắt nhà tù đế quốc, sau này được tập hợp lại trong phần “Xiềng xích” của ‘Từ ấy”.

Sống trong cảnh lao tù ngột ngạt, người chiến sĩ trẻ lúc nào cũng hướng tâm hồn mình về cuộc sống bên ngoài song sắt nhà tù. Với tâm hồn khao khát tự do và trí tưởng tượng phong phú, nhà thơ lắng nghe mọi âm thanh từ xa vọng đến nơi tối tăm tù ngục.

Tiếng kêu của chim tu hú trên đồng quê nghe bồi hồi, tha thiết. Tiếng chim gọi bầy xa gần vang lên. Tiếng ve ngân lên từ những vườn cây trái đôi bờ sông Hương suốt đêm ngày nghe dắng dỏi. Tiếng sáo diều trên đồng quê gợi nhớ gợi thương một thời cắp sách với bao kỉ niệm đẹp:

“Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…”

Nhớ khúc nhạc đồng quê những âm thanh dân dã bình dị và thân quen ấy vô cùng, bởi lẽ trong cảnh tù đày nhà thơ khao khát một tình quê vơi đầy, nhớ khôn nguôi.

Chân tay bị cùm trói trong bốn bức tường xám lạnh và kín mít, người chiến sĩ vẫn nhìn thấy cảnh sắc quê hương bằng tất cả tấm lòng nhớ quê, yêu quê. Sự tưởng tượng thật phi thường. Trong tâm hồn Tố Hữu lúc bấy giờ, hình ảnh quê hương lần lượt hiện lên như một cuốn phim màu tuyệt đẹp.

Có màu vàng thẫm của lúa chiêm, màu đỏ của trái chín với vị ngọt say người:

“Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần”.

Có màu “vàng” của bắp, màu “đào” của nắng hạ:

“Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào”.

Có màu “xanh” của bầu trời trên đồng quê:

“Trời xanh càng rộng càng cao”

Các tính từ chỉ màu sắc, tính từ chỉ tính chất: “Xanh, vàng, đào, ngọt, rộng, cao”, được phối hợp hài hòa, gợi tả màu sắc và hương vị quê nhà. Những âm thanh nghe thấy, những hình ảnh tưởng tượng thể hiện một tấm lòng gắn bó sâu nặng với quê hương, nỗi nhớ da diết triền miên suốt đêm ngày không bao giờ nguôi.

Nỗi nhớ ấy đã phản ánh khát vọng tự do bùng lên như ngọn lửa cháy bỏng tâm hồn người chiến sĩ cách mạng trong đọa đầy. Trong một bài thơ khác của phần “Xiềng xích” Tố Hữu đã nói lên tâm trạng mình khao khát tự do, luôn luôn hướng tâm hồn mình ra ánh sáng, hướng vẻ cuộc sống bên ngoài:

“Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều,
Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh
Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh
Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về”

Bài thơ “Khi con tu hú” thật đáng nhớ. Bốn câu thơ, đã bộc lộ cảm xúc trực tiếp của nhà thơ. Đầy bực bội và sục sôi! Đầy căm thù, uất hận:

“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi
Ngột làm sao, chết uất thôi”

“Phòng” là phòng giam, là nhà đá, là nơi biệt giam những người con ưu tú của dân tộc. Lòng căm thù được thể hiện bằng ước muốn và hành động quyết liệt: “Mà muốn đạp tan phòng hè ôi !”.”Phòng” ở đây còn tượng trưng cho chế độ thực dân với chính sách cai trị dã man đang đầy đọa nhân dân ta trong xích xiềng nô lệ.

“Đạp tan phòng…” là đạp tan chế độ thực dân Pháp, giành lại độc lập, tự do. Câu cảm thán: “Ngột làm sao! Chết uất thôi !”là tiếng than, là thái độ căm giận sục sôi, quyết không đội trời chung với giặc Pháp. Câu thơ Tố Hữu là sự kế thừa những bài ca yêu nước của ông cha ta những năm đầu thế kỉ XX:

“Nghĩ lắm lúc bầm gan tím ruột
Vạch trời: kêu mà tuốt gươm ra”

Khép lại bài thơ là tiếng kêu của chim tu hú. Âm thanh ấy góp phần đặc tả tâm trạng người chiến sĩ cách mạng. Tiếng chim gọi bầy… tiếng chim báo mùa gặt, gợi nhớ hương vị và cảnh sắc đồng quê. Tiếng chim khắc khoải giục giã căm hờn, nung nấu tinh thần bất khuất đấu tranh.

Có thể nói chất trữ tình tráng ca được diễn đạt một cách đặc sắc để nói tình yêu thuơng và lòng căm giận của nhà thơ trong cảnh tù đày. Cái hay của bài thơ là lấy ngoại cảnh để diễn đạt tâm trạng. Tiếng kêu của chim tu hú như một ám ảnh. Nói rằng bài thơ để ta nhớ là vì thế. Ta nhớ hình ảnh người chiến sĩ cách mạng có một đầu óc lạnh và một trái tim nóng đã sống và chiến đấu vì một lí tưởng cao đẹp.

Đọc bài thơ đầy tâm huyết của Tố Hữu, là cảm nhận một phần nào tinh thần gang thép của những chiến sĩ cách mạng. Sống vì tự do và sẵn sàng chết vì tự do. Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ Tổ quốc thêm đỏ chói. Sự hi sinh anh dũng của những chiến sĩ cộng sản trong các nhà tù đế quốc đã chuẩn bị cho nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Uống nước nhớ nguồn, chúng ta mãi mãi ghi nhớ công ơn các chiến sĩ cách mạng.

Thật vậy, bài thơ “Khi con tu hú” gợi nhớ trong lòng ta:

“Những hồn Trần Phú vô danh
Sóng xanh biển cả, cây xanh núi ngàn”

Gợi ý cho bạn 🌳 Phân Tích Bài Nhớ Rừng 🌳 Top 18 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Cảm Nhận Về Bài Thơ Khi Con Tu Hú Ngắn Gọn – Mẫu 3

Tham khảo bài văn cảm nhận về bài thơ Khi con tu hú ngắn gọn dưới đây với cách hành văn súc tích.

Tố Hữu là một con chim đầu đàn của nền thơ ca Việt Nam trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945. Thơ Tố Hữu tràn đầy lý tưởng sống cao đẹp đồng thời thể hiện tinh thần sáng tạo không mệt mỏi trên bước đường nghệ thuật. Chính vì vậy, bài thơ Khi con tu hú trong tập thơ Từ ấy của Tố Hữu – đã có sức cuốn hút độc giả yêu thơ, say thơ, một cách mãnh liệt.

Mở đầu bài thơ là những âm thanh sống động, mở ra một không gian tươi đẹp, thoáng đãng:

Khi con tu hú gọi bầy

Trong thi ca Việt Nam, mỗi loài chim kêu, mỗi loài hoa nở,… báo hiệu một mùa khác nhau. Tiếng chim cuốc kêu trong thơ Nguyễn Trãi báo hiệu mùa xuân đã muộn. Tiếng chim quyên nô nức gọi hè dưới trăng thanh trong thơ Nguyễn Du,… Riêng Tố Hữu, tiếng chim tu hú đi vào thơ khắc khoải báo hiệu mùa hạ đã bước sang.

Tiếng chim làm sống dậy những ngày tự do, êm đềm, hạnh phúc. Thuở ấy, Tố Hữu hãy còn bên ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè. Phải là một trái tim nhạy cảm, rạt rào nhựa sống mới có được cái nghiêng tai tinh tế như thế giữa bốn bức tường hôi hám, chật hẹp, tối tăm,… Tố Hữu hay lắng nghe những âm thanh của cuộc sống đời thường:

Cô đơn thay là cảnh thân tù!
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực
Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức
Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!

Nghé chim reo trong gió mạnh lên triều
Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh
Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh
Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về.
(Tâm tư trong tù)

Có thể nói, từ tiếng chim tu hú, Tố Hữu đã lắng đọng lòng mình, tập hợp các giác quan và tài năng của người nghệ sĩ để vẽ lên một bức tranh thiên nhiên mùa hè của miền Trung thân yêu:

Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…

Đây là một bức tranh lóng lánh sắc màu: màu vàng óng ả của lúa chín; màu vàng tươi roi rói của hoa quả; màu xanh dịu mát của khu vườn nhiều cây; màu vàng đặc trưng của bắp; màu nắng; màu xanh bao la của da trời. Như vậy hai gam màu vàng và xanh đã tô điểm cho bức tranh thơ thêm những đường nét mỹ miều, rực rỡ, đậm chất đồng quê.

Bên cạnh đó, có thanh âm của tiếng ve rộn ràng lảnh lót. Tiếng ve ngân là đặc trưng của mùa hè. Các chú ve dạo bản đồng ca chào đón đức vua mùa hạ đến ngự trị. Nếu thiếu tiếng ve thì nét sinh động, nhộn nhịp của bức tranh thơ giảm đi nhiều lắm. Hình ảnh “đôi con diều sáo lộn nhào từng không” là nét chấm phá độc đáo làm cho cuộc sống nơi thôn quê trở nên có hồn và thi vị hơn. Nhà thơ lấy cái hữu hạn (con diều sáo) đế biểu thị cái vô hạn (từng không). Không gian của bức tranh thơ được mỏ’ ra thoáng đãng và tiến tới vô tận.

Trên đây chỉ là bức tranh mùa hè được vẽ trong tâm tưởng của một con người trẻ tuổi đắm say lý tưởng đẹp. Dù chỉ một chút tình quê nhưng rất đáng được nâng niu, quý trọng. Còn thực tế thì sao?

Nhà thơ đang đối diện với bốn bức tường nóng bức ngột ngạt:

Ta nghe hè dậy bền lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! (câu 8)
Ngột làm sao, chết uất thôi (câu 9)
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!

Từ “dậy” trong tiếng Việt, theo từ điển của Nguyễn Văn Xô có ba nghĩa chính: cất mình lên; nổi lên; vang ầm. Chúng ta có thể hiểu mùa hè đã nổi lên trong lòng nhà thơ ở đỉnh điểm.

Hoà với nhịp thơ ỏ’ câu 8 là 6/2; ở câu 6 là 3/3 gợi cảm giác phẫn uất, bực bội, căng thẳng tột độ của hệ thống thần kinh trung ương đồng thời cũng thể hiện được sức mạnh và ý chí anh hùng của tuổi trẻ. Bởi thế, Tản Đà nói: “Tài cao phận thấp chí khí uất”. Điều đó cũng không sai đối với Tố Hữu. Riêng câu thơ “Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi” gợi cho chúng ta nhớ tâm trạng của Nguyễn Hữu Cầu:

Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu, Hán
Phá vòng vây bạn với kim ô.

Phải chăng giữa Nguyễn Hữu Cầu và Tố Hữu có cùng chung một ước vọng anh hùng của đấng nam nhi? Tiếng kêu “Ngột làm sao, chết uất thôi” của Tố Hữu cũng là một tiếng kêu xé lòng của một lớp thanh niên ham sống, đầy nhiệt huyết, mong muốn đối đời của xã hội ta lúc ấy.

Cả bài thơ, Tố Hữu không nhắc đến chữ “tự do” nào nhưng qua bức tranh thiên nhiên và bức tranh tâm trạng, chúng ta hiểu được nhà thơ nhận biết cái tất yếu đến tầng bậc nào rồi bởi lẽ “Tự do là nhận biết được cải tất yếu” (Các Mác).

Bài thơ khép lại theo lối “đầu cuối tương ứng”. Nếu câu mỏ’ đầu gợi tiếng chim tu hú khoẻ khoắn mời gọi hè thì câu kết thúc tiếng chim tu hú kêu hoài, kêu mãi giữa bầu trời mênh mông như “tiếng gọi hối thúc của thực tại”. Cái kết cấu ấy làm day dứt, xốn xang cõi lòng người đọc.

Tóm lại, Khi con tu hú là một bài thơ hay, lời lẽ mộc mạc, bình dị, dễ hiểu, câu chữ ít nhưng cô đọng, hàm súc. Bức tranh tả cảnh thiên nhiên và bức tranh tâm trạng hiện lên rất cân xứng. Kết hợp với thể thơ cổ truyền của dân tộc uyển chuyển, giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu, bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu đã để lại sức rung, sức gợi sâu xa, bền bỉ trong lòng những độc giả yêu thơ, say thơ suốt mấy mươi năm qua.

Đừng bỏ qua 🔥 Sơ Đồ Tư Duy Nhớ Rừng Thế Lữ 🔥 11 Mẫu Vẽ Tóm Tắt Hay

Cảm Nhận Bài Thơ Khi Con Tu Hú Ngắn Nhất – Mẫu 4

Bài văn cảm nhận bài thơ Khi con tu hú ngắn nhất dưới đây sẽ giúp các em học sinh nhanh chóng ôn tập cho bài viết trên lớp.

Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng cộng sản, thơ ông ngập tràn những hình ảnh lãng mạn cách mạng. Tâm trạng người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Khi con tu hú của ông tiêu biểu cho phong cách ấy.

Nhan đề của bài chỉ là một cụm từ chỉ thời gian (vẫn chưa đầy đủ). Đó là một ẩn ý vừa chỉ một thời điểm bừng lên của thiên nhiên, tạo vật, vừa chỉ sự khát khao hoạt động của con người. Có thể tóm tắt nội dung bài thơ như sau: Khỉ con tu hú gọi bầy (cũng là khi mùa hè đang đến), người tù cách mạng càng thấy ngột ngạt, cô đơn trong phòng giam chật hẹp, càng khát khao được sống cuộc sống tự do bay bổng ở ngoài kia.

Sở dĩ, tiếng tu hú kêu lại có tác động mạnh đến tâm hồn của nhà thơ bởi nó là tín hiệu báo những ngày hè rực rỡ đến gần. Nó cũng là biểu tượng của sự bay nhảy tự do.

Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần.

Không phải tiếng chim đơn độc mà là tiếng chim “gọi bầy”, tiếng chim báo tin vui. Nghe chim tu hú gọi nhau biết rằng “lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần”. Nhưng không phải chỉ có thế. Tiếng chim gợi lên một thế giới tràn ngập âm thanh, màu sắc, hình ảnh:

Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…

Đó là những sắc màu, âm thanh của cuộc sống hằng ngày. Màu vàng của ngô, màu hồng của nắng nổi bật trên cái nền xanh của đất trời, quyện với tiếng ve ngân và còn được điểm xuyết thêm bằng hình ảnh “Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”. Không gian tràn trề nhựa sống, đang vận động, sinh sôi nảy nở từng ngày.

Đọc kĩ lại những câu thơ, ta bỗng phát hiện thêm nhiều điều kì lạ khác nữa. Các sự việc không được miêu tả trong trạng thái bình thường, chúng được tô đậm, được đẩy lên mức cao nhất có thể. Không phải hạt bắp vàng mà là “bắp rây vàng hạt” nắng là “nắng đào” màu sắc lộng lẫy nhất, trời xanh thì “càng rộng càng cao” tầm mắt cứ được mở rộng ra thêm mãi.

Tiếng ve không chỉ “ngân” mà còn “dậy” lên, hai tính từ miêu tả âm thanh kết hợp với nhau khiến cho tiếng ve rộn rã khác thường. Chừng như để hoà điệu với những âm thanh và hình ảnh đó, cánh diều sáo cũng không chịu “lững lờ” hay “vi vu” mà “lộn nhào từng không”. Cánh diều như cũng nô nức, vui lây trong không gian lộng lẫy màu sắc và rộn rã âm thanh đó.

Sở dĩ có hiện tượng đó là bởi tác giả đã không trực tiếp quan sát và miêu tả cảnh vật. Nhà thơ đang bị giam trong tù. Những bức tường kín mít vây xung quanh làm sao cho phép nhà thơ nhìn ngắm hay lắng nghe… Tất cả đều được tái hiện từ trí tưởng tượng, trí nhớ và hơn thế nữa là tình yêu, lòng khát khao mãnh liệt được tháo cũi sổ lồng.

Trong cảnh tù đày, màu ngô lúa hay màu nắng, màu của trời xanh bỗng trở nên quý giá vô ngần, bởi thế nên những màu sắc, âm thanh hết sức bình thường bỗng trở nên lung linh, huyền ảo, rực rỡ hẳn lên. Đoạn thơ này thể hiện tình yêu sâu sắc của nhà thơ đối với cuộc sống, đôi với quê hương.

Mộng tưởng càng tươi đẹp bao nhiêu thì hiện thực lại càng cay đắng, nghiệt ngã bấy nhiêu.

Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!

Tưởng như sự liên kết giữa hai đoạn thơ này không thật chặt chẽ và tứ thơ không liên tục. Khi hướng ra bên ngoài, nhà thơ tả cảnh nhưng khi hướng vào trong lại tả tâm trạng. Kì thực đây chính là sự liên kết vô cùng khéo léo và tinh tế. Mối dây liên kết ấy chính là tiếng chim tu hú. Tiếng chim gọi bầy tha thiết gợi mở một thế giới bao la và vô cùng sinh động. Nhưng thế giới đó càng rộng rãi, rực rỡ bao nhiêu thì lại càng khiến cho người tù (đã bị tách biệt khỏi thế giới ấy) cảm thấy ngột ngạt và khao khát bấy nhiêu.

Tiếng chim tu hú ở đầu và cuối của bài thơ tuy đều biểu trưng cho tiếng gọi tha thiết của tự do, của cuộc sống ngoài kia đầy quyến rũ đối với người tù nhưng tâm trạng của người tù khi nghe tiếng tu hú lại rất khác nhau, ở câu thơ đầu, tiếng tu hú gợi hình ảnh cuộc sống đầy hương sắc, từ đó gợi ra cái khát khao về cuộc sống tự do. Thế nhưng, đến câu kết, tiếng chim ấy lại khiến cho người tù có cảm giác bực bội, đau khổ vì chưa thể thoát ra khỏi cảnh tù đày.

Bài thơ hay ở những hình ảnh thơ gần gũi, giản dị mà giàu sức gợi cảm, ở nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát uyển chuyển, tự nhiên và cả ở những cảm xúc thiết tha, sâu lắng, thể hiện được nguồn sống sục sôi của người cộng sản.

Đọc nhiều hơn ☀️ Cảm Nhận Về Bài Thơ Quê Hương ☀️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Cảm Nhận Khi Con Tu Hú Chi Tiết – Mẫu 5

Tham khảo bài văn mẫu cảm nhận Khi con tu hú chi tiết dưới đây để nắm được nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

Tố Hữu là nhà thơ đi đầu trong phong trào thơ ca Cách mạng. Con đường thơ của Tố Hữu có sự hòa quyện thống nhất với cuộc đời cách mạng. Có thể nói những kho tàng thơ văn của ông chính là cuốn biên niên sử bằng thơ bởi mỗi sự kiện, từng bước chuyển mình của lịch sử được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm. Bài thơ Khi con tu hú được sáng tác năm 1939 khi Tố Hữu đang bị giam giữ trong nhà ngục ở Thừa Thiên. Bài thơ là lòng yêu cuộc sống và khao khát tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi.

Mở đầu bài thơ là tiếng tu hú đang cất lên từng hồi tha thiết. Tu hú là loài chim rất đặc trưng của mùa hè, tiếng chim tu hú ấy cất lên không chỉ gọi mùa hè tới mà còn đánh thức đánh thức tình yêu cuộc sống, yêu tự do đang âm ỉ cháy trong lòng người chiến sĩ cách mạng:

“Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”

Bức tranh thiên nhiên mùa hè tươi mát, sống động mở ra trước mắt độc giả. Bức tranh ấy có đủ âm thanh, màu sắc, những hình ảnh sống động và cả không gian rộng lớn, khoáng đạt. Âm thanh tiếng tu hú, tiếng ve, tiếng sáo diều vi vu làm cho bức tranh mùa hè trở nên sôi động, náo nhiệt. Điểm xuyết cho bức tranh tươi vui, rộn rã ấy là những gam màu rực rỡ, tươi sáng, đó là màu vàng rực của lúa chín, bắp rây, màu nắng “đào” ửng hồng, màu xanh của da trời lồng lộng, màu của trái cây đang độ chín.

Không gian cao rộng của bầu trời và hình ảnh những con diều sáo lộn nhào “từng không” càng tô đậm thêm ấn tượng về một không gian rộng lớn, khoáng đạt, đó là thế giới của sự sống, là thế giới của tự do . Bức tranh mùa hè rực rỡ, căng tràn sự sống được Tố Hữu cảm nhận bằng nhiều giác quan và bằng chính trái tim nhạy cảm, tha thiết yêu đời, yêu tự do của người thi sĩ, chiến sĩ.

Tố Hữu giác ngộ Cách mạng từ năm mười tám tuổi, khi còn là một chàng trai bơ vơ giữa cuộc đời. Khi dấn thân vào con đường Cách mạng, ông hiểu rõ:

“Đời cách mạng từ đây tôi đã hiểu
Dấn thân vô là phải chịu tù đày”

Giờ đây, ông càng hiểu rõ hoàn cảnh của mình, thế nhưng, một người cách mạng nhiệt huyết làm sao có thể chịu nổi cái cảnh tù đày ngột ngạt này. Nó bức bối quá, ngột ngạt quá, khiến ông phải thốt lên:

“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi
Ngột làm sao chết uất thôi
Khi con tu hú ngoài trời cứ kêu”

Khung cảnh mùa hè ngoài kia đẹp quá đỗi mà tiếc rằng nó chỉ ở trong trí tưởng tượng của nhà thơ. Bởi ông đang ở giữa bốn bức tường lạnh lẽo của nhà tù thực dân. Tố Hữu cảm thấy bức bối, ngột ngạt, nhà thơ khát khao được tự do, muốn đắm mình tận hưởng cảnh sắc, hương vị của mùa hè và quan trọng hơn nhà thơ muốn tiếp tục hành trình cách mạng còn dang dở của mình.

Tố Hữu đã dùng ở đây một loạt những động từ mạnh như “đạp tan”, “ngột”, “chết uất” để diễn tả sự ngột ngạt, bức bách đến tột cùng của mình. Ông muốn phá tan xiềng xích, phá tan nghịch cảnh để trở về với tự do, trở về với sự nghiệp cách mạng. Cái cảm xúc bức bối ấy được thể hiện càng rõ hơn qua các từ cảm thán như “ôi, làm sao, thôi”. Nhịp thơ ở đoạn thơ này cũng dồn dập, mạnh mẽ hơn đoạn thơ trước, nó như dòng sông cảm xúc cuộn trào trong lòng người thì sĩ.

Bài thơ mở ra bằng tiếng chim tu hú, kết lại cũng bằng tiếng chim tu hú tạo ra kết cấu đầu cuối tương ứng. Nếu ở đầu bài thơ, tiếng chim tu hú gọi về mùa hè, đánh thức tình yêu cuộc sống mãnh liệt nơi tâm hồn nhà thơ thì tiếng chim tu hú cuối bài lại đẩy sự bức bối, u uất của nhà thơ lên cao trào. Tiếng chim tu hú là biểu tượng cho tự do, cho sự sống, tiếng chim ấy khiến người tù cách mạng trẻ tuổi phải bồn chồn, bức bối, ngột ngạt đến tận cùng! Ông muốn thoát ra để hòa mình vào thiên nhiên, hòa mình mà tận hưởng tiếng tu hú ấy!

Bài thơ Khi con tu hú được viết bằng thể thơ lục bát hết sức quen thuộc với người dân Việt Nam ta với nhịp thơ linh hoạt. Theo dòng cảm xúc của nhà thơ khiến người đọc như được hòa mình vào dòng cảm hứng bất tận của Tố Hữu. Hơn thế, những ngôn từ trong thơ vô cùng giản dị, hình ảnh thơ gần gũi, ca từ da diết, thể hiện một tình yêu tha thiết vào cuộc sống, một khát khao tự do mãnh liệt.

Khi con tu hú là bài thơ được viết vào năm Tố Hữu mới chỉ mười chín tuổi. Thế nhưng, cũng như Từ ấy, bài thơ minh chứng cho một tài năng thơ ca cực kỳ xuất sắc. Đó là tấm lòng yêu cuộc sống sâu sắc, khát khao tự do cháy bỏng của người tù cách mạng trong hoàn cảnh tù đày.

Gợi ý cho bạn 🌳 Sơ Đồ Tư Duy Quê Hương Tế Hanh 🌳 8 Mẫu Vẽ Tóm Tắt Hay

Cảm Nhận Bài Thơ Khi Con Tu Hú Đầy Đủ Nhất – Mẫu 6

Bài văn cảm nhận bài thơ Khi con tu hú đầy đủ nhất dưới đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh.

Tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học…

(Bếp lửa – Bằng Việt)

Tu hú phải chăng là nguồn đề tài đầy cảm xúc của nhiều thi nhân miền Bắc? Bài thơ “Khi con tu hú” được Tố Hữu sáng tác vào tháng 7 năm 1939, khi nhà thơ trên bước đường hoạt động cách mạng đang bị địch bắt giam tại Lao Thừa Phủ – Huế. Bài thơ phản ánh tâm trạng ngột ngạt của một người cộng sản trẻ tuổi sôi nổi yêu đời bị giam cầm giữa bốn bức tường vôi lạnh.

Tâm trạng ấy càng trở nên bức xúc khi nhà thơ hướng tâm hồn mình đến với bầu trời tự do ở bên ngoài. Đặc biệt, giữa không gian tự do ấy bỗng vang ngân tiếng chim tú hú gọi bầy. Với âm thanh da diết đó, nỗi ngột ngạt, u uất càng dồn nén và biến thành niềm khát vọng tự do cháy bỏng không thể kìm hãm nỗi:

Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi!

Mở đầu bài thơ, với tựa đề “Khi con tu hú”, tác giả muốn khẳng định đây là một thứ âm thanh mở ra mạch cảm xúc của toàn bài thơ. Tác động của âm thanh này đặt vào tâm cảnh của nhà thơ càng trở nên tha thiết và thôi thúc hướng đến tự do. Ta biết rằng, người thanh niên cộng sản Tố Hữu dù bị tù đày, tra tấn nhưng không nản chí sờn lòng. Nhà thơ đã xác định:

Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu
Dấn thân vô là phải chịu tù đày
Là gươm kề tận cổ súng kề tai
Là thân sống chỉ coi còn một nửa.

(Trăng trối)

Trở lại câu thơ mở đầu của bài thơ: “Khi con tu hú gọi bầy”. Đó là cái thời điểm thiết tha và thiếu thốn khi nghe con chim tu hú gọi bầy, tiếng gọi trở về với bạn bè, đồng đội. Tiếng chim gọi bầy càng tăng thêm nỗi cô đơn của nhà thơ giữa bốn bức tường lạnh lẽo. Tố Hữu bị bắt Giam giữa lúc nhiệt tình cách mạng của tuổi thanh xuân đang sục sôi, muốn đem tất cả nhiệt huyết để cống hiến cho cách mạng.

Tiếng chim tu hú gọi bầy đã thức dậy một nỗi nhớ sâu xa trong Tố Hữu. Trong thế giới tăm tối của ngục tù, nhà thơ đã huy động nhiều giác quan để hình dung, tưởng tượng đồng quê thân thuộc ngoài kia:

Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào.

Một bức tranh được Vẽ trong tâm tưởng bằng nỗi nhớ da diết. Nhịp sống của đồng quê thật rộn rã và tràn đầy sức sống. Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần, sự vật đang vận động tiến dần đến sự hoàn thiện, hoàn mĩ (đang chín, ngọt dần). Một mùa hè đã báo hiệu, một mùa hè với những cảnh vật, âm thanh, màu sắc, ánh nắng quen thuộc.

Phải là một con người tha thiết yêu cuộc sống, gắn bó máu thịt với quê hương mới có nỗi nhức nhối không nguôi đến như thế! Trí tưởng tượng của nhà thơ được chắp cánh đến với bầu trời khoáng đạt:

Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không.

Cũng là bầu trời xanh thân thiết của tuổi thơ với “đôi con diều sáo lộn nhào từng không”. Giữa khoảng trời bao la, cao, rộng, vài con diều sáo nhào lộn như nét chấm nhỏ nhoi giữa cái mênh mông của đất trời. Hình ảnh con diều sáo lộn nhào giữa từng không cũng là niềm khát vọng được tự do của người chiến sĩ cách mạng bị giam cầm. Niềm khát khao đó bị dồn nén lúc này đây đã bùng lên mãnh liệt:

Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi!
Ngột làm sao chết uất thôi
Khi con tu hú ngoài trời cứ kêu.

Nhịp sống trào dâng, mời gọi, thôi thúc tràn ngập vào tận ngõ ngách tăm tối của chốn ngục tù, len lỏi vào tâm hồn người cộng sản trẻ tuổi biến thành nỗi khát khao hành động: “muốn đạp tan phòng”.

Bài thơ có 10 câu, câu mở đầu và câu kết thúc là tiếng kêu của con tu hú. Âm hưởng tiếng kêu xuyên suốt toàn bài, tiếng kêu liên hồi, khắc khoải và da diết. Tiếng kêu vang vào thế giới chật chội, tăm tối của nhà lao và tâm trạng nhà thơ trở nên bức bối, ngột ngạt, đến nỗi phải kêu lên:

Ngột làm sao chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu.

Bài thơ đã khép lại, đã kết thúc rồi mà như còn giọng rền rĩ thở than của thi nhân! Đó là tâm trạng đau đớn, nói chẳng nên lời của một cánh chim non đang tràn trề sinh lực, càng khát khao bay lên lại càng bị kéo xuống giam hãm trong bốn bức tường!

Bài thơ cho ta hiểu thêm nét đẹp trong tâm hồn người cộng sản trẻ tuổi. Người chiến sĩ gang thép đó có một thế giới nội tâm rất mực phong phú, rung động mãnh liệt với nhịp đập của cuộc sống, gắn bó thiết tha với quê hương ruộng đồng, và một niềm khát khao tự do cháy bỏng.

Bài thơ khép lại nhưng ta nghe tiếng tu hú “cứ kêu”, kêu hoài, kêu mãi… đó là tiếng kêu của khát vọng tự do cho tác giả, tự do cho dân tộc, quê hương!

Giới thiệu đến bạn 🌟 Phân Tích Tức Cảnh Pác Bó 🌟 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Cảm Nhận Khi Con Tu Hú Học Sinh Giỏi – Mẫu 7

Đón đọc bài văn cảm nhận Khi con tu hú học sinh giỏi dưới đây với những nội dung nghị luận văn học chuyên sâu.

Tự do, vốn là khao khát của con người, từ xưa đến nay vốn thế. Nó tha thiết và thiêng liêng. Tuy nhiên, quan niệm về tự do thì mỗi thời một khác. Cái khác ấy ớ bài thơ Khi con tu hú là khao khát của một thế hệ mới – thế hệ những chàng trai vừa bước chân vào con đường tranh đấu để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, của một thời đại mới – thời đại mở ra từ Cách mạng tháng Mười năm 1917 (“Liên Xô nở trước đời tôi ba tuổi” – Hi vọng).

Tiếng gọi ấy lại vang vọng vào thơ, thơ của một thời Thơ mới (1932 – 1945) lại là cái khác thứ hai, lần này là về nghệ thuật. “Khi con tu hú” là điểm gặp gỡ giữa hai yếu tố nội dung và hình thức nói trên. Nó là đại diện cho nền thơ ca cách mạng những năm ba mươi của thế kỉ trước.

Vậy nên hiểu bài thơ như thế nào? Trả lời câu hỏi: nếu viết một câu văn xuôi mở đầu bằng cụm từ “Khi con tu hú” để tóm tắt nội dung bài thơ, có thể có hai cách viết: – Khi chim tu hú gọi bầy là khi mùa hè đến, người tù cách mạng (nhân vật trữ tình) càng cảm thấy ngột ngạt trong phòng giam chật chội, càng thèm khát cháy bỏng một cuộc sống tự do tưng bừng ở bên ngoài.

Tên bài thơ đã gợi mở mạch cảm xúc của bài thơ. – Khi chim tu hú gọi bầy, người tù cách mạng – chủ thể trữ tình, với một tâm hồn trẻ trung vốn gắn bó với phong trào, với đồng chí, bè bạn giữa cuộc đời đấu tranh cao rộng nay bị giam cầm cháy lên một nỗi nhớ không nguôi.

Nỗi nhớ ấy hướng về tự do. Nó trở thành một niềm khao khát. Giữa hai cách diễn đạt này, nên chăng chọn cách thứ hai? Bởi nó trình bày đúng hơn, khách quan hơn mạch cảm xúc, nền cảm xúc của bài thơ, nghĩa là cơ sở tinh thần của những khao khát tự do ấy. Trên định hướng đúng này, ta đi vào phân tích bài thơ. Bài thơ có mười câu, đã dành sáu câu cho đoạn thứ nhất:

Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…

Đây là cảnh mùa hè tiêu biểu ở các làng quê. Nhưng bức tranh hiện thực ấy được mở ra bằng hai lớp: lắng nghe và hồi tưởng, hiện tại và quá khứ, cái đang tới và cái đã qua. Cái hôm nay – cái bây giờ mà nhà thơ đã nghe là tiếng chim tu hú, một sự lắng nghe bất chợt sau một thời gian bị xiềng xích trong tù (“Khi con tu hú gọi bầy”). Cái cảm giác đột nhiên ấy – sở dĩ là đột nhiên, vì nó xuất hiện trong một khối cánh không gian đặc biệt: hiếm khi có âm thanh cuộc sống vọng vào.

Cảm giác này phải chăng giống với tâm trạng của tác giả Nhật kí trong tù khi nghe tiếng sáo (“Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu”). Nó lạ lẫm và khơi gợi vô cùng. Tu hú gọi bầy là mùa hè đã đến. Nhưng nó đến như thế nào thì tác giả không nhìn thấy. Vốn sống, sự gắn bó với mọi làng quê đã được huy động để thay vào.

Lấp đầy cái khoảng trống bị vây bọc bởi bốn bức tường xà lim lạnh lẽo là sự tưởng tượng của nhà thơ mà người đọc không cảm thấy có một chút gì khiên cưỡng, gò ép. Mạch thơ vẫn hết sức tự nhiên như không có một sự lắp ghép cố tình nào. Hãy đọc lại:

Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần.

Hai câu thơ, và rồi bốn câu tiếp như một tác động dây chuyền: cứ tiếng chim xuất hiện là mùa màng, cây trái đến theo. Sự hô – ứng ấy bao đời vẫn thế bởi đó là quy luật của tự nhiên. Tiếng chim gọi bầy mà cũng là tiếng chim gọi mùa chính là vì thế. Nó lập tức xôn xao. Nó va đụng vào lòng người nao nức lắm.

Cần chú ý hai trạng thái chín của lúa và ngọt của cây: đang chín, ngọt dần. Nếu thay vào đã chín, ngọt rồi, câu thơ sẽ khác, sẽ ở vào thế tĩnh, đông cứng lại ngay. Còn ở đây tả chim mà như nó đang bay, tả hoa mà như nó chớm nở, nó mỉm cười thì ấy là cái động của thơ, của họa.

Cái động ấy ở đây là do tài của nhà thơ, nhưng cũng là do tình của nhà thơ thân mến nó. Nghe một tiếng chim kêu mà thấy mạch sống của cây, của lúa sinh sôi, đang rạo rực thân cành thì chỉ có thể ở những con người yêu thương cuộc đời, yêu thương sự sống đến mức thắt lòng. Từ đó mà tưởng tượng nảy sinh. Ấy là chưa nói đến ưu thế uyển chuyển, nhịp nhàng, giàu khả năng diễn đạt tâm tình của thơ lục bát.

Thơ lục bát vừa có hình thức cố định lại vô cùng biến hoá. Chẳng hạn trong bốn câu thơ đầu, nếu lấy tiêu chí giác quan mà nhìn vào kết cấu thì ta thấy mỗi cặp câu 6/8 có đủ cả thính giác và thị giác, từng đôi một, tạo cảm giác âm thanh giục giã mùa màng bước vào ngày hội:

Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào.

Nếu bốn câu thơ đầu là bốn câu thơ đẹp, nó nói được cái ríu rít của mùa hè, của cây trái xum xuê thì hai câu sau tưởng như không ăn nhập gì với không khí ấy bởi nó nói đến những con diều sáo, một sắc trời xanh. Nguyễn Trãi xưa vì mừng thấy dân khắp nơi “giàu đủ” mà nghĩ đến cây đàn của vua Thuấn. Cây đàn với bát cơm, tấm áo trên một phương diện nào đó là khá xa nhau, nhưng thực thì chúng lại rất gần nhau, ở cảnh thanh bình, hạnh phúc.

Vậy thì hai câu “Trời xanh càng rộng càng cao – Đôi con diều sáo lộn nhào từng không” phải chăng là những âm thanh vút cao lên từ một giai điệu bè trầm là bốn câu trước đó. Để cắt nghĩa vì sao bức tranh nông thôn hiện ra trong thơ rất thực và rất đẹp, ta nghĩ đến hai điều: bản thân cảnh nông thôn, nhất là vào dịp mùa màng là rất đẹp, nó gợi cái ấm, cái no của người cày cuốc một nắng hai sương.

Song điều thứ hai, trong trường hợp bài thơ này, mới là quan trọng: nhà thơ chiến sĩ bị giam cầm vì yêu nó, đang mơ thấy nó, thấy nó như đang ở tầm tay. Yêu nó, không được gần mà nhớ đã dành (đã bao lần ở trong tù, người thanh niên ấy đã nhớ người, nhớ đồng?), cái chính là: bức tranh ấy là bức tranh tự do, thứ tự do vừa lớn lao vừa bình dị như một chân lí đơn sơ.

Để vừa miêu tả (ngoại cảnh) vừa diễn tả (tâm cảnh, tâm trạng), với một độ hấp dẫn đến xúc động lòng người, Tố Hữu đã huy động cả thành tựu của thơ dân gian (thể lục bát của ca dao), cả thành tựu của thơ mới. Riêng về ảnh hưởng của thơ mới, thành công của Tố Hữu ở đây trước hết là biết phát huy mạnh mẽ “cái tôi” nội cảm, “cái tôi” của cảm xúc dồi dào, của sức tưởng tượng phong phú.

Sáu câu đầu giống như một bản nhạc say sưa, nó vừa thể hiện bằng ngôn từ, vừa thể hiện từ một đời sống bên trong của nó. Ngay câu thơ đầu thôi, cái nguyên cớ, cái nguồn cơn để từ đó cảm xúc trào dâng giống như một giây phút “chạnh lòng” (tên một bài thơ của Thế Lữ).

Một âm thanh nhỏ của cuộc đời mấy ai để ý mà với Tố Hữu, tiếng “gọi bầy” ấy có sức gợi rất lớn, sức gợi tức thời. Sự nhạy cảm ở đây là của thơ nói chung, trước hết là của thơ mới. Đọc Khi con tu hú, ta có cảm giác nó vừa là ca dao, vừa không phải là ca dao chính bởi sự kết hợp của hai thành tựu vừa nêu. Bài thơ có thể chia làm hai đoạn. Đoạn một gần như tả cảnh (nói gần như vì đó là một bức tranh gián tiếp) còn đoạn hai bộc lộ tâm tình, ít ra là trên những dấu hiệu hình thức của lời thơ:

Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!

Trong phần phân tích đoạn một, chúng ta có nêu một hiện tượng: quy luật dây chuyền, cảnh này gọi cảnh khác. Trên cấp độ lớn hơn, xét cả kết cấu bài thơ thì đoạn hai chính là do tác động dây chuyền của đoạn một. Dấu hiệu của tác động dây chuyển này là từ hè (“Ta nghe hè dậy bên lòng”). Không có cái mùa hè tốt tươi, bay lượn ấy thì có lẽ cái phòng giam vẫn cứ chỉ là phòng giam, một thứ phòng giam không tạo ra phản cảm.

Bởi biết đâu người chiến sĩ sẽ phải chung sống với nó suốt đời? Ta mới hiểu tác động dây chuyền, sự đánh thức một tiềm năng cảm nghĩ ở nhà thơ mạnh mẽ đến chừng nào. Đạp tan phòng là mạnh mẽ, còn hè ôi như một tiếng kêu thương cảm xót xa. Cấu trúc của câu tám này về tiết tấu cũng khá đặc biệt.

Thông thường nó được phổ vào hai vế tương đương 4/4. Còn ở dãy là 6/2. Nhịp 6 ấy cứ như một uất hận xung thiên, còn nhịp 2, sau khi sức mạnh tưởng chừng lớn lao không gì ngăn cản được đụng phải bức tường hiện hữu khô khan và lạnh lẽo, nó trở nên một tiếng kêu thương, một tiếng thở dài cay đắng. Ấy là cuộc đụng đầu giữa ý chí chủ quan và hoàn cảnh khách quan của người thua cuộc.

Nhưng thua cuộc chỉ là nhất thời, tạm thời. Cuộc vật lộn trong tâm trí của nhà thơ vẫn còn tiếp diễn. Không những dai dẳng, cường độ của nó không giảm đi mà còn tăng lên. Biết làm thế nào chiến thắng được hoàn cảnh, chiến thắng được bản thân khi lực lượng giao tranh không hề ngang sức. Nhịp thơ 3/3 ở câu “Ngột làm sao, chết uất thôi” diễn tả sự giằng co. Nhưng nó lại nghiêng về phía chủ thể người tù.

Chính vì vậy ý thơ đã được nâng cấp nhưng vẫn bế tắc. Thế là, tiếng gọi của tự do thì vẫn tự do lên tiếng một cách vô tư, còn con người khao khát nó vần bị mất tự do, vẫn đang bị cầm tù. Cặp thơ lục bát song đôi cuối cùng mới như một niềm khắc khoải, bởi xung đột tinh thần ở nhà thơ đã đạt đến mức cao trào. Một cái gì đó sẽ phải xảy ra nhằm giải thoát một hoàn cảnh không thể dung hòa giữa nhà thơ với cảnh đời tù ngục.

Tiếng chim tu hú, tiếng gọi của tự do ấm áp làm sao, mà cũng nóng bỏng làm sao. Nó đang cháy lên một nỗi niềm khao khát. Từ tiếng gọi mùa đến tiếng kêu thúc giục con người hành động, bài thơ vận hành theo hướng đi từ bóng tối tù ngục đến ánh sáng của tự do.

Ngoài ra, tại SCR.VN còn có 🌺 Phân Tích Bài Thơ Đi Đường 🌺 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Cảm Nhận Khi Con Tu Hú Nâng Cao – Mẫu 8

Tham khảo bài văn cảm nhận Khi con tu hú nâng cao dưới đây để trau dồi những ý văn hay và đặc sắc.

Tố Hữu (1920-2002 là nhà thơ nổi tiếng của nền thơ ca trữ tình chính trị Việt Nam, với hàng loạt các tác phẩm có giá trị như: Từ ấy, Việt Bắc, Một tiếng đờn…, ông được xem là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng và kháng chiến, có đóng góp to lớn đưa nền thơ ca trữ tình chính trị của nước nhà đạt đến đỉnh cao. Thơ Tố Hữu có sự hòa quyện giữa chất chính trị đậm nét cùng chất trữ tình tha thiết, đằm thắm, một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất cho phong cách thơ Tố Hữu có thể kể đến bài thơ Khi con tu hú.

Khi con tu hú được ra đời trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt vào khoảng thời gian đầu khi Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà tù Thừa Phủ (tháng 7 năm 1939). Khi ấy Tố Hữu vừa mới gia nhập vào Đảng cộng sản Việt Nam chưa bao lâu, đang hăng hái hoạt động cách mạng thì bị bắt, điều đó đã mang đến trong lòng tác giả, một con người vừa tìm được con đường sáng sau những năm tháng tối tăm, lọc lõng nhiều xúc cảm phức tạp.

“Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chín trái cây ngọt dần
Vườn râm, dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt, đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”

Trong 6 câu thơ đầu tác giả Tố Hữu đã cảm nhận bức tranh thiên mùa hạ rực rỡ và tràn đầy sức sống bằng nhiều giác quan, bao gồm cả thính giác, vị giác, xúc giác. Mùa hè hiện ra thật nhộn nhịp với tiếng tu hú gọi bầy tha thiết, tiếng ve ngân rạo rực, tiếng sáo diều vi vu vang vọng trời đất. Bên cạnh đó còn rực rỡ, tươi tắn với nhiều màu sắc của thiên nhiên như cảnh lúa chiêm vàng xuộm, cảnh “bắp rây vàng hạt” đầy sân, lại thêm cái “nắng đào”, ấm áp chói chang, mang đến cảnh tượng trù phú, mùa màng bội thu, tràn đầy sức sống.

Không dừng lại ở đó mùa hè còn hiện ra thông qua những cảm nhận từ vị giác, với vị ngọt dịu của lúa chiêm đang dần chín, vị ngọt đậm của trái cây đang vào mùa. Xa xăm hơn, cảnh ngày hè còn đặc biệt ấn tượng với khung cảnh bầu trời trong xanh, không một gợn mây, rộng lớn, cao vút, tô điểm trên nền trời ấy là cảnh từng con diều sáo đang lộn nhào:

Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không

Câu thơ gợi ra khung cảnh bình yên, tự do và tràn đầy sức sống, càng đặc biệt hơn khi bức tranh thiên nhiên tràn đầy âm thanh và sắc màu đó lại được nhà thơ cảm nhận qua song sắt chật hẹp của nhà tù. Điều đó đã bộc lộ tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống tha thiết của tác giả.

Không chỉ là lòng yêu thiên nhiên sâu sắc, mà ở sáu câu thơ đầu những hình ảnh thiên nhiên đậm hương sắc, còn bộc lộ tấm lòng khao khát tự do, muốn thoát khỏi cảnh tù đày, để hòa vào cuộc sống thiên nhiên tươi đẹp, để tiếp tục thực hiện lý tưởng còn dang dở.

Sâu xa hơn nữa, bức tranh hè rực rỡ còn bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn người chiến sĩ cách mạng “thân thể ở trong lao, tâm hồn ở ngoài lao”, khi mà song sắt, tường dày cũng chẳng thể nào ngăn nổi ý chí chiến đấu, không thể dập tắt được ngọn lửa cách mạng đang sục sôi trong tâm hồn của người lính trẻ. Dù đang bị giam cầm, khốn khổ với cảnh tù đày, thế nhưng Tố Hữu vẫn rất yêu đời, lạc quan, vui vẻ, hướng về cuộc sống tự do bên ngoài. Đó là một phẩm chất vô cùng tốt đẹp, sáng ngời của người chiến sĩ cách mạng.

“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi
Ngột làm sao chết uất thôi
Khi con tu hú ngoài trời cứ kêu”

Ở bốn câu thơ cuối, tâm trạng của tác giả càng được bộc lộ rõ. Tiếng tu hú càng tha thiết như vẫy gọi người chiến sĩ thoát ra khỏi lồng giam tăm tối về với thế giới tự do, hòa vào mùa hè sôi động, tiếp tục chiến đấu. Từ tấm lòng khao khát tự do, khao khát được chiến đấu, cùng với sự đau khổ, tù túng khi bị giam cầm đã khiến tác giả có xúc cảm mạnh muốn phá tan cái lồng giam ngột ngạt của quân thù để trở về với tự do, trở về với sự nghiệp cách mạng còn dang dở.

Câu thơ “Ngột làm sao chết uất thôi” càng bộc lộ rõ sự tức giận, phẫn nộ, uất hận của tác giả với tình trạng tù túng, mất tự do của hiện tại. Mà lúc này đây tiếng tu hú kêu, cái nóng bức của ngày hè lại càng làm cho cảm giác ấy càng trở nên rõ nét, trở thành một nguồn lửa nóng không ngừng cuồn cuộn trong trái tim người chiến sĩ, khiến ông vô cùng bực bội, khao khát được trở về với tự do càng thêm cháy bỏng, mạnh mẽ.

Kết thúc bài thơ với tâm trạng bức bối, chững lại và nhiều xúc cảm dồn nén như thế chính là dự báo về một sự đột phá, một con đường mới để thoát khỏi cảnh tù đày, tìm về với tự do và sự nghiệp cách mạng của người chiến sĩ trẻ.

Khi con tú hú là một trong những tác tiêu biểu trong giai đoạn đầu của sự nghiệp sáng tác thơ ca trữ tình chính trị của Tố Hữu với nguồn xúc cảm tươi trẻ, tràn đầy sức sống mạnh mẽ, ý chí chiến đấu kiên cường. Tác phẩm tinh tế bộc lộ tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, khát khao tự do tha thiết cháy bỏng, cũng như lòng căm thù, phẫn nộ trước cảnh tù đày, cùng với sự mạnh mẽ muốn phá tan xiềng xích phi nghĩa để về với tự do của người chiến sĩ trẻ.

Tiếp theo tham khảo 🌹 Phân Tích Bài Thơ Ông Đồ 🌹 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Cảm Nghĩ Bài Thơ Khi Con Tu Hú Đơn Giản – Mẫu 9

Bài văn cảm nghĩ bài thơ Khi con tu hú đơn giản dưới đây sẽ giúp các em học sinh tham khảo những ý văn ngắn gọn và hàm súc.

Nhắc đến những tác giả nổi bật trong phong trào thơ ca cách mạng không thể không nhắc đến nhà thơ Tố Hữu. Các tác phẩm của ông đều là những vần thơ đẹp đẽ mang ánh sáng chói lòa của niềm vui khi có Đảng, của nhiệt huyết tuổi trẻ, của khát khao sống và cống hiến cho cách mạng. Một trong những vần thơ đẹp ấy phải kế đến thi phẩm Khi con tu hú- bài thơ mang tiếng lòng của người chí sĩ yêu nước, khát khao tự do trong cảnh tù đày.

Mở đầu bài thơ là khung cảnh mùa hè đầy sôi động, vẻ đẹp của thiên nhiên đẹp được dệt nên bởi những ngôn từ quá đỗi trong sáng, bình dị:

“Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chin, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt, đầy sân nắng vàng”

Nếu khi xuân về có cánh én chao nghiêng thì hè đến là tiếng chim tu hú gọi nhau ngang trời. Câu thơ đầu tiên là một trạng ngữ chỉ thời gian báo hiệu hè về, là cơ sở để gợi mở ra một khung cảnh mùa hè tươi đẹp ở những câu sau. Thiên nhiên vào hè dường như đang “chín” dần theo vị thời gian: những bông lúa vàng ươm gần đến ngày thu hoạch, những trái cây thơm đang đượm dần vị ngọt, những hạt bắp vàng được tưới tắm ánh mặt trời ngày hạ lại đậm thêm vị nắng.

Hè về, lúa ngoài đồng đã chín, bắp trên đồi đã bẻ, quả trong vườn đã ngọt,…những công sức của người nông dân cuối cùng cũng được đền đáp. Vì thế niềm vui như gấp bội, lòng người thi sĩ cũng phấn khởi, rộn ràng. Khúc nhạc “tiếng ve ngân” là thanh âm làm sống động cả khu vườn.

Ve đến gọi hè về, tiếng ve ngân nga tự do giữa khung trời, mang bao dư âm của tuổi thơ, mang bao kỉ niệm thời niên thiếu. Cảnh hè tươi mới, rộn ràng với sắc vàng của lúa chín, của nắng hạ, của bắp ngô, với sắc xanh của cây trái vườn nhà, với tiếng tu hú và tiếng ve ngân. Cảnh hè còn được điểm tô bởi cánh diều bay trong gió giữa bầu trời thanh bình, rộng lớn, tự do:

“Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không.”

Lòng người thi sĩ như đang say mê, rạo rực trước mùa hè tuyệt diệu, ao ước được đắm chìm trong không gian rộng mở ấy đề tận hưởng vị thiên nhiên mà tạo hóa ban tặng. Nhưng có lẽ, với thực tại bây giờ, niềm ao ước ấy thật khó để thành hiện thực, bởi nhân vật trữ tình đang bị giam mình trong cõi chật hẹp của nhà tù thực dân. Đằng sau bức tranh thiên nhiên đẹp gợi lên ấy là cả một dòng tâm trạng khôn nguôi, đau xót:

“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi”

Tiếng hè dậy bên lòng, tiếng hè vẫy gọi thiết tha, hè khiến lòng chiến sĩ rạo rực muốn được chìm đắm trong khoảng không gian tươi đẹp. Lòng thổn thức-chân muốn đạp, muốn vượt thoát khỏi bốn bức tường chật hẹp nơi này để tận hưởng vị thiên nhiên, để được tự do làm cách mạng.

Lối nói quá “đạp tan phòng” kết hợp với tiếng gọi tha thiết “hè ôi! ” càng diễn tả khát khao tự mãnh liệt như muốn bùng cháy trong trái tim người chiến sĩ trẻ. Còn gì buồn hơn khi sống trong cảnh giam cầm, còn gì bí bách hơn khi một kẻ suốt đời khát khao tận hiến cho cách mạng lại bị dùi xích chôn chân nơi ngục tù.

” Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú, ngoài trời cứ kêu”

Những tính từ mạnh “ngột”, “chết uất” được kết hợp khéo léo với các từ mang giá trị biểu cảm như “làm sao”, “thôi” đã diễn tả rõ nỗi bực dọc, ngột ngạt đến tột cùng của người chiến sĩ lúc này. Đồng thời, càng cho thấy niềm khát khao được vượt thoát khỏi chốn ngục tù tăm tối để rời xa những khó chịu đang bủa vây trong tâm trí, để được là bước ra đời sống với đôi chân tự do và tâm hồn rộng mở.

Nếu như tiếng tu hú đầu bài gọi hạ đến, là một tín hiệu của thời gian, đánh thức trong tâm hồn nỗi nhớ nhung về một mùa hè tươi đẹp, rộn ràng và tình yêu thiên nhiên tha thiết thì tiếng tu hú cuối bài là là tiếng gọi của tự do, của Đảng, thôi thúc nỗi khát khao được trở về với cách mạng trong lòng người chiến sĩ trẻ. Tiếng tu hú tuy bình dị, giản đơn nhưng là tiếng lòng sâu thẳm của một người suốt đời mình khao khát được cống hiến cho cách mạng lại không may bị giặc giã giam cầm.

Bằng thể thơ lục bát quen thuộc, kết hợp với các thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu như liệt kê, tả cảnh ngụ tình cùng lối viết giản dị mà giàu sức biểu đạt tác giả đã tạo nên một thi phẩm độc đáo, dạt dào cảm xúc và mang sức sống lâu bền qua bao thế hệ. Có thể nói, bài thơ đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu mỗi khi nhắc đến hồn thơ Tố Hữu và thơ ca cách mạng.

Đọc nhiều hơn ☀️ Phân Tích Vào Nhà Ngục Quảng Đông Cảm Tác ☀️ 10 Mẫu Hay Và Đặc Sắc Nhất

Cảm Nhận Bài Thơ Khi Con Tu Hú Lớp 8 – Mẫu 10

Bài văn mẫu cảm nhận bài thơ Khi con tu hú lớp 8 dưới đây sẽ là tư liệu hay hỗ trợ các em học sinh khi viết bài.

Tố Hữu, bằng cảm xúc chân thật của mình, đã cất lên tiếng nói tâm tình tha thiết của người chiến sĩ cộng sản suốt đời chiến đấu cho lí tưởng và tâm hồn khát khao tự do đến cháy bỏng trong bài thơ “Khi con tu hú”.

Nhan đề bài thơ là một sự diễn đạt chưa trọn ý một cách kì lạ. Kì lạ bởi chính chỗ chưa trọn vẹn đó đã mở ra bao nhiêu liên tưởng. Giờ đây, người ta không còn thấy bóng dáng cô đơn, nặng nề của người tù Tố Hữu mà chỉ nghe tiếng lòng nhà thơ đang rộn ràng, ngân vang khi đón nhận lấy tiếng chim tu hú từ xa rộn về.

Tu hú gọi bầy là âm thanh hết sức quen thuộc ở chốn làng quê Việt Nam, báo hiệu cho sự chuyển mình của sự sống – mùa hè về. Lúc này, khi con tu hú gọi bầy, trong hoàn cảnh tách biệt với cuộc sống bên ngoài, người chiến sĩ cách mạng càng cảm thấy ngột ngạt hơn, tù túng hơn, vì vậy mà càng thêm khát khao cháy bỏng hướng đến cuộc sống tự do tươi đẹp bên ngoài:

“Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào tầng không. ”

Mười chín tuổi, còn trẻ trung, bồng bột, người thanh niên Tố Hữu đã tìm thấy cho mình lí tưởng cao đẹp cuộc đời. Những bước đi không mỏi mệt trên chặng đường chông gai, phút chốc phải dừng đột ngột, bị bó buộc tù hãm khiến cho Tố Hữu không khỏi có lúc thốt lên chua xót: “Cô đơn thay là cảnh thân tù”. Nhưng rồi phút giây ấy cũng nhanh chóng đi qua, nhường chỗ cho không gian cảnh vật tràn trề nhựa sống: những bông lúa chín, hạt bắp vàng, ánh nắng đào, trời xanh rộng, đôi sáo diều, tiếng ve ngân…

Phải có một sự tưởng tượng lãng mạn, bay bổng và một tâm hồn mến yêu sự sống sâu sắc mới có thể vẽ lại toàn bộ bức tranh phong cảnh mùa hè sống động đến vậy. Thiên nhiên hiện lên tuyệt đẹp kia không phải là hiện thực, tất cả chỉ là sự tưởng tượng của một tâm hồn mơ mộng khi căng tất cả các giác quan để nghe, để nhìn, để ngửi, để cảm nhận không khí hè qua tiếng gọi bầy của tu hú.

Chỉ bằng vài đường nét, màu sắc, âm thanh, nhà thơ đã phơi bày một bức tranh đầy nhựa sống với cánh đồng lúa chiêm quen thuộc của quê hương đã bao lần đi vào thơ Tố Hữu:

“Đây từng ô mạ xanh mơn mởn
(…)
Ôi ruộng đồng quê hương thương nhớ ơi!”

Giờ đây lại hiện về trong trạng thái căng đầy nhất, viên mãn nhất, lúa ngả vàng, ngả sang màu niềm vui, là màu vàng rực rỡ của mùa hè, của mồ hôi kết tinh thành hạt thóc.

Với một tâm hồn lãng mạn tinh tế, Tố Hữu đã cảm nhận sự thay đối của màu nắng với nhiều góc độ: từ ánh nắng của “đôi ánh lạt ban chiều” (Tâm tư trong tù), ánh nắng yếu ớt dễ bóp nghẹt bởi bóng tối tới một “ánh nắng đào” giữa mùa hè, lấp đi dấu ấn của “vườn râm”. Câu thơ là một không gian thoải mái với sắc hồng kì lạ. Đó là thứ ánh sáng êm dịu, hiền hậu, vỗ về cho con người trước những mất mát, đau khổ trong cuộc đời. Có lẽ từ chính sự gặp gỡ tuyệt diệu của chàng thanh niên trẻ tuổi:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim”

đã khiến cho ánh nắng mùa hè có sự thay đổi tinh tế đến vậy. Và sự xuất hiện của bầu trời trong vắt như mặt nước yên bình nâng tầm bay cho các cánh diều đã đẩy tầm nhìn, tầm nhận thức của nhà thơ lên đến độ sâu nhất, xa nhất, cao nhất:

“Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”

Thấp thoáng trong ánh nhìn người tù, là một không gian mở rộng đến vô cùng vô tận. Mặc dù có thể lúc ấy ánh nhìn của nhà thơ – chiến sĩ có phần bị che khuất đi bởi chấn song nhà tù chật hẹp. Trên bầu trời lúc này không phải là một mình lẻ loi, con sáo diều cũng có đôi, có cặp, có được sự tự do bay lượn trong vùng trời riêng kia. Huống chi là con người. Vậy mà, thực tế thì sao? Con người cô đơn, cô đơn hơn bao giờ hết, và mất tự do.

Không ngẫu nhiên mà bài thơ có sự bổ đôi của hai câu thơ lục bát. Nhà thơ diễn tả bức tranh mùa hè sống động đối lập với cảnh mùa đông trong ngục tối đã làm nổi bật lên khát vọng cháy bỏng của người chiến sĩ trên con đường tìm đến tự do. bốn câu thơ kết đã lắng lại cho tiếng lòng náo nức bật lên:

“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu”

Khổ thơ là lời bộc lộ trực tiếp cho tâm tư con người. Bốn câu cảm thán là sự dồn nén những cảm xúc mãnh liệt của một trái tim đau khổ, uất hận vì mất tự do. Nhà thơ nghe hè, cảm nhận hè chỉ qua tiếng chim tu hú gọi bầy. Hè đã đến, ba tháng trong ngục tối cũng đã trôi qua, lòng người thanh niên đầy nhiệt huyết càng trỗi dậy mạnh mẽ hơn tiếng gọi lên đường, tiếng gọi của tự do.

Từ trong sâu thẳm tâm tư mình, người tù đã nhận ra tất cả cuộc sống náo nức, vui tươi bên ngoài lúc chỉ là tưởng tượng, bởi đó là tất cả những hình ảnh tồn tại trong trí nhớ của nhà thơ. Đó là những cánh đồng, những vườn cây trái, những vườn râm. Còn hiện tại, kẻ thù đang giày xéo quê hương, đã biến bao đồng quê thành hoang mạc và thực chất không gian tự do mà nhà thơ khát khao bên ngoài kia cũng chỉ là một không gian tù hãm, một cái lồng to giam chí lớn, như chụp lên cuộc sống con người, lên quê hương.

Cho nên, khổ thơ là sự bừng tỉnh của lí trí, là tâm trạng uất ức, ngột ngạt muốn đạp bỏ tất cả, tìm đến không gian tự do, tự tại thật sự. Bằng cách ngắt nhịp mạnh kết hợp với những từ ngữ mạnh mẽ: “đạp tan”, “chết uất”, câu thơ đã tập trung cao độ tinh thần yêu đời, yêu người cháy bỏng.

Tiếng kêu tu hú cứ day đi day lại cả bài thơ, như thúc giục, như lời thôi thúc người tù vượt thoát cảnh giam cầm, tìm về với tự do. Có lẽ vì vậy mà ba năm sau, Tố Hữu đã vượt ngục và quay về đội ngũ, để làm tròn ước nguyện cống hiến tất cả cuộc đời cho cách mạng.

“Khi con tu hú” là một bài thơ kết hợp hài hoà của cảnh và tình. Cảnh mở ra rạo rực, tha thiết, tình lắng đọng da diết, trầm buồn. Với tâm hồn dân tộc, ngòi bút linh hoạt, mềm mại, Tố Hữu xứng đáng với danh hiệu con chim đầu đàn trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam.

Đừng bỏ qua 🔥 Phân Tích Đập Đá Ở Côn Lôn 🔥 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Cảm Nhận Bài Thơ Khi Con Tu Hú 6 Câu Đầu – Mẫu 11

Tham khảo bài văn mẫu cảm nhận bài thơ Khi con tu hú 6 câu đầu dưới đây để đi sâu phân tích và cảm thụ đoạn thơ.

Đằng sau những song sắt của nhà tù thực dân, nơi tưởng chừng có thể giam giữ và cầm tù người chiến sĩ cách mạng, nhưng trong đó ngọn lửa của lòng yêu nước vẫn không ngừng cháy, trí căm hờn vẫn vút lên hòa vào từng câu thơ trong bài thơ “Khi con tu hú” của Tố Hữu. Đặc biệt, với tình yêu thiên nhiên mãnh liệt, nhà thơ đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên mùa hè xứ Huế sôi nổi, phong phú và khát khao tự do đến cháy bỏng qua sáu dòng thơ:

“Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt dầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”…

Bài thơ được sáng tác trên con đường nhà thơ hoạt động cách mạng và bị bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ của Huế. Trong bức tranh thiên nhiên tràn đầy hương sắc, ta có thể nhận thấy tác giả gửi gắm nhiều tâm sự trong đó qua nghệ thuật tả cảnh sinh động.

Bức tranh thiên nhiên hiện lên rõ nét bằng cách sử dụng nhiều từ ngữ có tính chọn lọc cao như các tính từ chỉ mức độ “chín, ngọt”, các tính từ chỉ màu sắc “vàng, đào, xanh”, các từ miêu tả không gian “rộng, cao” kết hợp cùng biện pháp tu từ liệt kê giúp người đọc hình dung được bức tranh mùa hè với mùi vị, âm thanh, sắc màu rực rỡ, đa dạng, sinh động. Bên cạnh đó, việc sử dụng thể thơ quen thuộc mang đậm tính dân gian đã giúp nhà thơ bộc lộ tâm trạng, khao khát tự do một cách dễ dàng.

Bức tranh thiên nhiên hiện lên trong tâm trí thi nhân với đầy đủ màu sắc, ánh sáng và âm thanh. Bức tranh ấy thật rộn ràng khi ta bất chợt nghe:

“Khi con tu hú gọi bầy”

Tiếng “tu hú” là tiếng gọi báo hiệu mùa hè tới khi hoa phượng ngoài kia đang đỏ rực, bằng lăng nở tím cả góc trời báo hiệu cái nắng chói chang của mùa hạ. Tiếng “tu hú” làm thổn thức tâm hồn thi nhân với khao khát tự do đến cháy bỏng. Tuy nhiên, bức tranh thiên nhiên ấy không chỉ có tiếng chim “tu hú” mà còn có cả những âm thanh râm ran của những chú ve trong vòm lá:

“Vườn râm dậy tiếng ve ngân”

Tất cả được hòa quyện cùng tiếng sáo diều trên bầu trời xanh thẳm:

“Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”

Không chỉ có âm thanh của “tiếng tu hú”, “tiếng ve ngân”, tiếng “con diều sáo” đang di chuyển trên bầu trời mà bức tranh ấy còn tràn ngập sắc màu tươi vui khi:

“Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần”

Những cánh đồng lúa chín vàng trải dài bất tận báo hiệu một mùa bội thu thuận lợi. Trong cơn gió thoảng của mùa hè, nhà thơ ngửi thấy một mùi hương quen thuộc của quê nhà đó là mùi hoa quả chín tác động vào khứu giác làm ta bất chợt nhớ tới “hương ổi” trong bài thơ “Sang thu” của nhà thơ Hữu Thỉnh:

“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se”

để báo hiệu mùa thu đang đến cận kề. Với Tố Hữu cũng vậy, nhà thơ đã nhận ra mùi hoa quả đang chín ngọt dần báo hiệu một mùa hè đang tới với biết bao mong đợi. Không chỉ có màu vàng của lúa chín, bức tranh thiên nhiên ấy còn có màu vàng của những sân ngô, màu xanh hi vọng của bầu trời cao vút:

“Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao”.

Với tất cả tin yêu, nhà thơ đã phác họa bức tranh thiên nhiên mùa hè sống động tràn đầy mới mẻ và tươi vui. Chắc hẳn nhà thơ là một người yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước đến cháy bỏng nên mới có những cảm nhận tuyệt vời đến vậy. “Thơ ca vốn là sự thăng hoa của cảm xúc”.

Bởi vậy, bức tranh thiên nhiên ấy còn chứa đựng những nỗi lòng của thi nhân. Nhà thơ như muốn phá tan song sắt để bước đến với thiên nhiên, để được cảm nhận và hòa quyện với những tinh hoa đất trời. Phải chăng, tiếng chim “tu hú gọi bầy”, “tiếng ve ngân” đã làm cho nhà thơ thổn thức đến vậy?

Bằng ngòi bút tinh tế, nhà thơ đã phác họa thành công bức tranh thiên nhiên với đầy đủ màu sắc, hương vị và âm thanh. Với nghệ thuật tả cảnh sinh động, từ ngữ giản dị giàu tính tạo hình cùng với phép liệt kê, nhà thơ đã tạo ra những ấn tượng khó quên trong lòng bạn đọc. Giọng điệu sôi nổi hào hứng như đang rạo rực cùng mùa hè đã khiến chúng ta như bị cuốn hút bởi bức tranh thiên nhiên rực rỡ đó.

Qua bức tranh thiên nhiên, ta cảm nhận được tình yêu thiên nhiên, quê hương tha thiết của nhà thơ. Thổi hồn vào đó là khao khát được tự do đến mãnh liệt. Bài thơ đã giúp chúng ta hiểu thêm nét đẹp trong tâm hồn của người chiến sĩ cộng sản. Đó là những rung động mãnh liệt với hơi thở của cuộc sống tự nhiên.

Tiếp tục đón đọc 🌳 Phân Tích Muốn Làm Thằng Cuội 🌳 15 Bài Văn Hay Nhất

Cảm Nhận Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Khi Con Tu Hú – Mẫu 12

Chia sẻ dưới đây bài văn mẫu cảm nhận khổ thơ cuối bài thơ Khi con tu hú để các em học sinh cùng tham khảo.

Tố Hữu là một nhà thơ nổi bật trong nền thơ ca Cách mạng và kháng chiến. Thơ của ông là sự hòa quyện giữa cuộc đời cách mạng và chặng đường thơ. Ông giác ngộ Cách mạng từ rất sớm, coi lý tưởng Cách mạng là “mặt trời chân lý” của cuộc đời mình.

Khi bị bắt tù đày trong nhà lao Thừa Phủ, Huế, với một tâm trạng bức bối, khao khát tự do cháy bỏng, ông đã viết lên tác phẩm “Khi con tu hú”. Bài thơ là tình yêu tha thiết của ông dành cho cuộc sống và hơn cả là khao khát tự do đến cháy bỏng trong lòng được thể hiện qua từng vần thơ, đặc biệt là bốn câu thơ cuối của bài:

“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!”

Bài thơ được gợi mở bằng tiếng chim tu hú – loài chim đặc trưng của ngày hè, thường cất tiếng gọi nhau để báo hiệu hè về. Tiếng chim ấy cất lên giữa lúc tác giả đang bị nhốt giữa bốn bức tường tù đày lạnh lẽo, khiến cho ông cảm thấy vô cùng ngột ngạt, vô cùng bức bối. Bằng trí tưởng tượng của mình, trong ngục tù, Tố Hữu đã vẽ lên một bức tranh ngày hè đầy sống động, với đầy đủ âm thanh, sắc màu và những hình ảnh đặc trưng của mùa hè.

Đoạn thơ chỉ với sáu câu là bức tranh rực rỡ, đẹp đẽ vô cùng, sống động và chân thực vô cùng, thế nhưng, trái ngược với nó lại là hoàn cảnh tù đày khắc nghiệt mà người tù Cách mạng đang phải chịu đựng. Và hoàn cảnh ấy đã khiến cho Tố Hữu cảm thấy thật đau khổ, bức bối, ngột ngạt, một lòng khao khát được thoát ra, được trở lại với cuộc sống ngoài kia.

“Ta nghe hè dậy bên lòng”

Mùa hè đã đến, đã bừng tỉnh, “dậy” bên ngoài khung cửa sổ, thế nhưng người tù lại chẳng thể nào được tận hưởng những phút giây tuyệt vời ây. Điều đó đã đẩy cao sự bức bối mà Tố Hữu đã cất giữ trong lòng từ lâu. Câu thơ là tiếng than mỏi mệt, buồn bã, đầy thất vọng.

Nghệ thuật chuyển đổi cảm giác được Tố Hữu khai thác triệt để ở đây, khi ông cảm nhận ngày hè bằng thính giác chứ không phải là thị giác, xúc giác như bình thường. Bởi hoàn cảnh ngục tù đã khiến cho ông chẳng thể chứng kiến được không gian mùa hè trong trẻo ngoài kia. Tất cả chỉ có thể mường tượng, tận hưởng, “nghe” tiếng mùa hè vẫy gọi ở trong lòng mà thôi.

Mùa hè tới mà ông chẳng thể chạm vào, có lẽ chính vì thế mà tâm trạng bức bối của nhà thơ càng lên tới đỉnh điểm hơn, làm ông khao khát được tự do hơn bao giờ hết. Bốn bức tường kín mít che khuất tầm nhìn của ông, che mất cả sự tự do ông hằng yêu quý, vậy nên, nhà thơ muốn phá tan tất cả, đạp nát hết thảy mọi thứ để được ra ngoài, trở về với thiên nhiên, với cuộc sống tươi đẹp và tự do bên đồng đội của mình:

“Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi”

Tố Hữu đã dùng ở hai câu thơ này hai động từ mạnh để diễn tả cảm xúc bùng nổ của mình. Ông muốn “đạp tan” phòng giam lạnh lẽo, để bước ra ngoài thứ ánh sáng mà ông đang khao khát bấy lâu. Nghe đâu đây như tiếng thét đầy đau khổ của người tù muốn phá nát, đập tan hết thảy mọi thứ để có thể thoát ra, để được sống những giây phút tự do của mình.

Sự bức bối khi phải trong lao tù đã khiến nhà thơ cảm tưởng như “chết uất thôi”. “Chết uất” trong sự ngột ngạt này, sự bức bối đến phát điên này. Tâm trạng của người thanh niên trẻ giờ đây đã dâng lên đến tột đỉnh, ông uất nghẹn, ngột ngạt, ông muốn phá tan xiềng xích để hướng đến tự do, trở về tiếp tục sự nghiệp cách mạng còn dang dở ngoài kia.

Tố Hữu cũng sử dụng ở bốn câu thơ này một loạt những từ ngữ cảm thán để thể hiện niềm xúc cảm đang cuộn trào, sục sôi trong lòng mình. Các từ cảm thán liên tiếp xuất hiện “ôi, thôi, làm sao” như muốn thể hiện cái cảm xúc đang dâng trào thật mạnh mẽ trong tim, cảm giác tự do thôi thúc mãnh liệt trong lồng ngực người tù trẻ tuổi.

Và câu thơ “Ngột làm sao, chết uất thôi” như một tiếng kêu đầy đau khổ, đầy bức bối khi bị tước đi tự do và khao khát cháy bỏng được thoát ra ngoài, được tự do.

Như chúng ta thấy, bài thơ được mở đầu là tiếng chim tu hú, nó là thứ khơi gợi, đánh thức, làm bừng tỉnh, sống động tâm hồn của nhà thơ. Nó cũng như tiếng gọi tha thiết của cuộc sống tự do ngoài khung cửa sổ với người cộng sản. Và tiếng chim tu hú ở câu thơ kết bài thơ lại dồn dập hơn như một lời thúc giục, lời mời gọi tha thiết khiến ông càng cảm thấy ngột ngạt, bức bối hơn xiết bao!

Ông khao khát tự do biết chừng nào, mà tiếng chim bên ngoài kia thật lảnh lót, gọi mời khiến ông trở nên bực bội, tức tối hơn bởi ông chẳng thể ra ngoài mà hòa mình vào tiếng gọi ấy. Lời thơ cuối như một lời trách cứ, hờn dỗi với tiếng chim tu hú ngày hè:

“Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!”

Con chim “cứ kêu” khiến người tù Cách mạng trẻ tuổi càng thổn thức, dằn vặt hơn bao giờ hết. Bởi ông đang da diết nhớ sự tự do, nhớ tới cuộc sống tươi đẹp ngoài kia. Nhịp thơ 6/2, 3/3 được nhà thơ sử dụng triệt để như muốn đặt vào trong đó tất cả những xúc cảm, những bức bối và khao khát tự do tới cháy bỏng của mình.

Bốn câu thơ cuối của bài thơ Khi con tu hú đã bộc lộ thật rõ ràng những xúc cảm đầy ngột ngạt, bức bối của Tố Hữu khi phải chịu cảnh tù đày trong bốn bức tường nhà giam Thừa Phủ. Hòa vào trong từng câu thơ là khát vọng tự do mãnh liệt, tới chảy bỏng khi ông nghe thấy những thanh âm tiếng chim vang vọng qua khung cửa sổ ngoài kia.

Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn ngủi, Tố Hữu đã thể hiện hết được những cảm xúc, những tình cảm, những bức bối, ngột ngạt và cả khao khát tự do cháy bỏng của mình. Qua đó, ta có thể hiểu rõ hơn về hoàn cảnh đau khổ của những người tù Cách mạng và nguồn sống mãnh liệt luôn sục sôi trong họ.

Giới thiệu tuyển tập 🔥 Phân Tích Nước Đại Việt Ta 🔥 12 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Viết một bình luận