Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người ❤️️ 15 Mẫu

Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người ❤️️ 15 Mẫu ✅ Chia Sẻ Tuyển Tập Bài Văn Mẫu Hay Và Đặc Sắc Nhất Viết Về Bi Kịch Của Chí Phèo.

Dàn Ý Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người

Lập dàn ý phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người sẽ giúp các em học sinh nắm bắt được bố cục và những luận điểm chính. Tham khảo mẫu phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người dàn ý chi tiết như sau:

a) Mở bài phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người:

-Giới thiệu tác giả và tác phẩm:

  • Nam Cao (1917 – 1951) là nhà văn hiện thực lớn, nhà báo kháng chiến, một trong những nhà văn tiêu biểu nhất có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20.
  • Chí Phèo là một trong những tác phẩm có giá trị hiện thực cao giúp cho người đọc có cái nhìn khái quát hơn về một hiện tượng xã hội ở vùng nông thôn Việt Nam trước năm 1945.

-Giới thiệu bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo: Bằng ngòi bút hiện thực, Nam Cao đã khắc họa thành công bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo.

b) Thân bài phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người:

*Khái quát về tác phẩm:

  • Hoàn cảnh sáng tác: Truyện được Nam Cao viết năm 1941 dựa trên cơ sở người thật, việc thật ở làng Đại Hoàng, ông đã hư cấu, sáng tạo nên một bức tranh hiện thực sinh động về xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám với tất cả sự ngột ngạt, tối tăm cùng những bi kịch đau đớn, kinh hoàng.
  • Giá trị nội dung: Truyện đã khái quát một hiện tượng xã hội ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám: một bộ phận nông dân lương thiện bị đẩy và tình trạng lưu manh hóa.

*Thế nào là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người?

  • Bi kịch là sự mâu thuẫn, đối lập giữa hiện thực đời sống với khát vọng, mơ ước, mong muốn con người.
  • Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người: Sự mâu thuẫn giữa khát vọng quay trở lại làm một con người, khát khao được đối xử như một con người nhưng không được của Chí Phèo.

*Luận điểm 1: Bi kịch thể hiện trong tiếng chửi của Chí Phèo ở đầu truyện.

  • “Hắn vừa đi vừa chửi”: sự xuất hiện tự nhiên.
  • Qua tiếng chửi, chân dung nhân vật hiện lên:
  • Kẻ lưu manh cứ rượu vào là chửi
  • Đằng sau đó thấy Chí Phèo là nạn nhân ra sức cựa quậy, mong muốn được coi là người bình thường
  • Chí Phèo mong muốn được giao cảm với cuộc đời, nhưng không ai đáp lại, không ai coi hắn như một con người.

*Luận điểm 2: Bi kịch bị khước từ quyền làm người ngay từ khi sinh ra

  • Ngay từ khi sinh ra, Chí Phèo đã không được đối xử như một con người
  • Bị bỏ rơi tại lò gạch cũ giữa cánh đồng mùa đông
  • Không cha, không mẹ, không nhà, không cửa, không một tấc đất cắm dùi
  • Tuổi thơ sống trong bất hạnh
  • Đã từng ước mơ lương thiện nhưng xã hội đã bóp chết ước mơ lương thiện ấy
  • Chí Phèo đáng thương đã không được đối xử như một đứa trẻ bình thường, ngay từ khi mới sinh ra đã bị chối bỏ.

*Luận điểm 3: Bi kịch tha hóa là cơ sở dẫn đến bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người

-Sự kiện Chí Phèo bị bắt vào tù:

  • Vì Bá Kiến ghen với vợ hắn.
  • Chế độ nhà tù thực dân đã biến Chí trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”

-Hậu quả của những ngày ở tù:

  • Hình dạng: “Cái đầu trọc lốc, hàm răng cạo trắng hớn, cái mặt thì cơng cơng đầy những vết sứt sẹo, hai con mắt gườm gườm” – > Chí Phèo đánh mất nhân hình.
  • Nhân tính: du côn, du đãng, triền miên trong cơn say, đập đầu, chửi bới, phá phách và làm công cụ cho Bá Kiến – > Chí Phèo đã đánh mất nhân tính.

-Quá trình tha hóa của Chí Phèo:

  • Đến nhà Bá Kiến trả thù. Chí mắc mưu, trở thành tay sai cho Bá Kiến.
  • Chí đã bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính, là điển hình cho hình ảnh người nông dân bị đè nén đến cùng cực.

*Luận điểm 4: Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người

-Nguyên nhân: do bà cô Thị Nở không cho Thị lấy Chí Phèo, định kiến của xã hội.

-Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo:

  • Lúc đầu: Chí ngạc nhiên trước thái độ của Thị Nở
  • Sau Chí hiểu ra mọi việc: Tuyệt vọng, Chí uống rượu rồi xách dao đến nhà Bá Kiến đâm chết Bá Kiến và tự sát.

-Ý nghĩa hành động đâm chết Bá Kiến và tự sát của Chí:

  • Đâm chết Bá Kiến là hành động lấy máu rửa thù của người nông dân thức tỉnh về quyền sống.
  • Cái chết của Chí Phèo là cái chết của con người trong bi kịch đau đớn trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống làm người.
  • Chí Phèo là tiêu biểu cho số phận người nông dân trong xã hội cũ bị chèn ép, đẩy vào bước đường cùng.

*Đặc sắc nghệ thuật:

  • Xây dựng nhân vật điển hình vừa sống động, vừa có cá tính độc đáo
  • Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo
  • Kết cấu truyện mới mẻ, tưởng như tự do nhưng lại rất chặt chẽ
  • Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn, biến hóa giàu kịch tính
  • Ngôn ngữ sống động, vừa điêu luyện lại vừa gần gũi, tự nhiên
  • Giọng điệu đan xen biến hóa, trần thuật linh hoạt.

c) Kết bài phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người:

  • Khái quát lại bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo.
  • Nêu cảm nhận, đánh giá của em về bi kịch.

Ngoài phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người, tại SCR.VN còn có 🌺 Tóm Tắt Chí Phèo 🌺 21 Bài Tóm Tắt Truyện Hay

Bài Văn Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người – Mẫu 1

Tham khảo bài văn phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người dưới đây sẽ giúp các em học sinh có những định hướng làm bài cụ thể nhất.

Nam Cao là cây bút hiện thực phê phán xuất sắc, là nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Sáng tác của ông chủ yếu ở hai mảng đề tài : viết về người trí thức nghèo và về những người nông dân cùng khổ. Ở mảng đề tài viết về người nông dân, “Chí Phèo” là một kiệt tác.

Trong tác phẩm này, nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Chí Phèo với bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Đây là bi kịch phản ánh sâu sắc nỗi thống khổ của Chí Phèo nói riêng, của người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám nói chung.

Truyện ngắn “Chí Phèo” ra đời trước Cách mạng tháng Tám. Ban đầu truyện có tên là “Cái lò gạch cũ”, khi in thành sách lần đầu, nhà xuất bản tự ý đổi thành “Đôi lứa xứng đôi”, sau này, khi in lại trong tập “Luống cày” (1946) nhà văn đổi lại thành “Chí Phèo”.

Truyện kể về nhân vật Chí Phèo. Thuở nhỏ, Chí bị cả cha lẫn mẹ bỏ rơi, sống bơ vơ bất hạnh. Lớn lên đi làm thuê cho nhà Bá Kiến, bị Bá Kiến ghen, đẩy vào tù. Khi ra tù, Chí thay đổi hẳn cả nhân hình lẫn nhân tính. Hắn trở thành tay sai của Bá Kiến, là con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Rồi hắn gặp Thị Nở, một cô gái xấu “ma chê quỷ hờn”.

Bát cháo hành cùng với tình thương yêu, sự quan tâm chăm sóc của Thị đã thức tỉnh phần người bấy lâu nay bị vùi lấp sâu trong tâm hồn Chí. Chí Phèo ao ước được trở lại làm người lương thiện, hắn hi vọng rằng Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Nhưng bà cô Thị ngăn cấm. Chí nhận ra bi kịch đau đớn : bị cự tuyệt quyền làm người. Chí bèn xách dao đến nhà Bá Kiến, kẻ đã gây ra bi kịch của hắn, giết chết Bá Kiến rồi tự vẫn.

Bi kịch vốn được hiểu là những khát vọng chân chính, cháy bỏng, mãnh liệt của một con người nhưng không có điều kiện thực hiện trên thực tế, cuối cùng người mang khát vọng bị rơi vào kết cục của một thảm kịch bi thương. Chí Phèo suốt đời mang khát vọng cháy bỏng được làm người lương thiện thế nhưng lại trở thành kẻ bất lương, sinh ra là người nhưng không được làm người để rồi chết trên con đường trở về lương thiện.

Bước vào câu chuyện, người đọc ấn tượng ngay với hình ảnh một thằng say “vừa đi vừa chửi”: “Hắn chửi trời…Rồi hắn chửi đời…chửi cả làng Vũ Đại…chửi đứa nào không chửi nhau với hắn…chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn…”. Mới đọc, ai cũng hình dung ra hình ảnh Chí Phèo ngật ngưỡng trong cơn say, bước đi liêu xiêu và lè bè chửi; và chắc rằng ai cũng cảm thấy bật cười trước hình dung này.

Tuy nhiên, đọc và ngẫm cho kĩ, sau cái cười lại là niềm thương cảm, đau đớn cho Chí Phèo. Hắn chửi và mong người ta đáp chửi lại hắn bởi như thế người ta còn coi hắn là con người. Nhưng không ai lên tiếng vì không còn ai công nhận hắn là người. Đằng sau tiếng chửi ấy là nỗi khao khát được giao tiếp với đồng loại dẫu bằng hình thức tồi tệ nhất, là nỗi cô đơn khủng khiếp của một người bị xã hội dứt khoát cự tuyệt quyền làm người, không được coi là con người .

Từ cách mở đầu ấn tượng đó, Nam Cao dẫn dắt người đọc trở lại với quá khứ, giúp người đọc nhận thấy bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người từ thấp đến cao của Chí , đồng thời hiểu ra căn nguyên nào dẫn đến tình trạng ấy.

Sinh ra, Chí đã bị ba mẹ cự tuyệt quyền làm người: sự ra đời của nó không ai chờ đợi, cha nó không thừa nhận, mẹ nó bỏ nó trong một lò gạch hoang mặc cho sống chết. Được cứu sống nhưng ngay lập tức hắn trở thành hàng hóa mua qua bán lại. Sau khi bác phó cối chết, hắn trở thành kẻ bơ vơ.

Đời Chí bọt bèo, lênh đênh tội nghiệp chẳng khác nào cây hoang, cỏ dại trôi hết góc này đến số nọ, không người chăm sóc, dạy dỗ. Nhưng không vì thế mà hắn trở nên hư hỏng mà trái lại, “hắn hiền như cục đất”, ai sai gì hắn làm nấy, ai bảo gì hắn nghe vậy. Làm thuê trong nhà Bá Kiến, hắn là anh canh điền chăm chỉ, cần cù, chỉ biết làm ăn, biết tự trọng, có nhân cách.

Nhưng Bá Kiến, nhà tù thực dân đã ra sức hủy diệt sự lương thiện ở Chí. Bá Kiến ghen vu vơ đã nhẫn tâm đẩy Chí Phèo vào tù, nhẫn tâm biến người dân hiền lành trở thành tù nhân. Nhà tù thực dân đã tiếp tay cho lão cường hào, bắt giam là anh Chí vô tội nhưng thả ra là một Chí Phèo lưu manh, tha hóa.

Trở về, không gia đình, không người thân thích, không nơi nương tựa, không nghề nghiệp mưu sinh, hắn trở thành tay sai của Bá Kiến. Hắn sống bằng chửi bới, dọa nạt, đập đầu, rạch mặt, ăn vạ. Cái mặt của hắn trở nên méo mó thê thảm, “nó là mặt của một con vật lạ, nó vằn lên không biết bao nhiêu là sẹo, không thứ tự”. Hắn trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, tác oai tác quái gây họa cho bao nhiêu dân làng.

Hắn “phá tan bao nhiêu cơ nghiệp, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của không biết bao nhiêu là người lương thiện”. Bây giờ hắn không là con người nữa mà phải sống kiếp con vật, hắn sống trong vô thức, sống triền miên những cơn say. Sự thay đổi đáng sợ của Chí từ khi ra tù có nguyên nhân ban đầu là bởi sự xa lánh của mọi người khi hắn trở về.

Nếu như, khi về làng, hắn có được tình yêu thương chăm sóc của một số người, thậm chí chỉ là một người như Thị Nở, thì hắn đã không bị bóp méo cả nhân hình lẫn nhân tính. Thực tế không như thế. Người ta kì thị trước một kẻ đi tù về, không ai cho hắn một nguồn giao tiếp, không ai coi hắn là con người nên hắn cứ phải say, phải chửi cho quên hết. Lâu dần, người ta lại không coi hắn là con người nữa, hắn làm tay sai cho Bá Kiến để rồi ngày càng sa vào vũng lầy tội ác và không thể trở lại làm người nữa.

Từ khi gặp Thị Nở, Chí Phèo bắt đầu tỉnh táo. Tình yêu và sự chăm sóc của thị đã đánh thức phần người lương thiện bấy lâu nay bị vùi lấp sâu trong hình hài con quỷ dữ. Hắn “thèm được sống lương thiện, thèm được làm hòa với mọi người”. Hắn hi vọng Thị Nở sẽ mở đường cho hắn, bởi hắn nghĩ rằng, Thị Nở có thể sống được với hắn thì tại sao mọi người lại không thể.

Thế nhưng, bà cô Thị Nở – một đại diện của dân làng Vũ Đại – đã dập tắt ngay niềm hi vọng ấy. Sự ngăn cấm của bà cô khiến hắn bừng tỉnh nhận ra bi kịch đau đớn mà bấy lâu nay hắn đã mơ hồ nhận thấy: bị cự tuyệt quyền làm người. Lời bà cô Thị Nở làm hắn nhận ra những định kiến khắt khe của xã hội với hắn.

Định kiến xã hội đã không coi Chí như là con người, nó chối phắt Chí, đẩy Chí ra khỏi phạm vi loài người. Định kiến ấy không chịu nhận ra phần người lương thiện đã quay về, không chịu chấp nhận một kẻ như Chí. Có thể khẳng định rằng, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người lần này là đau đớn nhất.

Bà cô Thị Nở làm hắn nhận ra bi kịch đau đớn của cuộc đời mình, hắn lại uống rượu, nhưng lần này càng uống hắn càng tỉnh. Hắn xách dao ra đi, vừa đi vừa chửi “giết cả nhà nó”, “giết con khọm già nhà nó”, nhưng bước chân hắn lại đi thẳng đến nhà Bá Kiến. Có lẽ, khi phần người quay về thì nỗi đau, nỗi phẫn uất khiến lí trí vẫn tỉnh táo, hắn nhận ra kẻ thù. Đến nhà Bá Kiến, hắn lên tiếng đòi lương thiện thống thiết.

Tuy lên tiếng đòi lương thiện nhưng đồng thời Chí cũng đau đớn nhận ra không thể là người lương thiện được nữa: “ai cho tao lương thiện, làm thế nào cho mất hết những vết mảnh chai trên mặt này”. Nhận thức được bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người và nguyên nhân của bi kịch, Chí hành động quyết liệt: giết Bá Kiến. Giết lão bá rồi, Chí cũng không còn có thể sống mà làm người được, bây giờ, nếu Chí tiếp tục sống, hắn sẽ phải tiếp tục là con quỷ, hắn “chỉ còn một cách” là tự vẫn.

Hai vũng máu thảm khốc cuối tác phẩm chính là lời tố cáo sâu sắc nhất chế độ nhà tù thực dân và tầng lớp thống trị phong kiến. Những thế lực này đẩy Chí vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, và cùng với thế lực hủ tục phong kiến tước đoạt hẳn con đường trở về làm người của Chí.

Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, nhà văn tố cáo sâu sắc xã hội thực dân nửa phong kiến phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống của con người, đẩy con người vào “bước đường cùng”. Kết cấu truyện theo kiểu tâm lí, không theo thứ tự thời gian mà bắt đầu truyện bằng tiếng chửi đổng của Chí vừa gây sự chú ý, tò mò cho người đọc, vừa nhấn mạnh cái bi kịch đau đớn của Chí.

Đồng thời, lời văn kể chuyện nửa trực tiếp cũng góp phần tạo nên sự hấp dẫn của câu chuyện: trong tác phẩm, có đoạn là lời người kể chuyện hoàn toàn; cũng có đoạn nhà văn như hóa thân vào nhân vật, làm cho đoạn văn như là lời của chính nhân vật tự kể chuyện mình khiến người đọc thực sự khám phá được chiều sâu tâm hồn nhân vật. “Đôi mắt” đầy tình người của Nam Cao cùng với tài năng nghệ thuật của ông đã đưa “Chí Phèo” vào hàng những kiệt tác văn xuôi hiện đại.

Xây dựng thành công hình tượng nhân vật Chí Phèo và bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí, Nam Cao vừa tố cáo sâu sắc xã hội phi nhân tính vừa thể hiện tấm lòng thương yêu đồng cảm của mình với người nông dân đương thời. Với “Chí Phèo”, Nam Cao đã khắc tên mình vào nền văn học hiện đại Việt Nam.

Cùng với phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người, giới thiệu 🍀 Sơ Đồ Tư Duy Chí Phèo 🍀 11 Mẫu Vẽ Tóm Tắt Ngắn Hay

Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người Hay Nhất – Mẫu 2

Đón đọc bài văn mẫu phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người hay nhất được chọn lọc và chia sẻ trong nội dung dưới đây:

Có ý kiến cho rằng: Nếu không viết: “Chí Phèo”, Nam Cao đã để lại cho Văn học Việt Nam một khoảng trống lớn. Chí Phèo là tác phẩm đầu tay của Nam Cao trình làng với bạn đọc, ngay từ khi xuất hiện nó đã trở thành một vấn đề, một kiệt tác của trào lưu văn học hiện thực. Đây là tác phẩm tiêu biểu viết về người nông dân bởi đến đây người đọc mới hiểu thế nào là tận cùng nỗi khổ của người nông dân Việt Nam trong xã hội phong kiến.

Nếu như ở những tác phẩm của các nhà văn hiện thực khác: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… hình ảnh người nông dân chỉ hiện lên với những áp bức bất công, bị dồn đến bước đường cùng, nhưng họ vẫn còn giữ được con người mình, nhưng đến với Nam Cao thì đã có những khám phá phát hiện mới mẻ, ông không chỉ phát hiện ra bi kịch bị bần cùng hóa mà còn khám phá phát hiện ra bi kịch bị lưu manh tha hóa bị cự tuyệt quyền làm người của người nông dân.

Mở đầu trang văn, Nam Cao đã để cho Chí Phèo xuất hiện bằng một hình ảnh hết sức sống động độc đáo: Chí Phèo khật khưỡng vừa đi vừa chửi: tiếng chửi của Chí Phèo ngay lập tức cho người đọc hình dung về một sự việc bất bình thường. Vì lẽ gì mà một con người phải cất lên những tiếng chửi như vậy? Tại sao những tiếng chửi đó lại không được đáp trả…? Nhưng chúng ta sẽ thấy tiếng chửi này không phải là bâng quơ, không đơn giản mà nó rất logic, rất có dụng ý.

Ban đầu hắn chửi trời đến chửi đời rồi chửi ngay tất cả làng Vũ Đại… nhưng đối tượng của những tiếng chửi này là mơ hồ không xác định đến khi hắn chửi không biết đứa nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ thế này… thì đối tượng đã được xác định. Chí Phèo chửi để nhận thức nguyên nhân dẫn đến bi kịch của bản thân. Nhưng ngay lập tức hắn hiểu rằng tiếng chửi của hắn là vô vọng, hắn thấy thấm thía nỗi khốn khổ của số phận, hắn đã phải cất tiếng chửi để thèm mong có ai đó chửi lại hắn, để hắn có thể được giao tiếp với đời, với người.

Vậy mà không người nào chịu chửi lại hắn, có nghĩa là tất cả mọi người đã dứt khoái không coi hắn là người. Chửi lại hắn nghĩa là còn thừa nhận hắn là người, còn bằng lòng giao tiếp đối thoại với hắn. Chí chửi cả làng Vũ Đại với hy vọng sẽ có ai đó chửi lại. Nhưng hắn chỉ nhận lại một sự im lặng đáng sợ, và Chí vẫn còn lại một mình Chí trong sa mạc cô đơn: hắn cứ chửi rồi lại nghe, chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượu.

Bằng cách mở đầu truyện độc đáo thế này, tác giả không chỉ giới thiệu mà còn bắt đầu hé mở cho người đọc thấy tình trạng bi đát của một số phận, đó là số phận người nông dân bị xã hội tàn phá về tâm hồn, hủy diệt cả nhân tính, do đó bị phủ nhận giá trị, tư cách làm người. Nỗi thống khổ của Chí Phèo ban đầu tất cả là con số không: không nhà, không cửa, không cha mẹ, không họ hàng thân thích, không một tấc đất cắm dùi…

Nhưng đó mới chỉ là mở đầu, nỗi khổ đau đớn nhất của Chí Phèo là bị cả xã hội quay lưng lại, bị cướp mất linh hồn người, bị loại ra khỏi xã hội loài người, phải sống kiếp sống tối tăm của thú vật. Từ quá khứ đến hiện tại, từ bản chất đến hiện tượng Chí Phèo đã biến đổi.

Trong quá khứ Chí Phèo là một con người hiền như cục đất, có bản chất lương thiện, từ khi vào làm canh điền cho nhà Bá Kiến, rồi bị Bá Kiến đẩy vào tù, sau 7-8 năm ở tù ra, Chí Phèo đã rơi vào vô thức và bị lưu manh tha hóa, tất cả mọi hành động của Chí Phèo đều phải thông qua rượu, đều diễn ra trong vô thức : đâm thuê, chém mướn, cướp bóc, rạch mặt ăn vạ… Những tội ác của Chí cứ đầy lên trong con mắt người dân làng Vũ Đại.

Tưởng như số phận cuộc đời của Chí Phèo sẽ mãi mãi trượt dài trên cái dốc lưu manh tha hóa và rơi vào vực sâu của kiếp sống tội lỗi; nhưng sự xuất hiện Thị Nở đã đưa Chí Phèo từ vực sâu của kiếp sống lưu manh tha hóa đến bến bờ của cõi đời lương thiện. Đây có thể xem là một sự kiện trọng đại, một biến cố mở ra một bước ngoặt của cuộc đời Chí Phèo, đưa Chí Phèo trở lại với kiếp người. Sự xuất hiện của Thị Nở cùng bát cháo hành đã biểu hiện cho sự đồng cảm và tình người nhân hậu.

Người đàn bà xấu đến ma chê quỷ hờn kia lại là người duy nhất ở làng Vũ Đại biết được sao có lúc nó hiền đến thế. Hơi ấm của bát cháo hành chính là hơi ấm của tình người nhân hậu đã làm cho con người lương thiện bấy lâu chìm khuất trong hình ảnh của con quỷ dữ, thằng đầu bò đã phục sinh, giờ đây sức sống tâm hồn đã trỗi đậy trong Chí Phèo.

Sau khi con người lương thiện phục sinh, tính cách tâm hồn con người Chí Phèo đã tỉnh dậy lắng nghe những âm thanh bình dị mộc mạc hàng ngày mà lâu nay Chí quên lãng. Chí bỗng hồi tưởng về những kỉ niệm của thời êm đẹp :Ao ước có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm….

Đáng lẽ ra hắn cũng sẽ có được một cuộc sống bình thường như bao người khác nhưng giờ đây khi hắn tỉnh dậy hắn mới thấy hắn đã già mà vẫn còn cô độc hắn vẫn đang sống bên lề cuộc đời một cách khốn nạn, hắn cảm thấy buồn, cảm thấy tủi nhục. Hơn lúc nào hết, lúc này hắn mong ước được làm người, được trò truyện…

Nhưng những giây phút được yêu của cuộc sống lứa đôi Chí Phèo – Thị Nở thật ngắn ngủi, hạnh phúc vừa hé mở đã khép lại. Chí Phèo và Thị Nở đã dắt tay nhau tới ngưỡng cửa cuộc đời nhưng bị từ chối phũ phàng bởi định kiến xã hội mà bà cô Thị Nở là đại diện. Khi tỉnh dậy và đối diện với hiện thực, Chí Phèo mới giật mình và nhận thức một cách sâu sắc hơn, rằng hắn đã bị từ chối khỏi cộng đồng và không thể trở thành người lương thiện trong con mắt mọi người được nữa.

Khi con người lương thiện trong Chí Phèo đã phục sinh thì hắn lại càng khao khát được làm người hơn bao giờ hết. Nhưng khao khát vẫn chỉ là khao khát, như ánh cầu vồng vụt tắt sau cơn mưa, như ngọn lửa nhỏ bị dập tắt khi mới vừa được nhen nhóm khát vọng làm người của hắn đã bị cự tuyệt hoàn toàn. Chí lại trở về với sự cô độc, và đau đớn, xót xa khi nhận ra mình đã không còn đường về quay trở lại: Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất những hết mảnh chai trên mặt này?

Đây chính là sự tự ý thức cao độ của Chí Phèo về bi kịch của bản thân mình. Hình ảnh những vết mảnh chai trên mặt chính là dấu vết của những năm tháng tội đồ. Hình ảnh này đã hằn sâu trong tâm trí của người dân làng Vũ Đại và trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với họ. Trong con mắt của mọi người, Chí Phèo là con quỷ dữ. Thằng đầu bò và hình ảnh này không thể tẩy xóa đi được nữa. Chính định kiến đã ngăn cản bước chân của Chí Phèo tìm về với cõi đời lương thiện.

Hơn ai hết, Thị Nở là người đem lại cho Chí Phèo sự đồng cảm về tình người nhân hậu, nhưng chính Thị Nở cũng là người đẩy Chí Phèo đến bờ vực của cái chết. Thị vừa là phương tiện, là công cụ lại vừa là nạn nhân của định kiến.

Đến đây, Chí Phèo rơi vào bi kịch của sự lựa chọn giữa sự sống và nhân cách cái Và cuối cùng, Chí Phèo đã tìm đến cái chết để khẳng định nhân cách của mình Chí Phèo cầm dao đâm chết Bá Kiến – kẻ thù lớn nhất của đời mình rồi tự sát. Chí Phèo đã lựa chọn – một sự lựa chọn nghiệt ngã, nhưng đó là cách duy nhất để con người lương thiện trong Chí được sống, để nhân cách con người của hắn được tồn lại.

Hành động tự sát của Chí Phèo là cuộc chiến đấu mạnh mẽ nhất, dữ đội nhất và là cuộc chiến đấu cuối cùng giữa con người hiền như cục đất và con quỷ dữ thằng đầu bò. Trong cuộc quyết đấu này, Chí Phèo đã chết, nhưng nhân cách lương thiện đã trỗi dậy và tỏa sáng, đó cũng chính là chiến thắng tất yếu của cái thiện đối với cái ác, đồng thời cũng là sự thể hiện rõ ràng nhất của tư tưởng nhân đạo và tinh thần nhân văn của ngòi bút Nam Cao.

Tiếp theo phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người, đừng bỏ qua 🔥 Cảm Nhận Về Nhân Vật Chí Phèo 🔥 12 Bài Hay Nhất

Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người Ngắn Gọn – Mẫu 3

Bài văn mẫu phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người ngắn gọn sẽ giúp các em học sinh tham khảo cách hành văn súc tích và cô đọng nội dung.

Nếu như Thúy Kiều của Nguyễn Du gặp phải bị kịch đớn đau về tình yêu và Hộ gặp phải bi kịch éo le về nghệ thuật đương thời thì Chí Phèo của Nam Cao lại gặp một loại bi kịch vô cùng lạ lùng. Đó là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Chí Phèo bước ra từng tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao với một loạt những khổ đau, những bất hạnh. Và cũng không phải vô tình mà Nam Cao lại dành hết những gì là đớn đau nhất cho “đứa con đẻ” của mình. Ngòi bút sắc sảo và tấm lòng giàu yêu thương của ông đã gửi gắm biết bao nhiêu tình cảm cùng với sự cảm thông sâu sắc tới những con người cùng khổ như Chí. Chí chỉ là một đứa trẻ mồ côi chưa một lần được biết đến hơi mẹ.

Chí ở cho nhà Bá Kiến nhưng lại bị bà ba dâm dục hãm hại khiến Bá Kiến ghen tuông đẩy Chí vào tù. Năm tháng của tù đày đã cùng Chí nuôi lòng thù hận ngày một lớn dần lên. Cho đến khi ra tù Chí trở thành một con quỷ dữ khiến cả làng Vũ Đại khiếp sợ. Còn Nam Cao chỉ tả chỉ với hai từ ngắn gọn “ghê tởm”.

Nhưng khi gặp được Thị Nở – cuộc đời Chí ít nhất cũng đã được biết đến bàn tay chăm sóc của một người đàn bà thực sự. Nhưng thị lại nghe lời bà cô cự tuyệt mối tình ấy, khiến Chí một lần nữa trở thành con quỷ dữ. Trong cơn uất hận, Chí đến giết Bá Kiến và tự vẫn để đòi quyền làm người lương thiện.

Câu chuyện kết thúc nhưng bi kịch về cuộc đời Chí vẫn làm người đọc không khỏi xót xa. Được sinh ra làm người nhưng lại bị chính những con người xung quanh mình cự tuyệt quyền làm người. Hay nói đúng hơn là không ai nhìn nhận Chí là một con người nữa. Thay vào đó là một con quỷ dữ không hơn không kém. Con quỷ ấy trước đây đã từng là một con người lương thiện, hiền lành chịu khó. Nhưng giờ đây lại ôm hận trở về làng với những cơn say triền miên. Say lại chửi. Chửi cho quên đời, cho bõ tức, cho hả lòng hả dạ.

Nhưng càng chửi, càng bực. Bởi ai cũng “chừa mình ra” thì Chí chửi ai bây giờ? Đến ngay cả tiếng chửi xúc phạm đến người khác Chí cũng chẳng được ai để ý. Bởi nếu là một người bình thường khi tung ra những lời lẽ chua ngoa ấy kiểu gì cũng bị dân làng xúm vào chửi lại, thậm chí là đánh đập. Nhưng Chí thì lại khác. Chỉ có lũ chó chạy theo sủa ầm ĩ.

Chẳng ai hiểu rằng đằng sau những tiếng chửi ấy là một nỗi niềm khát khao đến cháy bỏng được quay trở về làm người. Chỉ cần có ai đó chửi lại thôi cũng đủ để Chí thấy rằng mình vẫn được công nhận làm người. Nếu sống một cách bình thường, có thể không ai để ý đến Chí. Có lẽ Chí nghĩ rằng phải chửi thật xúc phạm, thật nhiều để xem có ai chửi lại không, để Chí biết rằng mình vẫn còn được nhìn nhận. Nhưng buồn thay, tiếng chửi của Chí chỉ có tiếng chó sủa đáp lại.

Cho tới khi gặp được Thị Nở, cuộc đời Chí bước sang một trang mới. Chí ý thức được bản thân mình. Lần đầu tiên Chí tỉnh, tỉnh rượu và tỉnh cả những dòng suy nghĩ đau đáu về lòng thù hận. Không ngờ sự chăm sóc ân cần của một người đàn bà dở hơi lại có sức mạnh tác động lớn đến Chí như vậy. Tỉnh táo, Chí cũng chẳng mảy may nghĩ rằng thị chỉ là một người dở hơi, xấu xí. Vì rằng điều mà Chí khát khao bấy lâu nay là được nhìn nhận là người đã đạt được.

Thậm chí thị còn dành cho Chí những hành động, cử chỉ của một “người yêu” thực sự. Chính thị – một con người chỉ hơn Chí ở cái là được mọi người nhìn nhận là người – đã đánh thức phần người trong Chí. Có lẽ cũng vì thị dở hơi nên thị không ý thức được về hiện trạng của Chí lúc này nên thị mới ngã vào lòng Chí. Nhưng dù sao điều đó cũng đã là một ân huệ lớn lao cho cuộc đời Chí.

Lần đầu tiên Chí tỉnh rượu sau những cơn say. Chí bắt đầu cảm nhận hương vị của cuộc sống từ những điều bình dị nhất, giản đơn nhất: tiếng mái chèo, tiếng chim hót, tiếng người đi chợ qua lại… Và rồi, ước mơ trong sáng đến thánh thiện ngày nào trở về trong Chí. Chí ước có một gia đình nhỏ, chồng cày thuê cuốc mướn kiếm tiền, vợ thêu thùa chăm lo việc gia đình. Hạnh phúc nhỏ nhưng cuộc sống êm đềm ý nghĩa biết bao.

Nghĩ vậy, Chí càng quyết tâm quay trở lại làm người lương thiện. Sẽ bỏ rượu. Sẽ không đi rạch mặt ăn vạ nữa. Từ nay sẽ thay đổi. Nhưng. Than ôi! Hạnh phúc đang phất lên thì lại bị hất văng ra khỏi bàn tay yếu ớt của Chí khi thị trở về nghe lời bà cô cự tuyệt Chí. Như vậy, đến ngay cả con người cuối cùng của xã hội này mà Chí đặt niềm tin vào cũng không thể kéo Chí dậy được. Thậm Chí còn đẩy Chí vào bờ vực thẳm sâu hơn, đớn đau hơn.

Lúc này đây, hương cháo hành lại làm Chí xôn xao trong người. Niềm khát khao được làm người chưa bao giờ cháy bỏng và mạnh mẽ đến thế. Nhưng ai sẽ cho Chí được làm người đây? Và lại là một người lương thiện thì càng khó. Ước mơ giản đơn ngày nào của Chí chẳng lẽ bị vùi dập nhanh chóng như thế này sao? Hạnh phúc tưởng chừng như đã ở trong tầm tay nhưng lại bỗng dưng vụt mất. Chí hụt hẫng, khổ đau.

Như vậy, tất cả mọi người, không một ai còn nhìn nhận Chí là một con người nữa. Có thể sẽ có người nói rằng: Chí hoàn toàn có thể tự mình làm người lương thiện bằng cách sống tốt hơn, không chửi bới, không say xỉn và xin đi làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày. Rồi dần dần mọi người sẽ lại quý mến Chí, cho Chí những cơ hội tốt hơn để tiến thân.

Nhưng cuộc sống đâu phải dễ dàng đến vậy. Nhất là trong xã hội ấy, giai cấp cầm quyền là đại diện cho những điều gian ác nhất, bất nhân nhất. Liệu rằng Bá Kiến có để cho Chí được sống một cuộc sống êm đềm không khi hắn đã từng có thù hằn với Chí? Hơn nữa, khi đã mang trong mình lòng thù hận quá sâu sắc, liệu rằng ai có thể bình thản mà sống được. Có thể do Chí chưa mạnh mẽ, chưa đi đúng hướng nên đã để xảy ra những bi kịch đớn đau trong cuộc đời mình.

Nhưng khi nhìn bằng cái nhìn khách quan, Chí chính là kết quả của một xã hội phong kiến thối nát, tàn nhẫn. Chí là đại diện cho những người nông dân bần cùng bị xã hội dồn ép đến mức đánh mất cả nhân tính, để đến khi muốn quay trở lại làm một con người bình thường cũng chẳng được nữa. Đây là một loại bi kịch lạ lùng nhất trong nền văn học Việt Nam nói chung và văn học hiện thực nói riêng.

Qua tấn bi kịch ấy, nhà văn đã chĩa thẳng ngòi bút của mình đến thế lực phong kiến độc ác đã lấy đi nhân tính của biết bao nhiêu người nông dân lương thiện. Đồng thời ông cũng bênh vực và cổ vũ mọi người hãy cùng nhau đứng lên giành lấy quyền sống, quyền tự do cho chính mình để không ai phải tìm đến cái chết một cách thương tâm giống như Chí Phèo ở cuối tác phẩm.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người Ngắn Nhất – Mẫu 4

Bài văn phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người ngắn nhất sẽ giúp các em học sinh nhanh chóng ôn tập văn bản và chuẩn bị tốt cho bài viết trên lớp.

Trong nền văn học Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, sự xuất hiện hình tượng nhân vật Chí Phèo đã tạo nên một tiếng vang lớn đối với sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nam Cao nói riêng và đối với mảnh đất viết về số phận của người nông dân nói chung. Qua tác phẩm “Chí Phèo”, bằng tài năng trong việc xây dựng tình huống truyện và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, tác giả đã phác họa thành công cuộc đời của nhân vật Chí Phèo với ảm ảnh về con đường tha hóa nhân hình, nhân tính và tấm bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Là nhân vật chính của tác phẩm, Chí Phèo hiện lên với số phận đáng thương, bất hạnh – mẫu số chung của tầng lớp nông dân trong xã hội phong kiến. Nguồn gốc ra đời của Chí gắn liền với câu chuyện về “cái lò gạch cũ”. Ngay từ khi mới chào đời, hắn đã bị bỏ rơi “trần truồng, xám xịt”, đứa trẻ không cha, không mẹ lớn lên từng ngày qua một hành trình lúc thì bị đem cho, lúc thì bị đem bán.

Đến khi trưởng thành, Chí trở thành anh canh điền làm thuê trong nhà Bá Kiến với sự lương thiện, tự trọng. Những tưởng cuộc đời cứ thế trôi qua, nhưng chỉ vì ghen tuông, Bá Kiến đã đẩy Chí Phèo vào con đường tù tội, mở ra những chuỗi ngày đen tối bị tha hóa về nhân hình và nhân tính của người nông dân hiền lành, chất phác.

Trước khi trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” – một kẻ say sống cùng tiếng chửi và nghề rạch mặt ăn vạ, Chí Phèo vốn là người “hiền như đất”. Dù là đứa trẻ mồ côi, nghèo khó, “không một tấc đất cắm dùi” nhưng y vẫn luôn ý thức về lòng tự trọng, khi bị bà ba gọi lên bóp chân, Chí nhận thức được rằng đó là một việc làm “không chính đáng” và “Hắn thấy nhục hơn là thích”.

Đồng thời, anh canh điền còn có ước mơ về một mái ấm gia đình nho nhỏ với những niềm hạnh phúc giản đơn, bình dị: “Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng bỏ lại một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”, nhưng rồi, xã hội phong kiến đã đẩy người nông dân bước vào con đường tha hóa và trượt dài trên hành trình đó khi chỉ mới hai mươi tuổi.

Sau bảy, tám năm ở tù, Chí trở về làng với sự thay đổi về nhân hình lẫn nhân tính. Nhà tù thực dân chính là cánh cửa mở ra chuỗi ngày đen tối trong cuộc đời hắn. Nhà văn Nam Cao đã sử dụng ngòi bút đậm chất hiện thực để phác họa chân dung của Chí Phèo từ khuôn mặt đến hình dáng: “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết!” và “Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một ông thầy tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế . Trông gớm chết!”.

Tuy nhiên, sự thay đổi về nhân hình không hề đáng sợ bằng sự tha hóa về nhân tính. Anh canh điền lương thiện ngày nào giờ đây luôn chìm ngập trong những cơn say cùng những cử chỉ, hành động hung hãn. Đáng buồn hơn, hắn trở thành tay sai đắc lực, công cụ “đâm thuê chém mướn” cho cụ Bá – người đã hủy hoại cuộc đời hắn, tước đoạt quyền làm người và đẩy hắn vào con đường tha hóa. Giấc mơ về mái ấm gia đình đã bị lãng quên cho đến khi Chí gặp Thị Nở.

Bát cháo hành cùng sự săn sóc, yêu thương của thị đã đánh thức phần người lương thiện còn lại trong tâm hồn của con quỷ dữ, nhưng đến cuối cùng, hắn vẫn không thể vượt thoát tấn bi kịch tha hóa dax bủa vây bao phủ lên cuộc đời hắn.

Sự cự tuyệt của người đàn bà xấu xí, “ma chê quỷ hờn” đã dập tắt ánh sáng le lói của những giấc mơ về mái ấm gia đình và giúp Chí hiểu rõ cánh cửa của loài người đã hoàn toàn khép lại. Bằng cảm quan hiện thực, nhà văn Nam Cao đã đẩy bi kịch tha hóa lên đỉnh điểm qua việc chối từ, cự tuyệt quyền làm người của Chí. Và rồi, Chí Phèo chết trong đau đớn khi tự kết liễu đời mình và đâm chết Bá Kiến.

Qua con đường tha hóa của Chí Phèo, chúng ta có thể thấy được bút pháp xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình của tác giả Nam Cao. Là nhà văn có cảm quan hiện thực sâu sắc, nhà văn đã nhận ra sự tha hóa mang tính quy luật của số phận người nông dân nghèo trong xã hội thực dân nửa phong kiến với cái nhìn sâu sắc cùng sự cảm thông, xót thương.

Nam Cao đã thay đổi thời gian nghệ thuật thông thường, chọn thời điểm trần thuật sau khi Chí Phèo đã trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, đưa chi tiết tiếng chửi lên đầu để gợi lên nỗi ám ảnh trong lòng độc giả về bi kịch trong những cơn say của một con người bị tha hóa và không còn được xã hội đón nhận. Qua đó, ông đã gián tiếp lên án, phê phán xã hội phong kiến mục nát đẩy người nông dân vào bước đường cùng và con đường lưu manh hóa.

Như vậy, bằng tài năng trong việc xây dựng hình tượng nhân vật và miêu tả tâm lí nhân vật, nhà văn Nam Cao đã đem đến một cái nhìn tiến bộ và khám phá mới mẻ về bi kịch của người nông dân. Thông qua tác phẩm Chí Phèo, chúng ta có thể thấy được đôi mắt tình thương của tác giả khi nhìn nhận những góc khuất bên trong cuộc sống của những con người vốn lương thiện nhưng bị xã hội phong kiến mục nát, thối rữa đẩy vào bước đường cùng và nỗi đau bị tước đoạt quyền sống, quyền làm người.

Tiếp tục đón đọc 🌳 Cảm Nhận Về Nhân Vật Thị Nở 🌳 15 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người Học Sinh Giỏi – Mẫu 5

Tham khảo tài liệu văn phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người học sinh giỏi dưới đây với những phân tích chuyên sâu và đặc sắc.

Giai đoạn những năm trước Cách mạng tháng 8 là thời kỳ vô cùng đen tối trong lịch sử dân tộc, trong đó số phận của những người nông dân dưới ách thống trị của thực dân phong kiến đã trở thành đề tài được nhiều nhà văn đương thời chú ý và khai thác tập trung, triệt để. Nổi bật trong số đó, phải kể đến các tác giả như Ngô Tất Tố với Tắt đèn, Nguyễn Công Hoan với Tinh thần thể dục 1, 2, hoặc Kim Lân với Vợ Nhặt,…

Nhưng có lẽ chưa bao giờ người ta lại thấy số phận người nông dân đau đớn, tuyệt vọng đến tột cùng như trong các tác phẩm của Nam Cao, một nhà văn có lối viết lạnh lùng, chân thực đến trần trụi của nền văn học hiện thực Việt Nam. Chí Phèo là một nhân vật điển hình và gây ấn tượng mạnh mẽ trong văn đàn với số phận trái ngang và những bi kịch đớn đau tàn phá cả thể xác lẫn tâm hồn, từ chuyện bị lưu manh hóa, cho đến bị tha hóa thành con quỷ dữ, rồi cuối cùng đớn đau nhất là bi kịch bị từ chối quyền làm người.

Bi kịch của Chí Phèo có lẽ đã bắt đầu từ khi hắn mới lọt lòng mẹ, một đứa trẻ đỏ hỏn bị người ta bỏ rơi bên cái lò gạch cũ trên người chỉ quấn độc một cái váy đụp cũ, có biết bao nhiêu đáng thương và xót xa cho một kiếp người mới khởi đầu đã đầy đau thương? Hắn được đặt cho một cái tên dẫu đơn giản nhưng nhiều ý nghĩa, phải tên hắn là Chí, một cái tên hiền lành, đáng yêu biết bao.

Đứa trẻ tội nghiệp ấy cũng chẳng có lấy nửa phần may mắn là được một gia đình tử tế nhận nuôi, mà bị truyền tay hết từ người này sang người khác, rồi cuối cùng lớn lên trong cái nôi nghèo khó của làng Vũ Đại. Thế rồi Chí cũng lớn lên yên ổn, trở thành một chàng trai khỏe mạnh, hiền lành, chất phác, tu chí làm ăn, trở thành anh canh điền cho nhà Bá Kiến, kiếm sống bằng chính mồ hôi công sức của bản thân.

Không chỉ vậy con người anh còn nổi bật với những ước mơ dẫu giản dị nhưng cao đẹp, Chí ao ước có một mái ấm hạnh phúc, chồng làm ruộng vợ dệt vải, có mảnh vườn xinh, có vài con lợn. Đó không phải là mơ ước gì quá cao xa bồng bột, nhưng có lẽ đối với cuộc đời của chàng trai hơn 20 tuổi đầu này lại là một thứ viển vông, thậm chí còn là căn nguyên dẫn đến những tột cùng bi kịch.

Điều ấn tượng thứ hai về con người hiền lành, chất phác này ấy là tấm lòng tự trọng, biết giữ liêm sỉ, trước sự ve vãn mời gọi của bà ba – vợ Bá Kiến, nhưng một chàng trai đang độ tuổi thanh xuân là Chí lại chẳng hề có chút suy chuyển, Chí chỉ thấy nhục nhã.

Cái lương tâm con người không cho phép anh làm chuyện bại hoại ấy, dù là về thể xác hay cả về những lợi ích tiền tài khác, trong tâm hồn anh hiện lên một triết lý rất đáng để người ta trân trọng yêu thương rằng “Hai mươi tuổi, người ta không là đá, nhưng cũng không hoàn toàn là xác thịt. người ta không thích cái gì người ta khinh”. Thế mà, lẽ sống lương thiện, sạch sẽ ấy lại phải chịu cái kiếp vùi dập dưới ách thống trị của chế độ tàn ác, thực dân nửa phong kiến bởi chính cái lòng lương thiện của mình.

Từ Chí biến thành Chí Phèo, cũng chỉ bởi cái xấu xa đê tiện của lũ người thống trị, một người đàn bà đa dâm, lăng loàn, một người đàn ông sợ vợ, bất lực là Bá Kiến chẳng biết trút cái sự ghen tức, phẫn nộ của mình vào đâu ngoại trừ anh canh điền tội nghiệp. Và thế là Chí nghiễm nhiên được ban cho cái tội ăn cắp, ăn trộm, rồi bị tống thẳng vào tù 7, 8 năm trời, dở sống dở chết với lũ quan sai.

Nhưng nó đâu phải là một cái nhà tù bình thường cho người ta cơ hội được sống, được cải tạo, mặc dù Chí cũng chẳng làm gì sai. Mà cái nhà tù ấy đã đày đọa, nhào nặn biến con người ta thành một kẻ ghê gớm, bặm trợn, biến Chí thành Chí Phèo, biến một người từ biết tự trọng, liên sỉ thành một kẻ lưu manh, suy đồi về đạo đức, cũng chẳng thèm biết đến tự trọng là gì nữa.

Còn đâu một chàng trai độ hai mươi tuổi sung sức, trẻ trung mà giờ đây người ta chỉ thấy ái ngại, khiếp sợ trước một con người có dáng vẻ khác thường, khác người “trông đặc như thằng sắng cá! Cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần áo nái đen với cái áo tây vàng. Cái ngực phanh đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết!”.

Người ta đã không còn nhận ra anh canh điền hiền lành, chất phác ngày xưa nữa, mà trước mắt chỉ thấy một kẻ trông đặc như lưu manh, và rồi người ta lại càng chắc chắn điều đó hơn khi chứng kiến hắn uống rượu ăn thịt chó ở ngoài chợ suốt từ trưa tới chiều. Đến lúc đã say khướt thì chân nam đá chân chiêu mò đến nhà Bá Kiến vừa đi vừa chửi, không ai dám tiếp hắn hay chửi lại, thành thử ra người ta thấy xuất hiện một hình ảnh bi hài, người chó xướng ca khi “chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượu!”.

Rồi người ta còn bất ngờ hơn khi thấy thằng say rượu ấy sống chết lăn vào đánh nhau với Lý Cường con trai của Bá Kiến, đánh không lại thì nằm lăn ra ăn vạ, và ăn vạ một cách vô cùng cực đoan ghê rợn. Chí Phèo đập nát vỏ chai rồi tự rạch mặt mình, máu me chảy bê bết, sẵn sàng lên giọng thách thức với Bá Kiến “Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đây thôi”. Như thế có thể thấy rõ rằng, Chí Phèo đã hoàn toàn bị tha hóa về nhân cách trở thành một kẻ lưu manh chính hiệu, cực đoan và ghê gớm

Thế nhưng, những tưởng sự liều mạng và ngoại hình kinh khủng của Chí sẽ khiến Bá Kiến sợ, nhưng trái lại nó lại trở thành món lợi cho kẻ gian xảo lọc lõi như Bá kiến, bởi vốn dĩ ông ta đã quá hiểu và quá quen với những kẻ như Chí Phèo. Sự u mê, ít học của Chí đã khiến hắn trượt dài trên con đường tha hóa nhân cách vào mức đường không thể vãn hồi. Bá kiến chỉ bằng vài lời ngon ngọt, êm tai, thêm vài đồng tiền đã có thể dỗ dành Chí Phèo trở thành tay sai cho mình, thay mình đâm thuê chém mướn, trở thành con qủy dữ của làng Vũ Đại.

Còn đắng cay thay Chí Phèo lại không hề nhận ra mình đang tiếp tay cho kẻ thù, đang tiếp tay cho cái ác, mà vẫn ngày ngày bán lẻ nhân cách để lấy vài đồng bạc uống rượu triền miên hơn chục năm trời. Để rồi trong tầm mắt của làng Vũ Đại, Chí đã trở thành một con gì ấy rất lạ, không phải một con người có nhân tính mà là một gương mặt “vàng vàng mà lại muốn xạm màu gio; nó vằn dọc vằn ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là sẹo”.

Đọc mà thấy xót xa cho một kiếp người chẳng được làm người, mà lại được xem như một “con vật lạ”, từ một kẻ vốn chỉ ham rượu chè đến một kẻ triền miên trong những cơn say dài, “cơn say của hắn tràn cơn này qua cơn khác, thành một cơn dài, mênh mông, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận”.

Suốt 15 năm, nhưng đời người có được bao nhiêu cái 15 năm ấy, Chí Phèo đang tự tay chôn vùi cuộc đời mình với sự ủng hộ tuyệt đối của bè lũ thống trị phong kiến tay sai, thật xót xa và đau đớn. Rượu đã dẫn lối cho Chí lao vào những cuộc thanh trừng mà Bá Kiến chỉ đạo, biết “bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại, người ta giao cho hắn làm!”, rồi riết hắn nghĩ đó chính là cuộc đời mình.

Nhưng người ta vẫn có thể nhận ra rằng, Chí Phèo dẫu có tha hóa, lưu manh hóa thì hắn vẫn khao khát được giao tiếp lắm, nhưng cái cách giao tiếp của hắn làm người ta ngày càng sợ và xa lánh. Hắn chửi trời, đất, chửi tất cả và “chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo?”, để khiến hắn đớn đau, lay lắt trên đời hơn 40 năm ròng rã. Cuối cùng thì chẳng ai thèm quan tâm đến cái thằng chuyên chửi ấy, người ta chỉ cốt sao tránh cho thật xa, Chí Phèo phải nhận bi kịch thất bại trong giao tiếp, bị từ chối quyền làm người trong cô độc và tuyệt vọng.

Có lẽ bi kịch của Chí chỉ dừng lại ở đấy thôi, nhưng không cái xã hội thối nát này nó không dồn con người ta vào đường cùng thì có lẽ vẫn không chịu buông tha. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở, chính là bước ngoặt lớn nhất trong đời Chí, kể từ cái ngày hắn bị tống vào tù. Người đàn bà xấu đau xấu đớn ấy, lại đem đến cho Chí những nhận thức sáng sủa về thế giới xung quanh, đó là tiếng chim hót ríu rít, tiếng người nói chuyện cười đùa, và cả thứ ánh sáng mặt trời qua vách nứa mà có lẽ gần 20 năm qua hắn chẳng hề ngó ngàng tới.

Sau khi nhận thức được sự sống ngoài kia, hắn mới nhìn lại cái thân thể yếu ớt, rã rời của mình, hắn chợt nhận ra mình đã bước sang hẳn bên kia con dốc của cuộc đời trong vô thức. Rồi Chí Phèo cũng dường như dự đoán được tuổi già ốm yếu, bệnh tật và sự cô độc. Hắn còn sợ cái đói cái rét hơn cả sự cô đơn, bởi vốn dĩ hắn đã cô đơn lắm rồi.

Những lời tình tứ, ân cần và bát cháo hành nóng hổi của Thị Nở đã làm bùng cháy dậy những khao khát hạnh phúc, khao khát được quay về cuộc đời lương thiện, làm sống lại những mơ ước thời trai trẻ “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao!(…). Họ sẽ nhận lại hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện…”.

Sau ngần ấy năm bê tha, cuối cùng cái tâm hồn thiện lương, đã quay trở lại với Chí, hắn khóc vì xúc động trước cái tình người của Thị Nở, rồi sau đó là tình yêu với thị, và những mong ước có lẽ sẽ trở thành hiện thực. Và Thị Nở sẽ trở thành cầu nối dẫn hắn về với cuộc sống bình thường, được hưởng hạnh phúc và hắn lại như xưa, sống chan hòa trong vòng tay yêu thương của làng Vũ Đại.

Nhưng trời nào có chiều lòng người, chỉ một câu nói chua ngoa gay gắt của bà cô, người đàn bà ế chỏng trơ, thấy cháu gái có chồng thì liền không cam lòng, và sự dở hơi của Thị Nở đã hoàn toàn chặt đứt mọi hy vọng của Chí, đẩy hắn vào vực sâu không lối thoát. Khiến hắn nhận ra sự thật nghiệt ngã rằng xã hội và những định kiến sẽ chẳng bao giờ cho hắn làm lại từ đầu, không bao giờ.

Việc Chí Phèo giết Bá Kiến và tự sát có thể xem là một cái kết hợp lý nhất cho những bi kịch chất chồng của nhân vật. Là minh chứng cho sự quay lại của tính người, bản chất lương thiện bất diệt trong tâm hồn Chí Phèo, đồng thời cũng là nhận thức của Chí về bộ mặt của những kẻ cầm quyền, mà chỉ khi tiêu diệt chúng thì bi kịch mới kết thúc triệt để.

Chí Phèo của Nam Cao là một tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu nhất cho nền văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng. Phản ánh sâu sắc số phận cùng khổ của người nông dân trong xã hội cũ và sự tàn ác, vô nhân đạo của giai cấp thống trị đã đẩy con người ta vào bước đường tha hóa, bi kịch đến tột cùng. Bên cạnh đó một giá trị không kém phần quan trọng của tác phẩm đó chính là bộc lộ được vẻ đẹp bất diệt của tấm lòng lương thiện, tình người còn ẩn sâu trong tâm hồn nhân vật, dẫu rằng nó có bị giày vò, chà đạp bởi đủ thứ bất công.

Mời bạn tham khảo 🌜 Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Chí Phèo 🌜 15 Bài Mẫu Hay

Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người Nâng Cao – Mẫu 6

Luyện tập viết phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người nâng cao sẽ giúp các em học sinh nắm vững kỹ năng phân tích văn học và cách hành văn hay.

Nam Cao là một nhà văn hiện thực lớn của nền văn học Việt Nam trước Cách mạng. Sau Cách mạng, ông hăng hái tham gia làm báo kháng chiến. Ông có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20.

Chí Phèo là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nền văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng. Bằng ngòi bút sắc sảo, nghệ thuật khắc họa nhân vật đặc sắc, Nam Cao đã làm nổi bậc tấm bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Chí Phèo. Qua nhân vật Chí Phèo, nhà văn đã lí giải thành công nguyên nhân vì sao người nông dân hiền lành bị tha hóa từ nhân tính đến nhân hình một cách tàn tệ đến vậy

Quá trình tha hóa của nhân vật Chí Phèo trải qua hai giai đoạn. Mỗi giai đoạn là một bước chuyển biến mạnh mẽ sức sống trong nhân vật. Thứ nhất, từ một anh nông dân hiền lành như cục đất Chí Phèo bị đẩy vào tù. Không tội lỗi gì, bất ngờ Chí bị đẩy vào vòng lao lí, bị tước đoạt quyền sống. Bước ra khỏi nhà tù, Chí Phèo trở thành một “con quỷ” gớm ghiếc, côn đồ và tàn bạo.

Thứ hai, khi Thị Nở đánh thức khát vọng sống lương thiện và mong muốn trở lại với mọi người, Chí Phèo lại hiền lành như lúc ban đầu. Cánh cửa bước vào cuộc đời rộng mở trước mắt Chí Phèo. Thế nhưng, trớ trêu thay, chỉ vì sự cản trở của bà cô, Thị Nở đã đoạn tuyệt tình nghĩa với Chí sau năm ngày chung sống hạnh phúc. Chí Phèo hụt hẫng, bất lực và bế tắc. Cánh cửa phục thiện đóng sầm trước mặt hắn, lạnh lùng và tàn nhẫn. Một lần nữa, Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người. Bi kịch cuộc đời Chí Phèo bị đẩy đến mức cùng cực.

Khắc họa tấm bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã tỏ ra rất vững vàng và bản lĩnh. Lần đầu tiên trên trang văn, người ta thấy một kẻ dị dạng nhân hình bước ngật ngưỡng trong cơn say. Lần đầu tiên, người ta thấy một nhân vật bị hủy hoại tàn bạo và khủng khiếp đến như vậy. Nhân vật Chí Phèo đã thực sự mất hết tính người, sống bằng kiếp thú vật, hoàn toàn bản năng. Chí Phèo ngập ngụa trong cơn say triền miên từ ngày này qua ngày khác. Không có sự đê hèn và tàn ác nào mà Chí Phèo không dám làm.

Nam Cao đã dũng cảm ghi nhận hiện thực cuộc sống dù biết rằng dó là một hiện thực tàn nhẫn có thể khiến người ta thấy đau lòng và khiếp sợ. Ông không hề lảng tránh hay tô vẽ nó bằng sắc màu giả tạo của nghệ thuật ngôn từ. Ông muốn mỗi trang văn phải là “cái sự thật ở đời” chân thực và chính xác.

Không để nhân vật rơi vào sự tầm thường, dung tục, Nam Cao đã phát hiện vẻ đẹp ẩn sâu bên trong họ. Bên trong cái điên cuồng của Chí Phèo là khát vọng lương thiện bị đè nén khủng khiếp. Nó thôi thúc con người vươn lên tìm kiếm nguồn sống. Nhưng trước những trở lực quá lớn của xã hội thực dân nửa phong kiến, nó không có cách nào khác là phản kháng một cách tiêu cực. Sự phản kháng tự phát ấy không mang lại kết quả tốt đẹp nào. Cuối cùng, nhân vật thực sự rơi vào tuyệt vọng.

Trước đây, Chí Phèo là một chàng trai nông dân hiền lành, lương thiện và có lòng tự trọng. Chỉ vì cái thói ghen bóng ghen gió của cụ Bá Kiến, Chí Phèo đã bị cụ thẳng tay đẩy vào nhà tù. Trải qua bảy, tám năm bị đầy đọa, chung sống với lớp người dưới đáy xã hội, tâm hồn Chí Phèo đã bị nhuộm đen.

Từ một anh Chí Phèo hiền lành, lương thiện, ra tù biến thành Chí Phèo với bộ mặt gớm giếc, linh hồn chất đầy thù hận và tội lỗi. Phần người trong Chí Phèo đã bị thui chột đi. Từ mặt mũi, nhân cách đều biến tướng thật đáng sợ. Cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng cỡn, cái mặt thì đen và rất câng câng, hai mắt gườm gườm gớm giếc.

Trong cái xã hội tàn bạo ấy, càng hiền lành,nhẫn nhục bao nhiêu thì lại càng bị chà đạp bấy nhiêu. Hắn muốn sống thì phải cướp giật, ăn vạ, gây gổ với mọi người. Muốn thế thì phải cao, phải mạnh, phải hung bạo. Thế là Chí Phèo tìm đến rượu như một cứu cánh giúp hắn quên đi cuộc đời.

Hắn sống trong những cơn say triền miên và làm bất cứ cái gì người ta sai hắn làm. Cùng với thời gian, Chí Phèo mất đi khả năng nhận thức. Hắn không còn nhận ra nổi cái bóng của mình, không nhớ nổi mình là ai, bao nhiêu tuổi. Mọi người đều cho Chí Phèo là một con vật chứ không phải là con người nữa.

Những chuỗi ngày say sưa vô tận, những tiếng chửi vô lí,những hành động liều lĩnh hung hãn chính là sự giãy dụa tuyệt vọng của một con người muốn tìm về con đường lương thiện mà không được.

Trước những hành động điên cuồng và hình dáng quái dị của Chí Phèo, ta chỉ thấy đáng thương hơn là đáng giận. Bởi lẽ chính nhà tù thực dân, sự áp bức bốc lột nặng nề của giai cấp thống trị, những định kiến tồi tệ và thái độ hắt hủi nhục mạ của những người xung quanh đã đẩy Chí Phèo đến con đường đó. Đẻ ra anh Chi Phèo hiền lành là một bà mẹ tội nghiệp và khốn nạn đã lén lút vứt con mình ở cái lò gạch cũ. Còn đẻ ra thằng lưu manh Chí Phèo , mất hết tính người là cái xã hội thực dân phong kiến đầy rẫy bất công, vô nhân đạo.

Nếu nhân vật chị Dậu trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố đã phải bán con, bán sữa nhưng chị còn được là con người, còn Chí Phèo phải bán cả diện mạo và linh hồn của mình để trở thành con quỹ dữ của làng Vũ Đại. Tất cả chỉ để được tồn tại mà thôi.

Nhưng, ở đáy sâu của tâm hồn cằn cõi và lạnh lẽo ấy vẫn còn có những mầm mống tốt đẹp mà hoàn cảnh phủ phàng của xã hội kia chưa đủ sức làm thui chột hết. Nam Cao đã không bỏ rơi nhân vật của mình. Ông dõi theo từng bước chân của Chí Phèo trong đêm tối, trong cơn say, trong giấc ngủ, nhìn ngắm nhân vật bằng tấm lòng đồng cảm sâu sắc. Trong cái thân xác đáng thương ấy, Nam Cao đã phát hiện ra có một mầm lương thiện hãy còn thổn thức. Nó muốn vực dậy, muốn trào ra nhưng không thể tự mình làm được.

Cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở sau cuộc rượu say ở nhà Tư Lãng phải chăng là sắp đặt của tạo hóa? Tình cờ mà như là định mệnh đã sẵn bày. Cái tình mềm mại của Thị Nở và bát cháo hành ấm nóng tình người đã đánh thức dậy những tình cảm tốt đẹp, những khát khao ước mơ khi xưa của Chí Phèo về một gia đình đầm ấm, hạnh phúc. Nó như một thứ phép màu xoa dịu mọi khổ đau, hàn gắn mọi vết thương và làm rung động mọi tế bào của Chí Phèo. Sau cái đêm hạnh phúc, Chí phèo cứ thấy có cái gì đó lâng lâng khắp người khó lí giải.

Thì ra, đó là cảm giác hạnh phúc. Hắn hạnh phúc vì có một người phụ nữ ở bên canh, dịu dàng và yêu thương. hắn hạnh phúc vì lần đầu tiên có một người không sợ hãi, không chạy trốn khỏi hắn. Cũng là lần đầu tiên có một người cho hắn một bữa ăn ngon lành mà trước đây hắn phải rạch mặt ăn vạ hoặc cướp giật mới có được. Những quyền lợi ấy có gì to tát đối với con người đâu? Nhưng chao ôi, đối với Chí Phèo thì đó là cả một ân huệ lớn lao.

Chút tình thương yêu mộc mạc của Thị Nỡ đã đốt cháy lên ngọn lửa lương tri còn leo lét nơi đáy lòng của Chí Phèo, đánh thức dậy bản chất lương thiện vốn có trong hắn. Con người xấu xí “ma chê quỹ hờn” ấy kì lạ thay lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã rọi vào chốn tăm tối của Chí Phèo. Thức tỉnh, gợi dậy bản tính người ở hắn, thắp sáng một trái tim đã bị ngủ mê qua bao tháng ngày bị dập vùi, hắt hủi.

Một thành công nổi bật của Nam Cao trong tác phẩm “Chí Phèo” là đã phát hiện, miêu tả được những phẩm chất tốt đẹp của Chí ngay khi hắn đã bị biến chất, tha hóa.

Ngay khi Chí Phèo điên cuồng như một con thú, tưởng chừng như lòng thương đã cạn kiệt thì vẫn còn có một người biết thương cảm hắn. Ở cái làng Vũ Đại, Thị Nở là người duy nhất hiểu Chí Phèo, đồng cảm với Chí Phèo. Thị vốn là người xấu xí, đã gánh chịu nhiều điều miệt thị, khinh bỉ của con người nên dễ dàng thấu cảm cho nỗi khổ đau đang cuộn xé trong con người của Chí – một kẻ cô đơn, bị người đời ruồng bỏ.

Bát cháo hành của Thị Nở, Chí Phèo xúc động và muốn khóc, giúp Chí Phèo nhận ra: cái đau khổ lớn nhất của con người, không phải là sự đói cơm rách áo, mà sự thiếu thốn tình thương. Bát cháo hành chính là liều thuốc thần làm sống dậy sự rung cảm mà bấy lâu tưởng chừng như đã chất trong tim Chí phèo, đánh thức dậy trong hắn khát vọng sống và sống tốt đẹp.

Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã thức tỉnh ở Chí Phèo niềm mơ ước của một thuở xa xưa chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, cố dồn vốn để nuôi thêm con lợn. Chí Phèo mong muốn Thị Nở sẽ là chiếc cầu nối, đưa Chí Phèo trở về, hòa nhập với cộng đồng xã hội.

Sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Thị Nở, tâm trạng Chí Phèo hoàn toàn thay đổi. Chí Phèo giờ đây đã nhận ra nguồn ánh sáng ngoài kia rực rỡ biết bao. Nghe thấy tiếng chim hót vui vẻ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá trên sông, tiếng cười nói bàn tán của những người đàn bà đi chợ về… bao nhiêu âm thanh quen thuộc của cuộc sống bấy lâu nay vậy mà giờ đây Chí Phèo mới nghe thấy bởi hắn luôn chìm ngập trong những cơn say.

Hôm nay, những âm thanh ấy, vọng đến tai hắn, bỗng trở thành tiếng gọi của sức sông và đã lay động sâu xa tâm hồn Chí Phèo. Trái tim tưởng chừng như trái đá của hắn đã dần dần sống dậy. Cái phần người trong Chí Phèo cũng hồi sinh “hắn thèm lương thiện, hắn khao khát làm hòa hòa với mọi người”. Từ một “con quỷ dữ”, nhờ có tình thương yêu của Thị Nở – dù đó là tình thương của một con người xấu xa, thô kệch, dở hơi cũng đủ để làm sống dậy một bản tính người nơi Chí Phèo. Thế mới biết, sức cảm hóa của tình thương kì diệu đến chừng nào.

Nhưng đau đớn thay, chút tình thương của Thị Nở không đủ mạnh để cứu lấy Chí Phèo. Bởi ngoài Thị Nở ra, không hề có lấy một cơ manh nào, chẳng hề có một bàn tay thân thiện nào chìa ra dắt Chí Phèo trở về cuộc sống lương thiện. Con đường trở lại làm người của hắn vừa mới hé mở đã bị đóng sầm lại. Một chút hạnh phúc nhỏ nhoi cuối cùng vẫn không đến được với Chí Phèo. Khắc nghiệt làm sao khi bản tính người trổi dậy nơi Chí Phèo cũng là lúc Chí Phèo hiểu rằng mình không còn trở về với lương thiện được nữa. Xã hội đã cướp đi của Chí Phèo quyền làm người và vĩnh viễn không trả lại.

Những vết dọc ngang trên mặt – kết quả bao cơn say, bao lần đâm thuê chém mướn, rạch mặt ăn vạ,… đã ngăn cản Chí trở về với cuộc đời lương thiện. Những định kiến của xã hội đã không cho phép Chí đặt chân lên nhịp độ hi vọng. Con đường trở về với cuộc sống lương thiện vừa mới kịp lóe lên trong đầu hắn, như một ngọn lửa chỉ kịp le lói đã bị cuộc đời dội gáo nước lạnh làm cho tắt ngầm.

Chí Phèo một lần nữa bị hắt hủi và ruồng bỏ một cách phủ phàng. Chí đã bị chính Thị Nở cự tuyệt, người mà hắn nghĩ sẽ là cây cầu duy nhất đưa hắn về với cuộc sống lương thiện. Thị Nở không phải không yêu hắn, không phải không muốn lấy hắn nhưng vì bà cô và những định kiến xã hội đã níu giữ lấy Thị, không cho Thị được kết duyên với Chí Phèo. Chí Phèo đã cố níu lấy tay Thị Nở lúc Thị vùng vằng ra về nhưng bất lực. Hắn hụt hẫng và rơi vào vực thẳm tuyệt vọng: “ôm mặt khóc rưng rức”.

Một lần nữa, Chí Phèo tìm đến rượu. Nhưng lần này Chí Phèo càng uống lại càng tỉnh Càng tỉnh lại càng thấm thía sâu sắc nổi đau bi kịch của mình. Trong cơn đau đớn phẫn uất, Chí Phéo quyết định trả thù. Hắn vác dao đến nhà Bá Kiến đòi lương thiện.

Đau đớn và thống thiết thay, là tiếng phẫn uất của Chí Phèo: “Ta muốn làm người lương thiện, ai cho ta lương thiện. Làm thế nào cho mất được những vết mảnh trại trên mặt này. Tao không thể là người lương thiện được nữa. Biết không, chỉ còn một cách… biết không…”. Căm thù cao độ và không còn lối thoát nào khác, Chí Phèo đã giết Bá Kiến rồi tự sát, lấy sự hủy diệt đời mình để giải quyết bế tắc của số phận.

Qua truyện ngắn Chí Phèo Nam Cao đã khái quát một hiện tượng xã hội ở nông thôn Việt Nam trước năm 1945, một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa. Nhà văn đã kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động, đồng thời khẳng định bản chất lương thiện của họ, ngay trong khi họ bị vùi dập mất cả nhân hình, nhân tính.

Chí Phèo chính là tiếng kêu cứu thiết tha của những người bất hạnh; là tiếng nói bảo vệ và đấu tranh cho quyền được làm người của những con người lương thiện; là mong ước được sống và sống hạnh phúc, không còn những thế lực đen tối của xã hội đẩy họ vào chỗ khốn cùng, bế tắc, đầy bi kịch xót xa của lớp người nông dân khốn cùng.

Chia sẻ cùng bạn 🌹 Phân Tích Chí Phèo Trước Khi Vào Tù 🌹 10 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người Đặc Sắc – Mẫu 7

Bài văn mẫu phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người đặc sắc dưới đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh.

Cùng viết về đề tài người nông dân nhưng Nam Cao lại đi sâu vào khai thác bi kịch con người bị lưu manh, tha hóa. Tác phẩm tiêu biểu nhất cho mảng đề tài này của ông là truyện ngắn “Chí Phèo”. Đây là tác phẩm được đánh giá như một kiệt tác của nền văn học Việt Nam hiện đại với nhân vật điển hình là Chí Phèo.

“Chí Phèo” được sáng tác năm 1941 với nhan đề đầu tiên là “Cài lò gạch cũ”. Sau đó, nhà xuất bản Đời mới đã đổi tên thành “Đôi lứa xứng đôi” và khi in lại trong tập “Luống cày” Nam Cao đã đặt lại tên tác phẩm là “Chí Phèo”. Truyện ngắn này đã khắc họa số phận của một con người từ anh canh điền hiền lành, lương thiện trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Không ai khác, đó là Chí Phèo với bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Chí Phèo là nhân vật chính, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Chí có hoàn cảnh xuất thân thật đáng thương, tội nghiệp. Hắn bị bỏ rơi bên cái lò gạch cũ ở trạng thái “trần truồng và xám ngắt trong một váy đụp”. Một người đi thả ống lươn nhặt được Chí rồi “đem cho một người đàn bà góa mù”. Người đàn bà này “bán hắn cho một bác phó cối không con và khi bác phó cối này chết thì hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ”.

Chí bị chính bố mẹ của mình bỏ rơi và trở thành một món hàng mang ra trao đổi, mua bán. Đến năm hai mươi tuổi, hắn đi ở cho nhà bá Kiến, một người có nguồn gốc gia đình thuộc tầng lớp thống trị. Chí Phèo mang bản chất của con người hiền lành, lương thiện. Thuở bé, Chí được nuôi nấng bởi những người nông dân chất phác.

Lớn lên, Chí biết lao động để tự nuôi sống bản thân. Khi bà ba bá Kiến bắt hắn “bóp chân mà lại bóp lên trên nữa” khiến chí “thấy nhục hơn là thấy thích”, thấy nhục chứ không thấy yêu đương gì. “Hai mươi tuổi, người ta không hoàn toàn là đá, nhưng cũng không toàn là xác thịt” và “người ta không thích những gì người ta khinh”. Trước khi đi ở tù, Chí Phèo là một người lương thiện, có nhân cách và lòng tự trọng.

Vậy mà, sau quãng thời gian ở tù, hắn thành một người khác, một kẻ lưu manh, côn đồ. Cơn ghen vô cớ của bá Kiến là nguyên nhân đẩy Chí vào tù và trở thành con quỷ dữ làng Vũ Đại. Nam Cao đã miêu tả Chí: “Trông đặc như thằng săng đá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà lại rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết. Hắn mặc cái quần nái đen với cái áo tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét trạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế”.

Ngoại hình ấy đã khiến mọi người thấy hắn “trông khác hẳn” và “trông gớm chết”. Chí không mang bộ mặt của con người mà hắn mang bộ mặt của “một con vật lạ”. Không chỉ biến dạng về nhân hình, Chí Phèo còn tha hóa cả về nhân tính. Hắn triền miên trong những cơn say, “cứ rượu xong là hắn chửi”. Hắn chửi trời, chửi đời, chửi tất cả làng Vũ Đại, “chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn” và chửi cả “đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nổi này”.

Hắn cất tiếng chửi vì hắn say rượu, vì hắn cô đơn lạc loài giữa xã hội. Tiếng chửi của Chí tuy vô thức nhưng lại hoàn toàn có ý thức. Hắn chửi vì sự bất lực, bế tắc, chửi vì không ai thèm giao tiếp với hắn. Hắn đã bị tước đoạt quyền làm người khi sự tồn tại của hắn không được ai công nhận. Chí sống bằng nghề rạch mặt ăn vạ và trở thành tay sai đắc lực cho bá Kiến. Lần thứ nhất Chí đến nhà cụ bá để đòi món nợ máu vì hắn đã xác định được kẻ thù.

Hắn hung hăng, gọi cả tên tục nhà bá Kiến ra mà chửi nhưng bằng những lời dụ dỗ ranh mãnh, bá Kiến đã mua chuộc được Chí làm tay sai cho mình. Khi bá Kiến nói Chí Phèo với lí Cường có họ hàng với nhau hắn đã tự đắc, thấy lòng cũng “nguôi nguôi”. Hắn đã “phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện”. Hắn làm tất cả những việc ấy trong khi say, “hắn say thì hắn làm bất cứ cái gì người ta sai hắn làm”.

Tưởng chừng con quỷ dữ ấy đã mất hết đi nhân tính nhưng bản chất lương thiện chỉ bị khuất lấp đi và nó chưa hoàn toàn lụi tắt. Sự xuất hiện của thị Nở trong cuộc đời Chí như làn gió thổi vào đống tro tàn đã tắt từ lâu, thị đã khơi dậy bản chất vốn có của hắn. Cuộc gặp gỡ ấy tuy tình cờ nhưng lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với Chí Phèo. Đây là cuộc gặp gỡ kì lạ và có lẽ sẽ không xuất hiện lần thứ hai trong văn học hiện đại. Trong một đêm uống rượu say, hắn gặp thị ngủ quên khi ra sông kín nước rồi họ “ăn nằm” với nhau.

Năm ngày sống với thị Nở là năm ngày Chí trở về làm một người lương thiện đúng nghĩa.Thị Nở đã làm hồi sinh, thức tỉnh Chí Phèo, tình yêu và sự quan tâm của thị khiến Chí cảm động. Chí Phèo đã thức tỉnh lương tâm, muốn làm hòa với tất cả mọi người và muốn làm một người hiền lành, lương thiện. Bát cháo hành thị Nở nấu cho Chí ăn giải cảm khiến Chí “thấy mắt mình hình như ươn ướt” bởi đây là lần đầu tiên hắn được một người đàn bà cho, là lần đầu tiên hắn “được săn sóc bởi một bàn tay đàn bà”.

Sau khi gặp thị Nở, Chí Phèo rất tỉnh táo và sợ rượu. Trong trạng thái ấy, Chí nghe thấy những thanh âm của cuộc sống thường ngày như tiếng chim hót, tiếng cười nói của những người đi chợ, anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Rồi hắn “nao nao buồn”. Hắn nhớ đến ước mơ “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”, “nuôi một con lợn làm vốn liếng”, “khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Chí thấy mình già, cô độc, thấy mình đã sang cái dốc bên kia của cuộc đời.

Lần đầu tiên sau bảy, tám năm ở tù về, Chí được sống với cảm giác của con người. Hắn đã ý thức được thực tại của mình: tuổi già, đói rét, ốm đau và hắn sợ sự cô đơn. Trước lòng tốt và tình thương yêu của thị Nở, Chí tỉnh táo để nhận ra thị có duyên và khi yêu thị cũng biết lườm. Lúc tỉnh táo, trông Chí rất hiền, những tính cách của một con vật đã nhường chỗ cho sự lương thiện lên ngôi. Chí khao khát có một mái ấm với thị Nở.

Chí đã bộc lộ niềm ước mong ấy qua câu nói: “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ”? và câu nói được coi như một lời cầu hôn, tỏ tình: “Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui”. Trong văn chương hiện đại có câu tỏ tình nào chân thật và hay đến thế? Chí Phèo đã thực sự sám hối.

Nam Cao đã khơi dậy lòng đồng cảm nơi bạn đọc, nhà văn khiến chúng ta nhận ra một con quỷ dữ như Chí Phèo cũng có ước mơ về hạnh phúc gia đình. Nhưng ước mơ ấy không thể thực hiện bởi định kiến xã hội đã không chấp nhận và ủng hộ đôi lứa xứng đôi này. Lời nói của bà cô thị Nở đã thể hiện rất rõ ràng điều ấy: “Đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao, mà lại đâm đầu đi lấy một thằng không cha. Ai lại đi lấy thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ra ăn vạ”.

Vì những lẽ trên mà thị Nở cự tuyệt tình yêu của Chí Phèo. Đây cũng là lúc Chí không còn nơi bám víu bởi thị đã từ chối hắn, chiếc phao cứu sinh duy nhất của cuộc đời Chí đã không còn nữa. Chí rơi vào bi kịch bị cự tuyệt tình yêu, cự tuyệt quyền làm người. Còn gì đau đớn hơn khi bị chặn đứng con đường hoàn lương? Định kiến xã hội đã đè bẹp, bóp nát khát vọng chân chính của Chí.

Hắn đến nhà bá Kiến để đòi lương thiện vì hắn biết không ai khác ngoài bá Kiến đã đẩy mình rơi vào bi kịch này. Tiếng nói đòi lương thiện của Chí đã để lại bao day dứt: “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa”.

Hắn rút dao, xông vào và giết bá Kiến rồi tự sát. Cái chết của Chí là cái chết đầy tức tưởi: hắn “giãy đành đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi”, mắt trợn ngược, mồm “ngáp ngáp”, “ở cổ hắn, thỉnh thoảng máu vẫn còn ứ ra”, hắn muốn nói nhưng không ra tiếng. Con đường trở về làm người lương thiện phải trả giá bằng cái chết đau đớn. Chí Phèo chết để giải thoát cho sự bế tắc của chính mình, Chí chết để đòi quyền được sống. Cái chết ấy đã lấy đi bao nước mắt, sự xót xa của bạn đọc.

Chi tiết kết thúc tác phẩm là chi tiết thị Nở “nhìn nhanh xuống bụng” và “thoáng thấy hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại qua”. Nam Cao thật tài tình khi xây dựng chi tiết này. Phải chăng, ông muốn khái quát rằng nếu xã hội vẫn còn những kẻ thống trị lừa lọc, xảo trá như bá Kiến thì cũng sẽ còn những số phận bi kịch như Chí Phèo. Và biết đâu bên cái lò gạch bỏ hoang ấy lại xuất hiện một Chí Phèo con ra đời.

Chí Phèo là nhân vật điển hình cho những người nông dân bị tha hóa, biến dạng cả về nhân hình và nhân tính ở làng quê Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Nhà văn đã xây dựng nhân vật Chí Phèo bằng nghệ thuật trần thuật tự nhiên, linh hoạt và hệ thống ngôn từ đặc sắc, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của tác giả đã đạt đến đỉnh cao. Giọng điệu Nam Cao lạnh lùng nhưng luôn chan chứa tinh thần nhân đạo.

Chí Phèo là một sáng tạo độc đáo của Nam Cao, được ông xây dựng là nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Ngoài ra, thông qua nhân vật này, nhà văn còn lên tiếng tố cáo hiện thực xã hội vô nhân đạo, cướp đi sự lương thiện của con người và chặn hết mọi con đường hoàn lương của họ. Đồng thời, ông cũng thể hiện tiếng nói nhân đạo sâu sắc khi lên tiếng đòi quyền sống, quyền lương thiện cho con người.

Gửi đến bạn 🍃 Phân Tích Chí Phèo Sau Khi Ra Tù 🍃 10 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người Chọn Lọc – Mẫu 8

Tham khảo dưới đây bài phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người chọn lọc với những gợi ý làm bài đa chiều và phong phú hơn.

Nam Cao đã từng tuyên ngôn rằng: “Sống đã rồi hãy viết” . Nhà văn này quan niệm “muốn viết những tác phẩm nhân văn nhân đạo, thì trước tiên anh phải sống sao cho nhân văn nhân đạo đã. Vì chính cuộc đời anh sẽ ảnh hưởng đến văn chương”. Với quan niệm này của mình, Nam Cao cầm bút sáng tác, những tác phẩm của ông chứa chan tình người của một nhà văn yêu thương con người từ tận trong cốt tủy.

Ta biết rằng, đề tài về người nông dân đã được khai thác rất nhiều. Làm sao ta có thể quên được chị Dậu – trong tác phẩm Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố. Bán con, bán chó, bán sữa, suýt bị hiếp và chạy đi trong đêm tối như cái cuộc đời nhá nhem của chị vì cái nạn sưu thuế. Ta tưởng rằng chị Dậu đã là khổ nhất rồi. Không! Chỉ đến khi thằng Chí Phèo nó bước ngất ngưỡng ra từ trong trang văn của Nam Cao. Ta mới biết rằng đây mới chính là người nông dân khổ nhất trong xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.

Và vẻ đẹp của Chí Phèo còn tồn tại đến ngày hôm nay. Đó chính là tấm bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Từ đó ta thấy, Nam Cao thực sự là một nhà văn nhân văn nhân đạo sâu sắc. Bởi Nam Cao đã từng nói: Chao ơi, nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật chỉ có thể là tiếng kêu đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than… “. Vậy, bi kịch là gì?

Nhiều người cho rằng bi kịch là một hoàn cảnh thảm thương. Hiểu như vậy là sai. Bi kịch nhiều khi là đấu tranh dai dẳng không khoan nhượng. Ánh sáng và bóng tối, giữa thiện và ác, giữa cao thượng và thấp hèn nó xảy ra ngay trong đời sống tinh thần của con người.Hoặc ta có hiểu rằng , bi kịch là những khát khao, những ước mơ chân chính nhưng không được thực hiện trong hiện tại. Và cuối cùng rơi vào một thảm kịch. Đó chính là bi kịch của cuộc đời con người.

Đọc Chí Phèo ta thấy, cả một tấm bi kịch lớn diễn ra với cuộc sống của Chí Phèo. Anh sinh ra là một con người, nhưng cuối cùng anh lại chết trên chặng đường trở về lương thiện. Anh sinh ra là con người nhưng cuối cùng lại trở thành con quỷ của làng Vũ Đại, là một kẻ côn đồ hung ác, là một thằng lưu manh, là một kẻ không một ai muốn dây vào.

Trước tiên, ta tìm hiểu lai lịch của Chí Phèo. Cuộc đời của Chí có thể chia ra làm hai chặng đường. Chặng đường đầu tiên, từ khi sinh cho đến khi 20 tuổi về ở đợ cho nhà Bá Kiến rồi bị tống vào tù. Ở chặng đường thứ hai, Chí ra tù gặp được Thị Nở và cuối cùng là chết trên chặng đường trở về với lương thiện. Chí Phèo là một đứa trẻ mồ côi được bọc trong cái váy đụp và được vứt tại một lò gạch bỏ hoang.

Chí Phèo không dừng lại ở một nhân vật trong văn học, mà Chí Phèo thực sự là nhân vật điển hình trong văn chương. Anh là đại diện cho rất nhiều con người bị tha hóa, biến chất. Anh được một người thả ống lươn đem về nuôi, đi ở đợ từ nhà này đến nhà khác, từ ông phó gối cho tới bà góa mù. Chí Phèo mặc dù là một đứa không cha không mẹ, không người thân ruột thịt, không bà con thân thích.

Thế nhưng, anh lớn lên không trở thành một đứa trẻ hư hỏng , mà trái lại anh trở thành một người nông dân thuần hậu, chất phát, hiền lành như cục đất. Khi muốn nhìn ra bản chất của một người, ta có thể nhìn vào ước mơ của họ. Ước mơ thì bao giờ cũng nói lên được một phần bản chất của người ấy. Ước mơ của Chí đơn giản chỉ là “có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăn ba sào ruộng làm”.

Ước mơ chân chính, khát khao cháy bỏng của Chí Phèo, là một người lương thiện, là anh nông dân nghèo, là một người cần cù, hiền lành chất phát. Người ta nhận thấy rặng, Chí Phèo thực sự là một người hiền như cục đất. Nhân vật Bá Kiên không dừng lại là một nhân vật trong văn học mà là nhân vật đại diện cho tầng lớp địa chủ phong kiến. Chí Phèo ngoài việc là một nông dân thuần chất phát, anh thường xuyên bị Bà vợ Bá Kiến gọi lên bóp chân, và đòi bóp lên chỗ cao. C

hí Phèo – trái tim anh đã 20 tuổi đời, anh biết đâu là tình yêu chân chính và đâu là thói dâm ô của một người đàn bà bất chính. Bị gọi lên để phục dịch cho những cơn thèm khát của người đàn bà này. Chí Phèo không cảm thấy sung sướng, chỉ thấy nhục, thấy sợ. Anh là một người trọng danh dự vì cơn ghen tuông bóng gió mà anh bị Bá Kiến tống vào chốn lao tù. Và kể từ đây là một chặng đường khác của cuộc đời anh. Khi ra tù, anh thay đổi từ nhân hình cho tới nhân tính.

Cái chúng ta cần lên án ở đây đó chính là nhà tù thực dân, nhà tù này đi ngược lại mới mong đợi của loài người. Nhà tù trong mong đợi của loài người là khi chúng ta vào chúng ta là kẻ xấu, chúng ta vào tù là để trả giá cho những gì mình đã gây ra, cải tạo tốt để trở lại hòa nhập với cộng đồng. Nhưng đọc tác phẩm ta có thể thấy, nhà tù này là một nhà tù bất công. Khi vào tù Chí là một người nông dân hiền lành, chất phát như cục đất, nhào nặn bảy tám năm tù, giờ đây anh trở thành con quỷ của làng Vũ Đại.

Thay đổi từ nhân hình cho đến nhân tính. Cái đầu cạo trọc lốc, răng cười trắng hớn, mặt thì câng câng, mắt thì gườm gườm, người xăm trổ đầy hình rộng phượng, ngực có một ông tướng cầm trị, sống bằng nghề cạo mặt ăn vạ và trở thành tay sai cho Bá Kiến chuyên trị những thằng đầu bưu đầu bò trong làng. Ta đồng ý rằng, đẻ ra Chí trên cõi đời này là một bà mẹ nông dân nghèo và có phần nhẫn tâm.

Thế nhưng, để tạo ra một con quỷ của làng Vũ Đại như thế này thì phải là một nhà tù thực dân cấu kết với lão Bá Kiến để tha hóa con người nông dân. Đây chính là sản phẩm của nhà tù thực dân. Chúng ta có thể nhận thấy, ở đây không chỉ thay đổi về ngoại hình mà còn là tính cách.

Chí Phèo sống bằng nghề cạo mặt ăn vạ, luôn chìm đắm trong những cơn say và lúc nào cũng vừa đi vừa chửi. Chửi ai đã đẻ ra nó, chửi cả làng Vũ Đại và cuối cùng không có một ai đáp lại tiếng chửi của Chí Phèo. Cuối cùng chỉ còn lại một thằng Chí Phèo say rượu và ba con chó dữ.

Ở chặng thứ hai, ra tù gặp được Thị Nở – người đàn bà xấu ma chê quỷ hờn, rất vô duyên. Thế nhưng khi ăn nằm trong buồng chuối với Nở, Chí Phèo đã bị cảm lạnh. Vì thương tình Chí nên Thị nấu cho Chí bát cháo hành. Đọc tác phẩm ta thấy, bát cháo hành chỉ là một chi tiết nghệ thuật, nhưng nó là mui vàng của một tác phẩm văn chương. Nó là một giọt sương có thể mang lại cả một đại dương mệnh mông, là giọt hạnh phúc mà nhà văn gửi gắm cho nhân vật của ông.

Thử hỏi, nếu không có bát cháo hành thì bao giờ Chí Phèo mới thức tỉnh? Đến bao giờ Chí Phèo mới tìm ra được kẻ thù đích thực của đời mình? Bao giờ mới trở lại lương thiện? Nó là một liều thuốc giải cảm , một liều thuốc giải độc. Chí Phèo tỉnh rượu sau những cơn say dài triền miên. Nó muốn làm hòa với mọi người biết bao, nó nhận ra tội lỗi, nó càng hối hận. Nó muốn trở lại với lương thiện. Nhưng không được rồi. Bà cô Thị Nở không cho Thị đến với Chí,bởi vậy Chí Phèo lại trở lại với hình ảnh con quỷ dữ của làng Vũ Đại.

Tìm tới rượu, xách dao lên, đi tìm Bá Kiến tính sổ. Nhưng cuối cùng Chí lại đâm chết Bá Kiến và chết trên con đường trở về lương thiện. Tại sao lại phải giết Bá Kiến? Bởi Bá Kiến mới là bản chất của vấn đề. Xử lí vấn đề ta không xử lí từ hiện tượng, không xử lí từ bà cô mà phải xử lí từ bản chất của vấn đề. Đó là lí do tại sao Nam Cao để cho Chí Phèo giết Bá Kiến và tự sát trên con đường trở về với lương thiện.

Thông qua đó, câu chuyện này không chỉ dừng lại ở nhân vật Chí Phèo – một nhân vật trong văn học mà nó là một hiện tượng có tính chất giai tầng của người nông dân trong xã hội ngày nay trước cách mạng tháng Tám. Đó là lưu manh hóa, bần cùng hóa, tha hóa biến chất người nông dân.

Trước Chí Phèo đã từng có Binh Chức, Nam Thọ, sau Chí Phèo lại sẽ có một thằng Chí Phèo con ra đời. Khi mà cuối tác phẩm này, nhà văn đã khép lại tác phẩm theo lối kết thúc mở: “Thị Nở nhìn ngay xuống chiếc váy đụp, và nhìn về lò gạch bỏ hoang”, một ngày nào đó nó sẽ vượt ra chốn đồng không mông quạnh là một thằng Chí Phèo con sẽ lại xuất hiên trong quãng đời này.

Nhà văn xót thương cho số phận người nông dân Việt Nam, ông thực sự là một nhà văn có vẻ ngoài lạnh lùng, thờ ơ, nhưng thực chất lại là một nhà văn nhân đạo sâu sắc từ tận trong cốt tủy. Một xã hội mà nhà văn lên án đó là nhà tù thực dân cấu kết với tầng lớp phong kiến để tha hóa biến chất người nông dân, một xã hội quần ngư tranh thực, cá lớn nuốt cá bé, người ăn thịt người, muốn tồn tại được phải trở thành kẻ ác.

Nói như Vũ Trọng Phụng: “Một xã hội toàn những con đĩ, đẻ xứng nhà thằng ăn cắp, một xã hội tây tàu nhố nhăng, một xã hội chó đểu…” đó chính là cuộc sống của người nông dân bất hạnh, lam lũ, lầm than trước cách mạng tháng Tám. Đó chính là tấm bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Và từ đó chúng ta có thể thấy, chừng nào vẫn còn những con người có cuộc sống đau khổ muốn được sống cuộc sống tốt hơn thì chừng đó những tác phẩm như Chí Phèo này vẫn giữ nguyên vẹn được giá trị của nó. Lên án tố cáo xã hội áp bức bất công, thương xót cho số phận người nông dân, bởi người nông dân luôn luôn là những con người thấp cổ bé họng nhất trong xã hội. Họ thường xuyên là nạn nhân của hoàn cảnh. Tác phẩm khép lại để lại cho ta nhiều suy ngẫm…

Mời bạn xem nhiều hơn 🌹 Phân Tích Chí Phèo Thức Tỉnh 🌹 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người Đạt Điểm Cao – Mẫu 9

Để viết phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người đạt điểm cao, các em học sinh có thể tham khảo gợi ý làm bài dưới đây:

Bình luận về nhân vật Chí Phèo một nhà phê bình văn học viết: “Khi chị Dậu, anh Pha xuất hiện trên những trang sách của dòng văn học hiện thực phê phán, người ta cứ nghĩ nỗi khổ của người nông dân ở một nước thuộc địa nửa phong kiến đến như thế là cùng. Nhưng khi Chí Phèo khật khưỡng bước ra từ những trang sách của Nam Cao, người ta liền mới nhận ra rằng đây là hiện thân của những gì khốn khổ, tủi nhục nhất”.

Chị Dậu phải bán chó, bán con, bán cả dòng sữa ngọt ngào của đời mình nhưng dầu sao chị vẫn được gọi là người. Còn Chí Phèo phải bán cả diện mạo và linh hồn của mình để trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Và khi ý thức nhân phẩm được trở về thì lại bị xã hội lạnh lùng cự tuyệt để phải tìm đến cái chết thảm thương. Tấm bi kịch thê thảm và độc đáo của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên được Nam Cao diễn tả thấm thía và cảm động là ở chỗ đó.

Lai lịch của Chí Phèo là một số không tròn trĩnh. Hắn là một thằng không cha, không mẹ, không bà con thân thích, không một tấc đất cắm dùi. Ngay từ khi mới sinh ra, hắn đã bị vứt bên cái lò gạch cũ bỏ không. Hắn được một người thả ống lươn mang về nuôi, sau đó cho người đàn bà goá mù. Và người đàn bà goá mù bán cho bác Phó Cối.

Suốt quãng đời niên thiếu, Chí Phèo không có tuổi thơ. Hắn phải sống kiếp bơ vơ đi ở cho hết nhà này sang nhà nọ. Đến tuổi trưởng thành, Chí Phèo làm anh canh điền cho nhà Bá Kiến, một tên địa chủ kiêm cường hào khét tiếng độc ác, gian hùng. Tuy phải làm thân trâu ngựa, bị áp bức bóc lột thậm tệ nhưng đã có một thời Chí Phèo là người nông dân lương thiện, khoẻ mạnh về thể xác, lành mạnh về tâm hồn.

Nhưng quãng đời lương thiện của Chí Phèo đã bị chấm dứt nhanh chóng bởi bàn tay độc ác của giai cấp thống trị. Chỉ vì một cớ ghen tuông vu vơ, Bá Kiến đã đẩy Chí Phèo vào tù. Mỉa mai thay, nhà tù, cái công cụ cải tạo con người của chế độ thực dân đã tiếp tay cho bọn cường hào phong kiến để giết chết phần người trong Chí Phèo.

Từ làng Vũ Đại vào tù, Chí Phèo là một con người; ở tù ra, về làng Vũ Đại, Chí Phèo là một con quỷ. Sau bảy, tám năm biệt tích trở về, Chí Phèo xuất hiện trước mắt dân làng với một bộ dạng rất kì quái: “cái đầu trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, hai con mắt gườm gườm trông gớm chết. Nhìn mặt hắn người ta nghĩ là mặt của một con vật lạ”.

Nam Cao vốn là một nhà văn chú trọng đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật hơn là chú trọng vẻ bề ngoại, rất ít khi ông tả ngoại hình nhân vật kĩ lưỡng như tả Chí Phèo lúc này. Bởi một khi đã trở thành quỷ dữ, Chí Phèo không thể mang khuôn mặt khoẻ mạnh và lành như đất của anh Chí ngày nào. Quá trình tha hoá, lưu manh hoá của hắn là quá trình diễn ra trên cả hai phương diện: ngoại hình và tính cách, nhân hình và nhân tính.

Trên đường đến nhà Bá Kiến, tay cầm cổ chai, Chí Phèo vừa đi vừa chửi bới, nguyền rủa nhưng dường như đằng sau tiếng chửi lảm nhảm của Chí Phèo là ý thức mơ hồ về bi kịch về cuộc đời mình, là nỗi căm phẫn vật vã, tuyệt vọng của một con người thèm khát được giao tiếp với đồng loại.

Mà tội nghiệp thay, khát khao được giao tiếp của Chí đơn giản chỉ là có được một tiếng người chửi lại hắn. Làng Vũ Đại để mặc hắn trong sự im lặng đáng sợ. Trong nỗi cô đơn, đáp lại hắn hoạ may chỉ có mấy con chó. Thành ra Chí Phèo cũng chỉ là một con vật sống giữa sự lạnh nhạt của xã hội loài người.

Giờ đây, để tồn tại với bọn cường hào (ăn thịt người không biết tanh), Chí Phèo không thể hiền lành nhẫn nhục như trước nữa. Bởi càng hiền lành, nhẫn nhục thì càng bị nhấn xuống bùn. Muốn sống phải gây gổ, cướp giật, ăn vạ, muốn thế phải liều lĩnh, mạnh mẽ, những thứ ấy Chí Phèo tìm thấy ở rượu. Cho nên, cuộc đời Chí Phèo giờ đây được tính bằng những cơn say, những tội ác. Đó là một cuộc đời sống vô thức, một công cụ tội ác trong tay bọn thống trị…

“Hắn say thì hắn làm bất cứ việc gì người ta sai hắn làm… Hắn tác oai tác quái cho bao nhiêu dân lành, phá bỏ bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người dân lương thiện”. Mọi hành động, tội ác của Chí Phèo là sự phản ứng gay gắt, quyết liệt của người nông dân lương thiện bị dồn tới bước đường cùng.

Nhưng tính chất tha hoá, lưu manh của Chí Phèo đã làm cho những phản ứng đó trở nên mất phương hướng, tiêu cực, rất nguy hiểm, dễ bị kẻ thù mua chuộc, lợi dụng. Càng ngày, Chí Phèo càng rơi sâu vào vực thẳm của đau thương và tội lỗi, trượt dài trên con đường tha hoá, lưu manh không lối thoát. Hắn lâm vào một tấn bi kịch đầy nghịch lí: vừa là nạn nhân đau thương của giai cấp thống trị, vừa là con quỷ dữ đối với dân làng Vũ Đại. Mọi người đều sợ và tránh mặt Chí Phèo mỗi lần hắn đi qua.

Như vậy, đẻ ra người nông dân lương thiện là một bà mẹ hiền lành, tội nghiệp nào đó lén lút vứt đứa con vào một cái lò gạch bỏ không. Nhưng đẻ ra một thằng Chí Phèo lưu manh, tha hoá bị đầy đoạ, lăng nhục, bị cướp cả nhân tính và nhân hình, bị đối xử như một con vật là toàn bộ xã hội thực dân phong kiến bất công, tàn bạo, vô nhân đạo thời bấy giờ.

Nhưng bi kịch của Chí Phèo không chỉ dừng lại ở đó. Chí Phèo còn lâm vào một tấn bi kịch đau đớn hơn: bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Giữa bóng tối mênh mông của cuộc đời, vào một đêm trăng thơ mộng, Chí Phèo được gặp Thị Nở, một người đàn bà xấu đến ma chê quỷ hờn. Được sự săn sóc giản dị bằng tình yêu thương mộc mạc, chân thành không tính toán của người đàn bà khốn khổ là Thị Nở, bản chất người nông dân lao động lương thiện trong Chí Phèo đã thức dậy.

Nam Cao đã giành cho Chí Phèo những trang văn xuôi cảm động đầy chất thơ để miêu tả tình yêu và qúa trình thức tỉnh chất người trong hắn. Lần đầu tiên tỉnh dậy sau những cơn say vô tận, Chí Phèo lắng nghe từng âm thanh náo nức của cuộc sống vang động vào tâm hồn mình: những âm thanh quen thuộc như tiếng chim hót, tiếng gõ mái chèo anh thuyền chài đuổi cá trên sông, tiếng chuyện trò của mấy người đàn bà đi chợ về… Đó là âm thanh cuộc sống gia đình hạnh phúc ngày nào cũng diễn ra nhưng chỉ hôm nay Chí Phèo mới nghe thấy.

Bởi sau một thời gian dài, Chí Phèo bị xã hội thực dân phong kiến với bọn cường hào độc ác, nhà tù tàn bạo làm cho mù điếc tâm hồn. Giờ đây tâm hồn hắn đã được Thị Nở với bát cháo hành chứa đựng bên trong hương vị của tình yêu chân thành và hạnh phúc giản dị thấm thía làm cho sáng tỏ.

Lần đầu tiên hắn biết buồn vì sự cô độc; cũng là lần đầu tiên hắn biết nhớ, biết hồi tưởng về quá khứ với ước mơ một gia đình hạnh phúc, yên vui, bình dị. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở có ý nghĩa như một tia chớp loé lên trong cuộc đời tăm tối triền miên của Chí Phèo. Nó giúp Chí Phèo nhận ra tình trạng bi đát và tuyệt vọng của số phận mình:

“Nhìn phía trước người thân chẳng có
Ngó sau lưng quá khứ rợn ghê người”

Tình yêu thương đã thức tỉnh con người, khơi dậy trong hắn nỗi khát khao lương thiện. Chí Phèo rưng rưng cảm động. Chí Phèo muốn làm hoà với mọi người biết bao, nghĩa là hắn vô cùng tha thiết muốn kết nạp trở lại cái xã hội bằng phẳng của những con người lương thiện. Thị Nở là cái cầu đưa Chí Phèo trở về cuộc sống lương thiện và câu trả lời của Thị Nở quyết định số phận của Chí: được kết nạp trở lại xã hội loài người hay vĩnh viễn bị đầy đoạ trong kiếp sống thù hận.

Chí Phèo hồi hộp hi vọng. Nhưng cánh cửa hi vọng vừa hé mở thì lại bị đóng sầm ngay lại vì bà cô của Thị không cho Thị đâm đầu đi lấy một thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ. Nhưng trách gì bà cô – bà cô là hiện thân của thành kiến, định kiến bất công, vô nhân đạo của làng Vũ Đại, của xã hội cũ. Lâu nay, mọi người trong làng quen coi hắn là quỷ dữ mất rồi! Chí Phèo đã sống những giây phút hạnh phúc nhất của cuộc đời trong tình yêu, lại rơi vào những giây phút đau đớn nhất của tấn bi kịch tinh thần.

Rượu không thể làm hắn say… “hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành” – cái hương vị của tình người, tình thương yêu mà Chí không thể quên được dù chỉ nếm trải trong một lần ngắn ngủi; hắn ôm mặt khóc rưng rức. Giọt nước mắt của Chí Phèo là sự thể hiện cao nhất đỉnh điểm của nỗi đau đớn khi nhận ra mình đã bị cự tuyệt quyền làm người.

Chí Phèo lại uống rượu và xách dao ra đi. Nhưng hắn không rẽ vào nhà Thị Nở như dự định ban đầu mà đến thẳng nhà Bá Kiến. Trong cơn đau khổ và tuyệt vọng, Chí Phèo trở thành người nô lệ thức tỉnh, một đầu óc sáng suốt nhất làng Vũ Đại, hắn hiểu ra, thấm thía tội ác của kẻ đã cướp cả hình người và hồn người của mình là Bá Kiến. Chí Phèo lần này quyết đến để trả thù. Đứng trước Bá Kiến, Chí Phèo đã chỉ tay vào mặt lão và dõng dạc đòi quyền làm người, đòi được làm lương thiện.

Chí Phèo đã vung dao lên giết chết Bá Kiến. Giết xong Bá Kiến, Chí Phèo quay lại tự giết mình. Chí Phèo chết vì không tìm được lối thoát, vì xã hội không cho hắn sống. Ý thức nhân phẩm đã trở về, Chí Phèo không bằng lòng kiếp sống thú vật nữa nên đã tìm đến cái chết. Chí Phèo chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống và cái chết của Chí cũng là một cái chết thê thảm của một con vật. Nó có ý nghĩa tố cáo xã hội một cách sâu sắc và mãnh liệt.

Trước đây để bám lấy cuộc sống, Chí Phèo đã từ bỏ nhân phẩm. Giờ đây ý thức nhân phẩm đã trở về thì Chí Phèo lại phải thù tiêu cuộc sống của mình. Gấp trang sách lại ta còn nghe văng vẳng đâu đây câu hỏi của Chí Phèo: “Ai cho tao lương thiện?”. Đó là một câu hỏi chứa chất phẫn uất đau đớn làm day dứt hàng triệu trái tim người đọc: làm thế nào để cho con người được sống cuộc sống con người trong cái xã hội tàn bạo vùi dập nhân tính ấy?

Câu hỏi của Chí Phèo là “Một câu hỏi lớn. Không lời đáp” thật ai oán, tuyệt vọng! Đấy cũng chính là bi kịch lớn nhất ở nhân vật yêu quý này. Từ số phận nhân vật Chí Phèo, Nam Cao muốn khái quát một hiện tượng phổ biến ở nông thôn nước ta trước Cách mạng: một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh hoá.

Sáng tạo ra nhân vật Chí phèo với gương mặt không tuổi, chằng chịt đầy vết sẹo và với tâm hồn mang nỗi đau quằn quại của một con người bị cự tuyệt quyền làm người,Nam Cao đã mang lại cho người đọc một cái nhìn hoàn toàn mới, ở một góc độ mới về nông dân: cái nhìn vào cõi tinh thần, vào chiều sâu bi kịch.

Viết những trang văn đau đớn thấm đẫm nước mắt về bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí, Nam Cao đã cắm cho mình một cái mốc vinh quang trên con đường trở thành nhà văn lớn của văn học hiện thực và văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX.

Gợi ý cho bạn 🌟 Phân Tích Chữ Người Tử Tù 🌟 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người Ngắn Hay – Mẫu 10

Bài văn mẫu phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người ngắn hay dưới đây sẽ mang đến cho các em học sinh những ý tưởng làm bài mới mẻ và đặc sắc.

Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Trong suốt sự nghiệp cầm bút của mình, ông luôn có những trăn trở, nghĩ suy về sống và viết. Mỗi tác phẩm của Nam Cao đều hướng về con người, vì con người, và với ông, đỉnh cao của sự sáng tạo là những cái mới mẻ, ông từng viết: “Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có”.

Có lẽ chính bởi những quan niệm nghệ thuật chân chính ấy mà Nam Cao đã cho ra đời hàng loạt những tiểu thuyết, truyện ngắn thành công, đánh đấu tên tuổi của mình trên văn đàn văn học.

Truyện ngắn “Chí Phèo” là tác phẩm xuất sắc cho thấy được tài năng nghệ thuật trong ngòi bút điêu luyện của nhà văn, đồng thời qua đó phản ánh được số phận con người với tấn bi kịch đau đớn nhất- bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Nhân vật Chí Phèo là nhân vật tư tưởng của tác phẩm.

Chí Phèo xuất hiện trong tác phẩm với tiếng chửi đời, chửi người một cách bất cần. Hắn chửi mà chẳng ai màng quan tâm, để ý tới, tiếng chửi chứa đựng cả những sự xót xa, cả đau thương và tủi nhục. Phải chăng Chí cũng đang khát khao có được sự quan tâm, lời hỏi han từ ai đó, nhưng chẳng một ai, chẳng một ai trong cái làng ấy thực lòng để tâm đến Chí. Tiếng chửi chua chát ấy mở đầu cho câu chuyện thương tâm về cuộc đời Chí.

Chí Phèo vốn sinh ra đã bất hạnh, thiếu thốn sự yêu thương, tình thân gia đình. Hắn được một người đi thả ống lươn thấy với bộ dạng trần truồng đặt trong cái váy đúp nơi lò gạch cũ bỏ không nhặt về rồi đem cho một bà goá mù. Trớ trêu thay, mụ lại bị đem bán cho phó côi, một người già mà không có con. Khi bác phó côi chết đi, Chí lại sống một thân một mình, bơ vơ.

Cuộc đời không may mắn ấy lại cứ thế vận vào con người tội nghiệp kia. Chí phải đi ở làm thuê cuốc mướn để có cái ăn nuôi sống bản thân mình, dù vậy, Chí vẫn rất chăm chỉ lại lương thiện và có lòng tự trọng. Cũng như bao người khác, Chí cũng khát khao có được bình yên trong ngôi nhà nhỏ “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải”.

Vậy đấy, những người nông dân nghèo họ đâu mong giàu sang phú quý chỉ mong được ấm êm, tình cảm yêu thương gắn bó dành cho nhau rồi cùng nhau cố gắng mà làm ăn vậy thôi. Nhưng ngay cả đến cái ước mơ nhỏ nhoi ấy cũng xa vời với Chí, đắng cay hơn, Chí phải trải qua những bi kịch tồi tệ nhất cuộc đời.

Vào làm thuê cho Bá Kiến, vì sự lẳng lơ của bà vợ ba trẻ mà Chí Phèo phải chịu cái ghen oan của Bá Kiến. Bị đẩy vào tù tội ngót 7, 8 năm trời, Chí Phèo trở thành một con người khác, một còn người mất đi cả hình hài vốn có, mất đi cả nhân tính trước đây, giờ đây người ta xem Chí như một con quỷ dữ của làng Vũ Đại..

Chí Phèo trở về với cái ngoại hình ghê sợ: “Cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết”. Trong bộ dạng với chiếc quần nái màu đen, cái áo tây vàng, ngực, cánh tay chạm trỗ những rồng phượng, ai nhìn thấy cũng phải thốt lên “trông gớm chết!”. Cái nhân dạng xấu xí, tồi tệ đến thế nào mà còn có tính cách hướng thiện thì người đời còn để tâm, nhưng Chí Phèo ra tù tính tình cũng đổi khác, hắn uống rượu say khướt cả ngày từ trưa tới tối, rồi vác thân đến nhà Bá Kiến làm loạn ăn vạ.

Tưởng cương quyết vạch tội ác của bầy lũ thất đức kia những chỉ vài câu dỗ ngọt, vài chén rượu thừa, vài đồng bạc thuê, Chí lại xuôi lòng mà làm thuê cho hắn “Chí Phèo chẳng biết họ hàng ra làm sao, nhưng cũng thấy lòng nguôi nguôi….Vậy mà không: cái cụ bá thét ra lửa ấy lại xử nhũn, mời hắn vào nhà xơi nước. Thôi cũng hả, đã xử nhũn thì hắn vào”.

Tên Bá Kiến độc ác kia lại dàn xếp với ý nghĩ ngông cuồng có tính toán của hắn: “Không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị những thằng đầu bò?” để dùng Chí Phèo như một tên lưu manh, đầu bò. Và Chí đã sập bẫy Bá Kiến, từ đấy hắn làm hại không biết bao nhiêu người, phá phách của cải của bao nhiêu gia đình lương thiện. Hắn châm lửa đốt nhà của mụ hàng rượu, hắn đòi nợ cho Bá Kiến rồi tự huênh hoàng: “anh hùng làng này cóc có thằng nào bằng ta!”.

Được nhận vài đồng bạc, vài sào ruộng, Chí càng hả hê sung sướng, rồi đâm đầu theo tên Bá Kiên gian hùng, hiểm độc. Theo thời gian, hắn cứ thế như một kẻ vô danh, không tên không tuổi, “Bây giờ thì hắn đã thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay ngoài bốn mươi? Cái mặt hắn không trẻ cũng không già; nó không còn phải là mặt người; nó là mặt của con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?”.

Hắn không có cả thẻ biên tuổi, trong làng xem hắn là dân lưu tán, vậy mà tội lỗi của Chí nếu viết ra sớ cũng dài ngốn giấy “Bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại, người ta giao cho hắn làm!”. Đau đớn thay cái xã hội với những kẻ tàn ác, những kẻ vì lợi ích, mục đích cá nhân mà đẩy con người đến đường cùng của sự tha hoá, dạy con người đi từ tội lỗi này đến tội lỗi khác.

Chí trở thành một kẻ gian ác bởi bàn tay kẻ gian ác tạo nên, Chí giờ đây không còn là Chí của năm nào nữa, Chí chẳng hề biết được rằng mình chính bây giờ lại “là con quỷ dữ của làng Vũ Ðại”. Người ta xa lánh, sợ hãi hắn như xa lánh một điều gì đó đáng sợ, ghê tởm.

Những tưởng rồi sẽ chẳng có ai đánh thức được phần người trong kẻ tha hoá kia. Nhưng chính trái tim yêu thương hay lòng thương hại của một cô gái xấu xí lại cho Chí cảm nhận được tình người. Chí gặp Thị Nở nơi vườn chuối khi hắn đang say khướt, sự thú vị mà hắn cảm nhận được từ một người “ma chê quỷ hờn” làm hắn “rộn rạo khắp người”.

Và sau cái đêm trăng sáng ấy, Chí mở mắt, cảm nhận được hết những điều xung quanh mà bấy lâu hắn không hề biết, không hề quan tâm tới, lòng hắn có chút bâng khuâng, lạ lùng: “Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy, hắn thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn. Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc, hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình. Ruột gan lại nôn nao lên một tý. Hắn sợ rượu cũng như những người ốm sợ cơm. Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”.

Rồi hắn nôn nao nhớ lại những ước mơ bình dị xưa kia của mình. Bát cháo của Thị đã cứu vớt tâm hồn Chí, Chí bắt đầu thấy được thực tại quá nghiệt ngã của mình, nghĩ về một tương lai đầy những nỗi cô độc, đói rét ,ốm đau, hắn bắt đầu thấy sợ hãi, sợ hãi tột cùng. Còn biết sợ là còn có tính người, còn biết sợ mới chính là con người thực trong Chí.

Chí bắt đầu hồi sinh chính mình, bắt đầu biết nhận thức về cuộc đời mình một lần nữa. Chí cảm động đến phát khóc khi bưng bát cháo trên tay, bởi từ trước tới nay miếng ăn đều do hắn cướp bóc mà có được, Thị là người đầu tiên cho hắn cháo một cách tự nguyện như thế. Chí thấy ăn năn và hối hận, Chí khát khao, nghĩ suy được làm người lương thiện, được cùng sống vui vẻ với mọi người xung quanh: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được”.

Lấp lánh lương tri trong người Chí lại không thể thắng nổi sự tàn bạo của xã hội lúc bấy giờ. Chí một lần nữa lại rơi vào bi kịch. Hắn muốn được chung sống cùng Thị nhưng Thị lại cự tuyệt hắn, những lời lẽ cay nghiệt, mỉa mai nhưng là sự thực của bà cô khiến hắn càng tức giận, đau đớn. Dù đã cố gắng nhưng mọi sự đều không thể thay đổi bởi cái định kiến, nghĩ suy mà người ta gán vào trong cái nhân hình của Chí, người ta khinh sợ Chí, không chấp nhận một kẻ như Chí làm chồng.

Nỗi cay đắng cuộn trào, sự căm thù càng lớn, Chí vác dao hòng giết bà cô nhưng bước chân hướng đến nhà tên Bá Kiến, bởi trong Chí lúc này đã hiểu ra rằng, kẻ đẩy hắn vào đường cùng, vào kết cục tàn nhẫn bị thảm này là tên Bá Kiến hung tàn chứ không là ai khác. Chí đã giết chết Bá Kiến, kết thúc cuộc đời đầy đau khổ, bi đát của chính mình.

Một cái chết đáng thương, một cái chết để lại cho lòng người những nghĩ suy , trăn trở, cái chết tố cáo một xã hội thực dân đã đẩy những người khốn khổ vào cái chết bi thương. Đến khi chết, Chí vẫn kêu gào những tiếng xót xa: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa”. “Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không? Chỉ có một cách… biết không! Chỉ có một cách là… cái này biết không?”

Bằng việc đặt nhân vật vào hoàn cảnh điển hình, Nam Cao đã khắc hoạ nên nhân vật Chí Phèo hết sức thành công. Qua nhân vật Chí Phèo ta hiểu hơn được những khốn khổ của người nông dân trước cách mạng, thêm căm phẫn một xã hội mà ngay chính cả quyền được sống, được làm người của con người cũng bị tước đoạt.

Tham khảo trọn bộ 💕 Phân Tích Cảnh Cho Chữ 💕 15 Bài Văn Cảm Nhận Nhận Hay Nhất

Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người Luyện Viết – Mẫu 11

Tham khảo bài văn phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người luyện viết để củng cố lại nội dung và kiến thức xoay quanh tác phẩm.

Khi Chí Phèo: “Ngật ngưởng bước ra từ những trang sách của Nam Cao, thì người ta liền nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ những gì gọi là khốn khổ, tủi nhục nhất của người dân cày ở một nước thuộc địa, bị cào xẻ, bị hủy hoại từ nhân tính đến nhân hình. Chị Dậu bán con, bán chó, bán sữa nhưng chị vẫn còn được là con người.

Chí Phèo phải bán cả diện mạo và hồn của mình để trở thành con quỷ dữ”. (Nguyễn Đàng Mạnh). Trong muôn vàn nỗi khốn khổ tủi nhục mà Chí đã nếm trải, không thể không chú ý đến cái bỉ kịch bị cự tuyệt quyền làm người của y. Đó cũng là chủ đề xuyên suốt tạo nên giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực của tác phẩm Chí Phèo.

“Bi kích là tình cảm éo le đầy đau thương, bế tắc chưa có lối thoát mà còn người phải chịu đựng”. Hiểu theo nghĩa ấy, số phận Chí Phèo là một chuỗi dài bi kịch mà bi kịch sau bao giờ cũng đau đớn hơn bi kịch trước. Nhiều ngươi khẳng định, Chí xuất hiện sau tiếng chửi, điều ấy đúng! Nhưng có lẽ chưa đủ. Nam Cao thường giới thiệu với ngươi đọc ở giai đoạn quan trọng nhất của số phận nhân vật.

Đọc những dòng dầu tiên của tác phẩm, độc giả thấy xuất hiện một nhân vật chưa nêu tên, dường như chỉ có một hành động, một cuộc độc thoại. Nhờ biện pháp nghệ thuật tăng cấp nhơ những câu văn ngắn, nhịp văn vấp tưởng chừng như các câu văn bị xó rách, bị cắt vụn mà ngươi đọc có cảm giác được chứng kiến tận mắt sự quằn quại của Chí trong cơn đau bị cự tuyệt quyền làm ngươi. Chí chửi trời (đấng tối cao của muôn loài), Chí chửi làng “cái cộng đồng gần gũi, thiêng liếng của con người”…

Nhưng không ai lên tiếng cả.Người ta không lên tiếng vì người ta không công nhận Chí là người. Cả làng Vũ Đại không ai hiểu Chí, giá có một ngươi để chửi nhau, có lẽ Chí còn đỡ khổ. Bởi vì người ta sống – dù là để chửi nhau cũng không thể chửi một mình.Chí chỉ còn biết chửi người đẻ ra y. Chửi người đẻ ra mình thì cũng là chửi chính bản thân mình. Tiếng chửi của Chí thể hiện sự vật vã, dẫu là vô ý thức, để tìm căn nguyên của đau khổ. Nhưng khốn khổ thay. Chí càng bế tắc.

Giá như ngày ấy ở làng Vũ Đại có một người lên tiếng cũng như sau đó, thị Nở “Không chỉ biết cho mà còn biết giữ”… giá như… giá như… chỉ cần một lần giá như xảy ra, chỉ cần một trong hàng nghìn người làng Vũ Đại coi Chí là người thì tấn bi kịch của đời Chí sẽ không có cơ hội xảy ra. Nhưng chuyện gì đã xảy ra thì nó đã xảy ra. Nam Cao ngược dòng thời gian trở lại với quá khứ để dẫn dắt người đọc, giúp họ thấu hiểu quá trình bị cự tuyệt quyền làm người từ thấp đến cao của Chí, đồng thời ông cũng chỉ rõ căn nguyên dẫn Chí đến tình trạng ấy.

Chí là “một đứa con hoang”, “một anh đi thả ống lươn một buổi sáng đã thấy hắn trần truồng và xám ngắt trong cái váy đụp để bên một lò gạch bỏ không; anh ta rước lấy và mang cho một người đàn bà góa bụa”. Năm từ “một” tồn tại trong câu văn dài, dường như đã báo trước cuộc đời cô độc triền miên của Chí.

Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời. Chí đã bị người mẹ, người đời cự tuyệt quyền làm người. Chí trở thành kẻ không cha, không mẹ, cũng may cho đời Chí, có lẽ vì lớn lên cùng những người lao động. Chí trở thành anh canh điền khỏe mạnh, biết tự trọng, “biết không thích những cái gì mà người ta khinh”. Anh khát khao có “một gai đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”. Nhưng đời đã không dành cho Chí cái àm anh có thể với trong tầm tay.

Một cơn ghen vu vơ của Bá Kiến đã đẩy Chí vào tù. Cái thế lực phong kiến cấu kết với nhà tù thực dân tước bỏ quyền tự do của Chí gần bảy – tám năm. Đấy là lần thức ai Chí bị cự tuyệt quyền làm người. Nhà tù đã biến Chí thành con người khác. “Hắn về lần này trông khác hẳn”.

Quyền làm người của Chí đã bị cự tuyệt bởi nhà tù đã cướp đi của y một phần nhân hình. Ở tù ra trông hắn như một thằng “săng đá” (lính tẩy), đầu trọc lốc răng cạo trắng hớn, mặt đen lại rất “cơng cơng” – “câng câng” thì còn ra cái mặt người. “Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng, cái ngực phanh ra đầy những nét chạm trổ phượng với một ông tướng cầm trùy trông gớm chết”. Đó là hình dạng của kẻ côn đồ, hung hãn chỉ biết gây gổ, đâm chém, về làng hôm trước, hôm sau.

Chí đã uống rượu say nhè, điên cuồng lao vào trả thù Bá Kiến bằng cách ăn vạ, chửi đổng. Nếu như trả thù là cái quyền thông thường (oán thì trả oán, ân thì trả ân) thì Bá Kiến lại cũng đã khéo léo tước luôn quyền ấy cửa Chí. Không trả được thù, Chí lại từng bước trở thành tay sai cho kẻ thù, trở thành công cụ mù quáng của Bá Kiến. Hắn chỉ còn biết rạch mặt, ăn vạ để đòi tiền, để đâm chém những ai không cùng phe cánh với chính kẻ thù.

Từ đó, hắn chìm trong cơn say, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say và đánh nhau trong cơn say, “Hắn đã phá tan bao nhiêu gia đình, đạp vỡ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt bao nhiêu người lương thiện”. Cứ như thế đời hắn trượt dài. Nhìn vào mặt hắn, người ta không biết hắn bao nhiêu tuổi. Đời hắn đã xem như đời bỏ đi, nhân hình bị hủy hoại, nhân tính bị xói mòn. Cả làng Vũ Đại đều tránh mặt, mỗi lần hắn qua.

Ngay bản thân hắn cũng đã quên sự có mặt của hắn ở trên đời. Có thể nói trước khi gặp thị Nở, Chí đã bị cự tuyệt quyền làm người đến cao độ. Nhưng có lẽ hắn không nhận ra điều ấy hoặc nhận ra một cách vô thức, không tìm thấy lối thoát. CHí đành phải dấn thân vào cuộc đời say rượu, chửi đổng, ăn vạ, đâm thuê, chém mướn.

Người ta sẽ đỡ khổ, nếu khống biết mình sống trong cái khổ. Người ta sẽ đỡ đau đớn khi bị tước quyến làm người mà không hể hay biết. Trước khi gặp thị Nở, Chí Phèo chưa nhận thức được tấn bi kịch của đời mình. Chí đâu có biết cái cách người ta sản sinh ra hắn là tước đoạt dần quyền làm người của hắn. Đúng lúc Chí dấn thân đến chỗ tột cùng của sự tha hóa, đúng lúc người ta tưởng Chí sẽ triền miên trong cuộc đời một con quỷ dữ thì Nam Cao đã phát hiện trong chiều sâu tâm linh nhân vật một đốm lửa nhỏ nhoi bừng sáng.

Chí ao ước trở thành làm người lương thiện. Vai trò, vị trí của thị Nở trong tác phẩm là rất quan trọng. Con người “dở hơi, xấu ma chê quỷ hờn”, lại là nguồn sáng duy nhất ở làng Vũ Đại có thể chiếu sáng cõi đời tăm tối của Chí. Cơ thể đàn bà của thị không khơi gợi bản năng thú vật ở y. Tình thương của thị đã khơi dậy cái tính người mà lâu nay Chí đã đánh mất. Sau cuộc tình ngắn ngủi với thị Nở. Chí nghe được âm thanh của cuộc sống mà lâu nay hắn không để ý.

Sau bao nhiêu năm, bây giờ hắn mới nghe thấy tiếng chim hót, ngoài kia vui vẻ quá, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những âm thanh đấy gợi nhớ trong Chí những ước mơ rất người đã có từ thuở xa xưa. Lần đầu tiên Chí cảm thấy buồn, rồi hắn “sợ tuổi già, đói rét, ốm đâu và cô độc – cô độc còn sợ hơn đói rét và ốm đau”. Bát cháo hành của thị Nở đã đánh thức trong Chí những tình cảm lành mạnh. Ăn cháo mà hắn thấy mắt ươn ướt.

Chỉ cần một sự thương yêu – dù là tình yêu của kẻ dở hơi, của một người con giá quá lứa lỡ thì, có dòng giống mả hủi, cũng đủ làm sống lại bản tính người đã chết. Sức cảm hóa của tình thương thật vô biên. Nam Cao đã thực sự hóa thân vào nhân vật để cảm thông, để chia sẻ những giây phúc hạnh phúc rất người của Chí.

Thế là sau hơn hai mươi năm bị cự tuyệt quyền làm người. Chí Phèo đã tự tìm cho mình con đường trở lại làm người. Chí đã tạo ra chiếc cầu nối để làm hòa với thế giới người. Chiếc cầu nối ấy chính là thị Nở. Thị có thể sống chung với hắn thì làng Vũ Đại cũng có thể chấp nhận hắn. Nhưng bi kịch và đau đớn thay cho Chí. Thị Nở không thể gắn bó với Chí. Vì theo bà cô Thị, “đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao mà phải lấy một thằng không cha, không mẹ chi biết rạch mặt ăn vạ”.

Thế là một chút hạnh phúc nhỏ nhoi Chí đã có ở trong tay một lần nữa lại bị ý thức xã hội tước đoạt. Thị Nở là chiếc cầu vồng sau cơn mưa, Chí đau đớn nghĩ ra rằng chẳng có chiếc cầu nào đưa Chí trở về với cuộc sống con người nữa. Xã hội với quan niệm tàn nhẫn đã cự tuyệt đến cao độ quyền được sống, được làm người của Chí. Không ai cho Chí làm người lương thiện, kể cả khi Chí đòi làm người lương thiện.

Chí không thể xóa được những vết sẹo đã vạch lên trên mặt mình, Chí đau xót cảm thấy: “Không được nữa rồi chỉ còn cách này”. Chỉ còn cách chết trong, hơn sống đục. Chí đã nói những câu cuối cùng “đòi lương thiện” với Bá Kiến và cũng là tự nói với bản thân mình. Hành động giết Bá Kiến và tự sắt của Chí cho người đọc thấy cuối cùng rồi Chí cũng trả được mối thù. Nhưng cái giá phải trá của Chí là quá đắt. Cái chết của Chí là lời tố cáo mạnh mẽ đối với xã hội vô nhân, là lời kêu cứu khẩn thiết về quyền làm con người.

Chí chết, mồm ngáp ngáp trong vũng máu, nhưng Chí không tuyệt tự. Sức sống, sức mở và giá trị điển hình của nhân vật này là vô biên. Chí không chỉ đại diện cho nỗi khổ của người nông dân thời kì nước ta còn sống trong vòng nô lệ. Chí còn đại diện cho cái phần khùng điên khuất tối mà sinh ra trên cõi đời đày, ai cũng có thể, nếu không biết tự kiềm chế và nếu bị các thế lực hắc ám “nuôi dưỡng”.

Bi kịch cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo do nhiều căn nguyên. Có căn nguyên từ xã hội cũng có căn nguyên từ bản thân Chí. Khi quyền con người còn bị xúc phạm thì bi kịch của đời Chí Phèo còn được nhắc đến như một nỗi đau cùa toàn nhân loại.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Phân Tích Nhân Vật Viên Quản Ngục 🍀 14 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người Đơn Giản – Mẫu 12

Đón đọc dưới đây bài văn mẫu phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người đơn giản với những ý văn ngắn gọn và súc tích.

Viết về người nông dân không hẳn là đề tài mới đối với Nam Cao, thậm chí trước đó ông đã từng khai thác và xây dựng thành công nhiều hình tượng điển hình như: Lão Hạc, Hộ (Đời Thừa), dì Hảo, Lang Rận…

Thế nhưng Chí Phèo lại là một điểm nhấn khác biệt giữa những số phận đang quằn quại trong đau khổ dưới sự bất công của một chế độ mục rữa, thối nát. Nếu họ vẫn giữ được nhân cách và thiên lương trong con người mình thì Chí Phèo lại hứng chịu hàng loạt tấn bi kịch nghiệt ngã từ bần cùng hóa cho đến lưu manh hóa và cuối cùng là bị cự tuyệt quyền làm người – bi kịch lớn nhất của Chí Phèo.

Thiên truyện mở đầu bằng hình ảnh khá sống động, không phải là những trang viết nhẹ nhàng, lôi cuốn dẫn dắt người đọc đến với tác phẩm như nhiều nhà văn khác. Nam Cao đánh mạnh vào tâm lí độc giả bằng tiếng chửi thông thốc như thách thức cả cuộc đời của Chí Phèo. Chân dung của một gã say rượu ngật ngưỡng đầy phẫn uất vừa đi vừa chửi. Hắn chửi tất cả những gì trên đời mà hắn có thể chửi. Tiếng chửi của Chí không phải ngẫu nhiên, hắn chửi một cách rất logic.

Ban đầu hắn chửi trời, chửi đời rồi đến cả làng Vũ Đại và cuối cùng hắn kết thúc tiếng chửi trong vô vọng khi không có đứa n chịu chửi nhau với hắn. Trong cơn say vật vã, Chí ý thức rõ bi kịch của bản thân, hắn thấm thía nỗi khốn khổ khi cả làng Vũ Đại quay lưng, chẳng ai chịu giao tiếp với hắn. Và cứ thế hắn chửi rồi lại nghe, chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượu.

Chỉ với những tình tiết độc đáo, mới lạ trong tiếng chửi cay đắng của Chí phèo đã bao quát toàn bộ thảm cảnh thê lương và số phận người nông dân trong xã hội lúc bấy giờ. Chí Phèo là một hình tượng điển hình cho tất cả nhưng bi kịch tội lỗi trong xã hội loài người mà chính Chí lại bị xem là con quỷ dữ của làng Vũ Đại.

Trong quá khứ, Chí Phèo là một người nông dân lương thiện, hiền lành, thế những cái lương thiện hiền lành ấy trong phút chốc đã bị vùi dập bởi sự thối nát, gian ác của xã hội phong kiến mà nhân vật trực tiếp là tên cường hào Bá Kiến. Bị đẩy vào tù do tính ghen tuông của Bá Kiến, anh canh điền chất phác khi xưa sau khi ra tù đã biến đổi hoàn toàn cả về thể xác lẫn nhân cách “trong đặc như thằng săng đá, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng..” Chí thay đổi hoàn toàn, hắn đã mất hết cả hình người lẫn nhân tính.

Kể từ đó cuộc đời hắn trượt dài trên cái dốc lưu manh tha hóa và rơi vào vực sâu của kiếp sống tội lỗi cho đến khi đêm định mệnh ấy xảy đến với Chí. Một thằng lưu manh say xỉn và một con đàn bà dở hơi, ngẩn ngơ, họ ăn nằm với nhau vào một đêm “rười rượi những trăng”. Cuộc gặp gỡ với thị Nở chính là bước ngoặt quan trọng cứu rỗi những tháng ngày bế tắc không lối thoát của Chí, nó hệt như một vệt sáng lóe lên từ bùn lầy tối tăm mở đường cho hắn trở về với con đường bằng phẳng của người lương thiện – khoảng thời gian bình yên trước đây hắn từng sống.

Tình yêu thương, sự săn sóc ân cần của thị Nở đã đánh thức bản chất lương thiện trong Chí sau bao nhiêu năm ngủ yên. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm hắn bâng khuâng tình dậy và cảm nhận mọi vẻ đẹp tuyệt vời của cuộc sống: “Tiếng chim hót trong lành buổi sớm”, “tiếng cười nói rôm rả của những người đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”. Những âm thanh quá đỗi quen thuộc và gần gũi nhưng sao hắn cảm thấy xa lạ quá.

Đắm mình trong tiếng gọi tha thiết của cuộc sống, hắn bắt đầu hồi tưởng về “những ngày xưa xa xôi” mang theo một ước mơ khát khao “,” một gia đình nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải “. Hắn nghiền ngẫm quá khứ rồi lại tự chạnh lòng ở hiện tại bởi” hắn thấy mình già mà sao cô độc thế “, hắn nhận ra mình đã sống bên lề cuộc đời một cách khốn nạn.

Giây phút được hồi sinh trở lại, hắn muốn sống sao cho thật ý nghĩa. Khi thị Nở mang bát cháo hành đến, hắn ngạc nhiên rồi lại thấy” mắt hình như ươn ướt “bởi đây là lần đầu tiên hắn được chăm sóc bởi bàn tay đàn bà. Bát cháo hành của thị Nở là hương vị của tình người, tình yêu cuộc sống.

Tình cảm ấy nhen nhóm trong con người Chí Phèo khiến hắn muốn làm người lương thiện, muốn trở về với con người nguyên bản khi xưa và thị Nở sẽ” mở đường cho hắn “, thị sẽ giúp hắn hòa nhập với cộng đồng. Hắn đặt hết niềm tin nơi thị, hắn muốn ngỏ lời với thị” giá mình cứ thế này thì thích nhỉ.. Hay mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui? “Chỉ là lời nói vô tư như đứa trẻ nhưng chứa đựng cả một tấm lòng khát khao được hoàn lương đến nhường nào của Chí Phèo.

Tình yêu thương mộc mạc nhưng chân thành đã khơi gợi bản năng của” một con quỷ dữ “mong muốn thoát kiếp làm” người hiền “. Đây chính là tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao” nhìn thẳng vào sự thật tàn nhẫn, mở lòng ra để đón mọi vang động của cuộc đời, phải nói lên nỗi cùng quẫn của nhân dân, vì họ mà lên tiếng “.

Cuộc sống màu hồng của Chí Phèo và thị Nở thật ngắn ngủi chớp nhoáng biết bao, hạnh phúc vừa hé mở đã đột ngột khép lại bởi” hãy dừng yêu để hỏi cô thị đã “. Thị hớn hở chạy về nhà xin phép bà cô cho yêu và lấy Chí phèo. Bà cô thị Nở chính là định kiến xã hội, là điển hình của những mâu thuẫn, kì thị trong xã hội độc ác. Bà không cho phép cháu mình lấy một thằng lưu manh chuyên” rạch mặt ăn vạ “. Người đàn bà cay nghiệt đang tâm đạp nát chút hi vọng mong manh còn sót lại nơi Chí.

Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người khiến Chí trở nên đau đớn, tuyệt vọng khi thị Nở” trề cái môi vĩ đại trút tất cả lời bà cô lên Chi “. Lúc đầu Chí ngạc nhiên, Chi chợt hiểu rồi Chí lờ mờ nhận ra rằng đến một người như thị Nở mà còn không chấp nhận kẻ khốn cùng này thì còn nơi nào cho hắn dùng thân để trở về với cuộc sống bằng phẳng kia. Mọi thứ vừa được bồi lấp nguyên vẹn thì trong phút chốc chỉ vì một lời nói chua chát đã hóa thành tàn tro, trở về con số không tròn trĩnh.

Quá trình diễn biến tâm lí đầy phức tạp, có phần kịch tính và bất ngờ, bộc lộ rõ nét tâm trạng phẫn uất, đau đớn của kẻ bị cự tuyệt quyền làm người. Chí như rơi vào vực thẳm của hố sâu, trở nên hụt hẫng khi niềm tin bị hất phăng một cách tuyệt tình. Hắn xót xa nhận ra sự thật phũ phàng, đau khổ chứng kiến bi kịch diễn ra trước mắt. Chính cái gọi là lương thiện, điều mà chỉ trong vài ngày ngắn ngủi trước đó, hắn khao khát chờ đợi, giờ đây đã tan biến vào hố đen của khoảng không, bị vứt bỏ một cách đốn mạt.

Hắn cố níu kéo điều gì đó từ thị nhưng thị đã nhẫn tâm” gạt ra, lại giúi thêm cho hắn một cái “. Phải chăng cả xã hội đang quay lưng với hắn, không chấp nhận một thằng lưu manh như Chí tồn tại trên đời. Đau xót làm sao! Khốn nạn làm sao! Chí trở về với sự cô độc, giằng xé tâm can, hắn quằn quại trong tấn bi kịch tàn ác.

Những lúc thế này, hắn lại tìm đến rượu, trong men say, hắn thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Cảm xúc ùa về rồi cứ động đậy trong lòng hắn khiến hắn ý thức rõ thị là người đánh thức bản tính lương thiện trong con người hắn nhưng cũng chính là người đã dồn ép Chí trở về với bản tính thú vật trước đây. Hắn cứ uống nhưng càng uống càng tỉnh, hắn tỉnh rồi lại tự nghiền ngẫm lại tấn bi kịch cuộc đời mình để rồi từ đó hắn thấm thía rõ tội ác của kẻ thù, kẻ đã biến tướng nhân cách và cuộc đời hắn thê thảm như hôm nay.

Chí xách dao đến nhà thị Nở với mục đích giết chết “con đĩ Nở và con khọm già nhà nó “nhưng điều gì làm hắn quên rẽ vào nhà thị Nở để rồi hắn băng thẳng đến nhà Bá Kiến. Đây thực chất chỉ là một hành động vô thức nhưng lại là cơ hội để hắn nhận thức rõ kẻ thù thực sự của mình là ai. Đứng trước tên cường hào máu lạnh, Chí Phèo thốt lên câu nói thống khổ, bi thiết:” Ai cho tao lương thiện? Làm sao để mất những vết mảnh chai trên mặt? Tao không thể làm người lương thiện được nữa!”

Tiếng kêu ai oán ấy xoáy sâu vào lòng người đọc và để lại nỗi dư âm đầy ám ảnh trong tâm khảm mỗi người. Đây không chỉ là lời vạch mặt đanh thép mà còn là bản cáo trạng súc tích tố cáo tội ác, tư cách nhem nhuốc của tên cường hào Bá Kiến. Chỉ thẳng tay chỉ vào mặt Bá Kiến và trợn mắt đòi lại quyền sống cho mình. Cái quyền làm người ấy được chứng minh bằng hành động giết chết kẻ thù và tự sát.

Chí tự giết chết con quỷ dữ trong người bởi ý thức nhân phẩm của hắn đã trở về, không chịu nổi kiếp sống thú vật, Chí đã tự tìm lối thoát cho mình khỏi nghịch cảnh của xã hội. Hình ảnh những vết mảnh chai trên mặt là dấu vết của những năm tháng tội đồ, chúng trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của người dân làng Vũ Đại.

Chí Phèo đấu tranh tư tưởng để giành lại quyền sống, quyền làm người. Hắn quằn quại trong vũng máu và kết thúc quãng đời tội lỗi. Dù vậy nhưng nhân cách lương thiện và khát khao được làm người lương thiện của Chí sống mãi trong lòng độc giả.

Tác phẩm Chí Phèo không chỉ nổi bật ở cốt truyện đặc sắc, mới lạ kết hợp ngôn ngữ biểu cảm, sống động cùng nhiều tình tiết hấp dẫn, biến hóa đầy kịch tính mà còn ghi dấu sâu đậm trong lòng bạn đọc tính nhân đạo của ngòi bút Nam Cao. Phải là người có” đôi mắt mới “và” trái tim đầy xúc cảm “nên ông mới phát hiện và miêu tả rõ nét diễn biến tâm lí cùng bi kịch đau thương của số phận người nông dân cố cùng bị lăng nhục.

Nhà văn không dừng lại ở việc miêu tả ngoại hình nhân vật mà ông còn đi sâu vào từng ngõ ngách tính cách, len lỏi và tận sâu nội tâm, trạng thái của người nông dân trong quá trình bị lưu manh tha hóa để tìm tòi, khai phá” những điều mới mẻ “,” khơi những nguồn chưa ai khơi “.

“Chí Phèo” là một hình tượng rất khác so với những tác phẩm về người nông dân của nhiều nhà văn cùng thời. Một số phận nghiệt ngã đến cùng cực, khốn khổ, bi thảm đến độ không còn lối thoát nào để nhân vật thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nghịch cảnh. Qua đó tác phẩm phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội Việt Nam lúc bấy giờ và thực trạng người nông dân bị đày đọa, áp bức nhưng không thể lên tiếng để bảo vệ quyền sống của bản thân.

Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Phân Tích Hai Đứa Trẻ Thạch Lam 🌟 18 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài Phân Tích Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người Của Chí Phèo Sinh Động – Mẫu 13

Bài phân tích bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo sinh động dưới đây sẽ giúp các em học sinh trau dồi cho mình những ý văn hay và giàu hình ảnh biểu đạt.

Còn điều gì đau đớn và xót xa hơn khi ta vẫn hiện hữu trong cộng đồng, nhưng lại bị chính cộng đồng đó ruồng rẫy, bỏ mặc, đó là bi kịch đau xót nhất của con người – bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Bằng ngòi bút sắc sảo của một nhà văn hiểu đời và hiểu người, Nam Cao đã tái hiện chân thực, đầy xúc động bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên.

Mở đầu ta không thấy chân dung bất cứ ai, chỉ có tiếng chửi là văng vẳng vang lên ngay từ đầu tác phẩm. Vì sao mà người đó phải chửi ? Vì sao tiếng chửi lại cay nghiệt, phẫn uất đến vậy ? Đó chính là tiếng chửi của Chí Phèo sau khi đi uống rượu say về, hắn chửi trời, chửi đời, rồi chửi làng Vũ Đại, chửi những đứa không chửi nhau với hắn, ngay cả người đẻ ra hắn hắn cũng không ngần ngại chửi.

Nhưng chỉ có một mình Chí độc thoại, không có bất cứ ai đáp lại vì nghĩ Chắc nó trừ mình ra. Thành thử ra chỉ có tiếng chó sủa hòa với tiếng một kẻ say đang chửi. Bi kịch của Chí ngay từ đầu đã được tác giả khơi mở. Để rồi sau đó ngược về quá khứ, thấy được những bi kịch nối dài cuộc đời Chí Phèo, mà bi kịch sau bao giờ cũng đau đớn, khổ sở hơn bi kịch trước.

Chí Phèo ra đời ở một cái lò gạch cũ cũ hoang, được một anh thả ống lươn mang về nuôi. Ngay từ khi sinh ra Chí đã bị người mẹ đẻ của mình cự tuyệt quyền sống, quyền được làm người. Dù được cứu nhưng Chí cũng phải sống lang thang hết nhà này đến nhà khác. Cuộc đời Chí không nhà không cửa, không cha không mẹ, không họ hàng thân thích, không tấc đất cắm dùi. (Nguyễn Hoàng Khung ). Từ khi sinh ra cuộc đời Chí đã là một bi kịch.

Khi lớn lên, là một anh nông dân khỏe mạnh, Chí đi làm thuê cho gia đình Bá Kiến, Chí hiền như đất, nhưng lại liên tục bị bà ba gọi lên bóp chân, trong lòng Chí chỉ thấy nhục, người ta không thích những thứ người ta khinh. Nhưng Chí lại bị con quỷ dâm đãng Bá Kiến bắt gặp, hắn ta đã tống Chí vào nhà tù thực dân cho thỏa nỗi ghen tuông. Bi kịch thứ hai đổ ập xuống đầu Chí.

Nhà tù thực dân với những ngón đòn độc ác, dã man đã biến Chí thành người khác hẳn, từ một người lương thiện Chí biến thành kẻ lưu manh: cái răng cạo trắng hớn, cái mắt gờm gớm,. khiến ai cũng phải sợ hãi. Hắn uống rượu say, đến nhà Bá Kiến rạch mặt ăn vạ và cuối cùng trở thành tay sai cho Bá Kiến. Hắn làm mọi việc mà Bá Kiến sai khiến, hắn đã phá vỡ hạnh phúc biết bao gia đình làm chảy máu và nước mắt bao nhiêu người lương thiện.

Chí Phèo chìm sâu vào hơi men, nhân tính và nhân hình ngày càng bị dìm xuống đáy. Chẳng ai còn nhận ra anh Chí Phèo hiền lành như đất của ngày xưa. Cuộc đời Chí trải qua hết cơn say này đến cơn say khác : Từ đấy, hắn bao giờ cũng say. Những cơn say của hắn tràn cơn này qua cơn khác [. ] thức dậy hãy còn say, đập đầu, rạch mặt, chửi bới, dọa nạt [. ] Chưa bao giờ hắn tỉnh [. ] Có lẽ hắn cũng không biết rằng hắn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại đã tác quái cho bao nhiêu dân làng.

Đời Chí Phèo trượt dài trên vũng lầy ấy. Giá thử Chí Phèo vẫn tiếp tục say, vẫn tiếp tục rạch mặt ăn vạ thì có lẽ Chí cũng tự quên đi bi kịch của chính mình. Nhưng không, Chí Phèo đã gặp ánh sáng của đời mình – Thị Nở, người đã khiến Chí nhận ra bi kịch của chính mình mà bấy lâu nay hắn cố tình không nhận ra hoặc hơi men đã khiến hắn quên mất.

Trước khi gặp Thị Nở, Chí Phèo không ý thức được bi kịch của đời mình. Nhưng khi gặp thị Nở, nhận được sự quan tâm, chăm sóc đầy ân tình mà rất đỗi giản dị, đã làm thức dậy bản chất lương thiện trong Chí Phèo. Buổi sáng sau hôm gặp Thị Nở, lần đầu tiên trong suốt bao năm Chí nghe thấy những âm thanh quen thuộc của sự sống: tiếng chim hót, tiếng người ta đi chợ,. âm thanh thân thương và ấm áp quá. Âm thanh ấy gợi về trong Chí những ngày xưa bình dị, khi Chí còn là một người bình thường, với những mong ước giản đơn.

Chí giật mình trở về hiện tại nhận thấy hiện tại và tương lai cô độc, đói rét. Chí rùng mình sợ hãi. Đặc biệt khi thị Nở mang bát cháo hành sang cho chỉ, bằng những cử chỉ ân cần mà hết sức tự nhiên, Chí Phèo thực sự xúc động, hắn thấy mắt mình ươn ướt. Tình yêu thương ấy đã giúp phục sinh con người vốn tưởng đã trở thành con quỷ, đã trở nên tha hóa nay phần nhân tính đã trở về.

Trong Chí cũng thức dậy khao khát được làm hòa với mọi người, được làm người lương thiện. Bằng ngòi bút phân tích tâm lí đặc sắc, độc đáo Nam Cao đã nhận ra phần bản chất đẹp đẽ nhất của người nông dân sẽ không bị hủy diệt dù họ có bị vùi dập, tàn phá về thể xác.

Nhưng còn gì đau đớn hơn, khi Chí đã sẵn sàng quay trở lại ngưỡng cửa của một con người bình thường, làm người lương thiện thì định kiến tàn nhẫn đã đóng sầm cánh cửa hi vọng của Chí. Chí bị cự tuyệt quyền làm người một cách đau đớn, phũ phàng. Lời bà cô chính là điển hình cho cực định kiến, đẩy Chí vào con đường tuyệt vọng : đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao mà phải lấy một thằng không cha, không mẹ chi biết rạch mặt ăn vạ.

Hạnh phúc mong manh vừa hé mở thì đã bị xã hội độc đoán bóp nghẹt. Bi kịch lần này đau đớn hơn, khổ sở hơn bởi Chí đã ý thức được bi kịch của chính mình, Chí tỉnh táo để nhận ra rằng ngay cả khi bản thân sẵn sàng thay đổi để hòa nhập với cộng đồng thì họ vẫn chặn đứng Chí. Bởi vậy, Chí chỉ còn một cách duy nhất đó là giết tên đã gây nên bi kịch cho mình và tự giết chính mình. Chí chết đi, để giết chết nhân hình tha hóa, để giữ lại phần nhân tính đã thức tỉnh.

Bi kịch cuộc đời Chí là do nhà tù thực dân, là do xã hội với những định kiến lỗi thời và cũng là do chính bản thân Chí. Với bi kịch bị cự tuyệt làm người một lần nữa Nam Cao khắc sâu hơn nỗi đau của người nông dân khi bị đẩy đến bước đường cùng. Đồng thời cũng cho thấy niềm tin của tác giả vào sự cảm hóa và bản chất người trong mỗi chúng ta. Qua đây cũng cho thấy tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nam Cao.

SCR.VN tặng bạn 💧 Phân Tích Nhân Vật Liên 💧 15 Bài Văn Phân Tích Tâm Trạng Hay

Phân Tích Bi Kịch Của Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người – Mẫu 14

Chia sẻ dưới đây bài phân tích bi kịch của Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người để các em học sinh cùng tham khảo và học tốt tác phẩm.

Trong giai đoạn văn học 1930-1945, chủ yếu các tác giả đều viết về số phận những người nông dân, nhưng mỗi người đều có lối viết, lối khai thác các nhân vật của riêng mình. Còn riêng Nam Cao, ông lại muốn tìm tòi, khai thác về nỗi khổ của những người nông dân lương thiện. Nam Cao sinh ra trong một gia đình nông dân ở làng Đại Hoàng, cả cuộc đời ông vất vả lận đận, ông là người giàu tình yêu thương, nặng ân tình đặc biệt là đối với những người nông dân nghèo khổ bị áp bức.

Năm 1951, Nam Cao hy sinh, ông xứng đáng là một nhà văn- chiến sĩ, có thể coi là ngòi bút đại thụ của nền văn học Việt Nam. Tác phẩm ” Chí Phèo ” đã trải qua 3 lần đổi tên, nhan đề đầu tiên là ” Cái lò gạch cũ “, sau khi được in thành sách nhà xuất bản đã tự ý đổi tên thành ” Đôi lứa xứng đôi “, sau này, Nam Cao mới đổi lại tên thành ” Chí Phèo “, tác phẩm được coi là kiệt tác của nhà văn.

Để hiểu rõ được bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí phèo, người đọc phải hiểu được bi kịch là gì? Bi kịch là nỗi buồn, các nhà văn thường khai thác từ những mẫu thuẫn xung đột gay gắt và thường kết thúc bằng cái chết của nhân vật chính. Trong truyện ngắn ” Chí phèo “, tác giả không chỉ đi sâu vào khai thác mẫu thuẫn giai cấp mà còn khai thác cả mâu thuẫn trong chính nhân vật.

Chí phèo được sinh ra là con người với đầy đủ các bản chất của 1 người bình thường, có dự đinh, ước mơ, là 1 người nông dân hiền lành lương thiện, biết phân biệt tốt xấu đúng sai. Nhưng rồi sau đó, Chí bị đẩy vào con đường bần cùng hóa, tha hóa, bị tước đoạt mất nhân tính, bị loại ra khỏi xã hội loài người. Để rồi sau đó, khi hắn muốn quay trở lại làm 1 con người lương thiện thì lại bị từ chối phũ phàng và cuối cùng hắn chết trên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời

Ngay từ khi sinh ra, Chí đã bị bỏ rơi, được 1 anh thả ống lươn nhặt được trong buổi sáng sớm tinh sương ở lò gạch bị bỏ không ngoài đồng vằng. Con người đến với cuộc đời như bị quẳng ra đấy, bơ vơ, trơ trọi. May thay, nhờ sự cưu mang, đùm bọc của người dân làng Vũ Đại mà hắn đã được sống, được trở thành người nông dân hiền lành lương thiện, giàu tự trọng.

Nhưng vì ghen tuông vu vơ mà lí Kiến đã đẩy hắn đi tù, nhà tù thực dân đã biến hắn trở thành kẻ ” trông đặc như 1 thằng sắng đá ” rồi sau đó bá Kiến thực hiện nốt công đoạn cuối cùng là biến Chí trở thành tay sai của mình.

Chí Phèo bị lợi dụng, trở thành kẻ chuyên đi đâm thuê chém mướn, mỗi ngày hẳn bán rẻ linh hồn mình cho quỷ bằng vài đồng vài hào để rồi cuối cùng hắn biến mình thành 1 con quỷ thật sự ” Nhìn mặt hắn người ta không đoán được là bao nhiêu tuổi, nó vàng vàng mà lại sạm màu gio, nó lằn ngang lằn dọc không biết bao nhiêu là vết sẹo ” rồi hắn còn suốt ngày sau rượu ” cứ rượu vào là hắn chửi “.

Trong tiếng chửi lảm nhảm của Chí còn lã nỗi cô độc, hắn khao khát được giao tiếp với mọi người dù chỉ là tiếng chửi, nhưng chẳng ai đáp lại hẳn, chẳng đi chấp nhận hẳn, bởi vì “hắn đã đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, đập nát biết bao cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu con người lương thiện”.

Nhưng hắn làm nhiều điều ác như vậy bỏi vì hắn lúc nào cũng say. Cũng viết về những người nông dân nhưng Nam Cao không khái thác theo lối mòn cũ là khổ vì sưu cao thuế nặng, khổ vì nghèo đói mà Nam Cao khai thác nỗi đau tinh thần của con người. Bị tàn phá mất nhân hình, bị tước đoạt mất nhân tính, bị loại ra khỏi xã hội loại người.

Và có lẽ, cuộc đời hắn sẽ cứ như vậy nếu như không gặp thị Nở. Thị Nở đã đến với hắn, cho hắn cảm nhận được tình yêu thương, cho hắn biết yêu và được yêu, lần đầu tiên hắn được ” 1 người đàn bà cho “. Hắn yêu thị, muốn làm nũng với thị như với mẹ, và lúc này hắn đã hoàn toàn tỉnh táo, phần linh hồn người của hắn đã trở về nhờ có thị Nở. ” Chao ôi! Muốn làm hòa với mọi người biết bao ” hắn lập luận rất đơn giản là lại chặt chẽ, hắn hi vọng thị sẽ là cầu nối cho hắn trở về với cuộc đời bằng phẳng lương thiện. ”

Thị Nở có thể sống yên ổn với hẵn thì tại sao mọi người lại không thể, rồi mọi người sẽ thấy hắn chả làm hại ai rồi sẽ từ từ tiếp nhận hắn trở về với cuộc sống bằng phẳng “. Hắn lại hy vọng, lại ước mơ về 1 gia đình hạnh mà có thị Nở. Nhưng hy vọng chẳng kéo dài được lâu, thị chợt nhớ ra ở nhà còn có 1 bà cô và thị muốn quay trở về để hỏi ý kiến bà cô. Nhưng bà cô đã không chấp nhận Chí bởi nghĩ hắn là thằng không cha không mẹ, suốt ngày chỉ đi ăn vạ, đâm thuê chém mướn.

Cầu nối đưa hắn đến với cuộc đời đã gãy, cánh của cuộc đời đóng sầm lại ngay trước mặt hắn. Ở đây, Nam Cao đã khéo léo lồng bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người vào bị kịch bị cự tuyệt tình yêu. Nếu như lúc trước hắn khổ nhưng ít nhất lúc đó hẳn cũng say, không nhận thức được. Còn bây giờ hắn đã tỉnh, nỗi khổ nhân lên thành niềm thống khổ, chẳng còn 1 ai có thể đón hắn đến với cuộc đời nữa rồi

Tác giả đã sử dụng ngòi bút diễn tả tâm lí nhân vật bậc thầy, tác giả còn đưa cả ngòi bút của mình cho chính nhân vật, để nhân vật có thể tự nói lên được sự đau khổ. Lúc nghe thị trút hết tức giận lên đầu hắn, hẳn từ từ hiểu rồi ” ngẩn người ” , hắn hụt hẫng bàng hoàng, thoáng thấy 1 hương cháo hành thoảng qua mũi. Rồi khi thị đi, hắn đã nắm tay níu kéo thị, hắn níu kéo sợi dây cuối cùng cứu vớt cuộc đời hắn nhưng thị Nở lại dứt khoát tuyệt tình, hắn rơi vào tình trang tuyệt vọng, hắn đau đớn mà khóc lóc.

Rồi hắn lại tìm tới rượu, nhưng càng uống hắn lại càng tỉnh, hương rượu hòa lẫn mới mùi thơm cháo hành khiến hắn càng đau đớn. Rồi hắn quyết định vác dao ra đi, hăn lảm nhảm là sẽ đi tới nhà thị để giết bà cô nhưng cuối cùng hắn lại đi tới nhà bá Kiến, có lẽ bởi vì hắn ý thức được ai mới là người đẩy hắn tới nước này. Trước mặt tên cáo già bá Kiến, Chí đã nói những lời hoàn toàn tỉnh táo, dõng dạc ” Tao muốn làm người lương thiện “, câu nói thể hiện được khát vọng muốn hoàn lương, trở về với xã hội loài người.

Tuy nhiên, chính lúc này, Chí đã thấm thía được bi kịch của cuộc đời mình rằng hắn sẽ không bao giờ có thể quay trở về cuộc đời lương thiện được nữa rồi. Ai sẽ cho hắn lương thiện? Ai sẽ giúp hắn làm người lương thiện? Đau đớn căm thù kẻ đã hại mình, Chí rút dao ra, ” chém túi bụi vào người bá Kiến ” rồi hắn cũng tự tử, Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời

Có thể nói, Nam Cao đã rất thành công trong việc khai thác nỗi khổ về mặt tinh thần, nỗi đau về thể xác của những người nông dân xưa. Kết hợp với nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ giản dị, tự nhiên mà sống động càng làm tôn lên tài năng của Nam Cao.

Qua tác phẩm, tác giả muốn gửi gắm lòng đồng cảm sâu sắc với bi kịch của nhân vật, niềm tin về bản chất hiền lành lương thiên của con người sẽ luôn còn đó. Hơn nữa, tác phẩm được viết lên như 1 lời kêu cứu, cứu lấy quyền làm người, cứu lấy quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc lứa đối của con người.

Đón đọc tuyển tập 🌹 Phân Tích Hạnh Phúc Của Một Tang Gia 🌹 15 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Chí Phèo Bị Cự Tuyệt Quyền Làm Người Lớp 11 – Mẫu 15

Tài liệu văn phân tích Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người lớp 11 dưới đây sẽ hỗ trợ các em học sinh hoàn thiện và đạt kết quả cao cho bài viết của mình.

Nam Cao là người hay băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người. Ông thường dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục chỉ vì bị đày đọc vào cảnh nghèo đói cùng đường” (Nguyễn Đăng Mạnh). Với tấm lòng nhân đạo ấy, Nam cao đã khước từ thứ văn chương lãng mạn đế đến với dòng văn học hiện thực. Đây cũng chính là nơi Nam Cao đã kí thác toàn bộ những tâm tư tình cảm, triết lí nhân sinh của mình về cuộc đời, con người.

Hàng loạt các tác phẩm đã ra đời nhằm “minh oan”, “chiêu tuyết” cho những con người bị miệt thị một cách bất công: Chí phèo, Một bữa no, Lang Rận, Tư cách mõ… Trong đó Chí Phèo là một tác phẩm tiêu biểu nhất của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám, viết về đề tài người nông dân nghèo và đánh dấu một bước phát triển đáng kế của văn xuôi Việt Nam.

Có thể nói nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm là một điển hình nghệ thuật về người nông dân nghèo từ lương thiện sa vào tha hóa rồi lại rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người nhưng luôn cố vẫy vùng để đến với ánh sáng của thiên lương. Chi tiết để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng người đọc đó chính là mối tình giữa Chí Phèo và thị Nở. Mối tình có một không hai trong làng văn Việt Nam khiến ta phải đọc rồi suy ngẫm rất nhiều về tình người trong cõi nhân thế.

Chí Phèo tự lúc nào đã đi vào trang văn Nam Cao và rồi lại từ trang văn Nam Cao bước ra. Nhân vật điển hình đến mức gấp sách lại ta vẫn thây day dứt về một anh Chí vốn hiền lành lương thiện thế nhưng do sự áp bức ghê gớm cùa bọn chúa đất, thực dân đã khiến anh trở thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại.

Tưởng chừng Chí Phèo đã bị tha hóa hoàn toàn với một tâm hồn chai đá, những hành động mất lí trí, bị hủy hoại cả về nhân tính lẫn nhân hình, bản chất lương thiện bị che lấp. Nhưng trong trái tim anh vẫn len lỏi một thứ ánh sáng nhiệm mầu, đó chính là ánh sáng của lương tri. Nam Cao là thế đó. Ông không bao giờ để nhân vật của mình chìm trong bóng tối mà luôn để nhân vật trượt trên mặt phẳng nghiêng”, luôn cố vùng vẫy để thoát khỏi cái thế giới của con thú trở về với thế giới con người.

Ranh giới ấy rất mong manh và vô cùng khó khăn. Liệu Chí có thể thực hiện được không? Ai sẽ là người giúp anh làm được điều này? Thị Nở ?Chính thị Nở là người hé mở cánh cửa để Chí trở về với ánh sáng của lương tri. Đọc đoạn văn này người đọc vô cùng sảng khoái trước nghệ thuật phân tích nội tâm tâm lí nhân vật rất tinh tế của Nam Cao.

Nhưng cái hay của Nam Cao không chỉ là những đoạn văn phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo mà còn là Nam Cao đã xây dựng được một nhân vật hết sức ấn tượng – thị Nở một người ngấn ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn nhưng lại có một sức hút, sức hút của tình người đã kéo Chí về với ánh sáng nhân tâm.

Nếu ta vẽ một chân dung thị Nở riêng biệt chắc ta phải hoảng hốt bỏ chạy vì cái “dung nhan” ấy. Nhưng nếu ta vẽ hình ảnh của thị với nồi cháo hành nghi ngút khói trên tay đem đến cho Chí khi hắn đang đói cào ruột bởi “trận thổ đêm qua”, khi hắn đang buồn bã cô đơn nhất, đang “thèm khát người” nhất, đang đau khổ tuyệt vọng nhất… thì hình ảnh ấy rung động người đọc biết bao!

Đó là sự rung động của nhân tâm rất tự nhiên, rất vô tư không hề “sợ hãi” như những người dân khác ở làng Vũ Đại mỗi khi gặp Chí và cũng không hề tính toán thiệt hơn. Thị không biết tính toán và cũng chẳng cần tính toán. Cái nghĩa tình có ai tính toán bao giờ. Tình cảm của thị thô mộc, nguyên sơ khiến ta cảm động quá!

Chính Nam Cao cũng không thể kìm lòng trước vẻ đẹp ấy. Nên ở trang văn này, ta bắt gặp những đoạn miêu tả khung cảnh thiên nhiên rất đỗi thơ mộng. Đó là những ánh sáng dịu hiền của trăng, trăng in cái bóng dáng xệch xạc, méo mó của Chí Phèo trên đường làng, trăng trên vườn chuối, hình ảnh cả hai ngủ say dưới trăng… Và trong khung cảnh ấy ông đã ghép một đôi tâm sự rất xứng đôi: Chí Phèo – thị Nở.

Đương nhiên hai con người ấy có ngôn ngữ tâm sự riêng của họ, ta không bàn đến mà chi biết rằng: từ sau cái đêm trăng thanh gặp thị, Chí Phèo đã nhận thầy một thứ thèm khát (không phải thèm rượu) đang sôi sục lên trong anh đó chính là sự mong muốn làm người. Niềm mong muốn ấy được Nam Cao miêu tả một cách tỉ mỉ, tinh tế những thay đổi rất tinh vi từ trong từng tế bào của Chí.

Điều đầu tiên nhà văn để cho Chí nhận ra thực tại của mình qua hình ánh cái túp lều. Đó là cái túp lều ngoài bờ sông (thuộc đất lưu không) mà anh đã phải đánh đổi bằng máu, bằng lương tri, làm tay sai cho bá Kiến mà có được ấy. Một cái túp lều ẩm thấp, tối tăm: “Ở đây người ta thấy chiều lúc xế trưa gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”.

Đây không phải nơi ở của con người, nó là địa ngục trần gian mà Chí đang chết dần chết mòn trong đó. Vậy mà chưa bao giờ Chí Phèo nhận thay thế bởi Chí Phèo chưa bao giờ hết say. Đây là lần đâu tiên Chí nhận ra cái hiện thực cay đắng phũ phàng ấy.

Tiếp đó, nhà văn để cho Chí Phèo cảm nhận được những thanh âm của cuộc sống: tiếng chim ríu rít, tiếng trò chuyện của các người buôn hàng, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá… Những âm thanh quen thuộc đó ngày nào chả có. Nhưng đã bảy, tám năm trời nay, từ khi ra khỏi tù, lúc nào Chí cũng chìm trong cơn say thì làm sao Chí nghe được. Cuộc đời của anh là những cơn say dài mênh mông, vô tận, “tràn từ cơn say này sang cơn say khác…” đến mức “…Hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say…Hắn làm tất cả trong lúc người hắn say…”.

Thế đấy, đã bao giờ hắn tình để mà nghe những thanh âm của cuộc sống thường nhật chứ. Đây là lần đầu tiên sau một giấc ngủ dài Chí nghe thấy những thanh âm ấy. Những thanh âm của cuộc sống giản dị đã thức kéo thiên lương trong anh, lòng anh bỗng mơ hổ buồn. Chao ôi buồn rồi lại nao nao buồn! Cái buồn đó cứ như một cơn gió lúc thì ổ ạt lúc thì nhẹ nhàng. Bằng bút pháp phân tích nội tâm sâu sắc, tinh tế, Nam Cao đã mô tả quá trình thức tỉnh lương tri của Chí Phèo theo trình tự logic biện chứng.

Nhận ra được thực tại, đón nhận được giọt âm thanh của cuộc đời, nhà văn để cho Chí nhớ về quá khứ “hình như có một thời hắn đã ao ước có một gừ đình nho nhỏ, . chồng cuốc mướn cày thuê vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Cái ước mơ chân chính, nhỏ nhoi nhưng sao lại quá khó đối với Chí.

Rồi Chí nhìn về hiện tại và tương lai “Chí Phèo hình như đã trông thấy tuổi già của hắn; đói rét, ốm đau và cô độc Chí sợ cô độc nhất. Khi đã sợ cô đơn là lúc con người ta cô đơn nhất và khao khát sự sum vầy. Nhưng Chí vốn là con hoang, không gia đình, không nhà cửa, không họ hàng thân thích. Hắn lại là con quỷ dữ trong mắt người dân ở làng Vũ Đại, không ai chấp nhận hắn chứ đừng nói đến chuyện sum vầy.

Và khi Chí đang nhìn về tương lai đen tối kia với tâm trạng cô độc, sợ hãi, cũng may là thị Nở đến nếu không thì Chí khóc mất. Thị Nở bước vào cùng với bát cháo hành, một hình tượng đẹp nhất, một chi tiết nghệ thuật đem đến nhiều mĩ cảm. Chí Phèo ngạc nhiên, hết ngạc nhiên thì mắt Chí ươn ướt.

Có lẽ vì đây là lần đầu tiên Chí được một người đàn bà cho ăn, bởi vì xưa nay Chí vẫn phải “dọa nạt hay giật cướp” của người khác thì mới có được. Nhưng thứ thị ho Chí không đơn giản chì là bát cháo hành mà còn là một tình yêu thương mộc mạc , là sáng soi rọi vào sâu thẳm tâm hổn Chí làm bừng lên chất người trong anh, làm cho anh khát khao trở về lương thiện, “thèm làm hòa với mọi người”. Nhìn bát cháo hành bốc khói, nhìn nụ cười tình tứ của thị, Chí vừa vui mà vừa buồn, ta thây được sự ăn năn và hạnh phúc từ trong nụ cười của Chí.

Cầm bát cháo húp, mồ hôi đổ ra những giọt to như giọt nước nhưng Chí vẫn cười, vẫn đắm say trong niềm hạnh phúc mà bát cháo hành mang lại. Ôi! Nếu không có bát cháo hành kia liệu ta có thấy được nụ cười của Chí không hay chỉ thấy sự lưu manh hung tàn của một con quỷ dữ? Bát cháo hành là sức mạnh của tình yêu nồng thắm, là biểu tượng của tình người duy nhất ờ làng Vũ Đại.

Nếu đặt trong mối tương quan với nhân vật bà Ba vợ bá Kiến – người đàn bà đẹp nhât làng nhưng lại là “con quỷ cái” (bà ta chỉ biết lợi dụng Chí, kêu Chí lên bóp chân, lúc ấy anh chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì), thì thị Nở rất đẹp. Vẻ đẹp của tình nghĩa nguyên sơ. Quả thật, thị Nở Thị Nở càng xấu, tác phẩm lại càng hay! Đó là một thành công tuyệt vời của Nam Cao khi ông đã xây dựng được một hình tượng Tất thú vị.

Trước sự chăm sóc của thị, lòng Chí bỗng trở nên trẻ con. Chí làm nũng với Thị như với mẹ vậy. Chí muốn làm người lương thiện “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao”. Đó là lời kệ, lời miêu tả nội tâm Nam Cao hay đó chính là tiếng lòng thẳm sâu của Chí? Chỉ có điều là nó bị vùi lấy bảy, tám năm trời nay. Hôm nay nó đã trở về. Chính thị Nở đã dánh thức lòng thèm khát lương tri của Chí. Nói cho cùng đây là sự kết duyên của hai tâm hồn đồng điệu.

Tuy Thị Nở xấu xí nhưng tâm hồn lại đẹp. Chí Phèo đã bị tha hóa nhưng vẫn còn bản chất lương thiện của người nông dân. Và khi bản chất ấy sống dậy là khi Chí khao khát gia đình” Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”. Như thế này mãi nghĩa là Chí muốn có cuộc sống bình yên và hạnh phúc không chỉ riêng bên Thị Nở mà còn bên mọi người. Cái tình yêu của Thị và Chí nói đúng nghĩa hơn là vừa cho vừa nhận” Đó là cái lòng yêu của một người làm ơn. Nhưng cũng có lòng yêu của người chịu ơn”.

Mối tình của Chí Phèo Thị Nở quả thực là”đôi lứa xứng đôi”. Nhưng dụng ý của Nam Cao không dừng lại ở đây. Nếu cứ để Chí và Thị sống hạnh phúc bên nhau thì đâu còn là hiện thực phê phán nữa. Mối tình định mệnh của Chí chỉ diễn ra chóng vánh trong năm ngày. Đó là năm ngàu hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Chí, là năm ngày Chí được sống trong sự chăm sóc bởi tay một người đàn bà.

Và khi hắn đã đến cái dốc bên kia của cuộc đời rồi, hắn mới cảm nhận được mùi thơm của cháo hành” trời ơi cháo mới thơm làm sao”Mùi vị cháo thơm hay đây lòa vị ngọt của cuộc đời ? Hay là tấm lòng săn sóc của Thị Nở? Hình ảnh thị Nở cũng trở nên đẹp đẽ từ việc chăm sóc Chí Phèo bằng bát cháo hành.

Hình ảnh ấy gợi cho ta cái không khí đầm ấm của gia đình nông thôn xưa, thế nhưng họ lại vấp phải rào cản lớn nhất : ” Bà cô thị Nở”” Ai lại đi lấy thằng Chí Phèo” Bà đại diện cho định kiến khắt khe cổ hủ của xã hội phong kiến đã làm đầy tràn li bi kịch của Chí, đẩy Chí Phèo đến tận cùng của tuyệt vọng, cắt đứt cái cầu nối cuối cùng không cho Chí hòa nhạp với cộng đồng . Khi bị cự tuyệt, hắn bỗng nhiên ngẩn người, Hắn sửng sốt, đứng lên gọi lại”Hắn đuối theo thị”.

Hoàn toàn vô vọng Chí cố uống rượu đế say, để tìm quên đau khổ. Nhưng “càng uống lại càng tỉnh”; “hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoảng thoảng thấy hơi cháo hành, hắn ôm mặt khóc rưng rức”. Nam Cao đã thật tinh tế thật sâu sắc khi miêu tả những biến đổi tâm trạng của nhân vật. Từ tâm trạng ấy, ta thấy những khát khao chân chính của Chí. Nhưng khi lương tri đã trở về lại là lúc bi kịch ập đến. Đó là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Nếu ta đánh giá cao tài năng của Nam Cao trong nghệ thuật miêu tả, phân tích nội tâm nhân vật và đặc biệt là nghệ thuật thắt nút – tháo nút – thắt nút trong tác phẩm thì chính đoạn văn miêu tả mối tình Chí – thị là sự tháo nút của nhà văn nhưng lại là để lần thắt nút cuối cùng giải quyết toàn bộ xung đột bằng hành động quyết liệt của Chí ở cuối tác phẩm.

Đó là hành động đi đòi lương thiện của Chí. Trong tận cùng đớn đau tuyệt vọng, trong cơn khát thèm lương thiện, mơ ước gia đình, Chí đã tìm đến nhà bá Kiến (kẻ đã cướp đi đời lương thiện của Chí) không phải đế rạch mặt ăn vạ hay xin đi tù đế có chỗ trú thân như mọi lần mà là để đòi lương‘ thiện : “Tao muốn làm người lương thiện”.

Thế nhưng, Chí không còn đường nào khác, khi anh nhận ra được một bi kịch: “Không được! Ai cho tao lương thiện, làm thế nào mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa . Biết không ?”. Chí nói rất dõng dạc câu nói đòi quyên làm người và đó cũng là những tiếng kêu tuyệt vọng của Chí. Bởi trong cái xã hội “Chó đểu” (Vũ Trọng Phụng) ấy, quyền sổng chính đáng của con người không được chấp nhận. Vậy nên chỉ có một cách: giết bá Kiến và tự sát.

Hành động của Chí Phèo như là một quy luật tất yếu . Nó không đơn giản là hành động trả thù cá nhân mà là hành động trả thù giai cấp. Bị đè nén, bị áp bức nhiều thì họ phải đứng lên chống lại. Nhưng hiện thực lúc bấy giờ, giết bá Kiến rồi Chí Phèo cũng chỉ có một con đường chết. Đó cũng chính là kết cục chung của các tác phẩm hiện thực phê phán: nhân vật hoặc lâm vào ngõ cụt không lối thoát , hoặc là chết.

Cái chết của Chí để lại thương tâm cho người đọc. Không ít người lên án, cho rằng Nam Cao quá nhẫn tâm hoặc gắn cái hạn chế cho nhà văn. Nhung không phải thế, yêu thương sâu sắc người nông dân, gắn bó máu thịt với cuộc sống của họ.Nam Cao chắc sẽ rất đau trước cái chết của Chí. Nhưng thời đại ấy, không thể viết khác được. Đó là hạn chế của thời đại chứ không phải của nhà văn.

Tác phẩm khép lại là hình ảnh thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và đâu đó hiện ra một cái lò gạch bỏ hoang (nơi Chí Phèo ra đời). Hình ảnh ấy tạo cho tác phẩm kết cấu vòng tròn, đầu cuối tương ứng đổng thời cũng gọi ra cái vòng luẩn quẩn tối tăm của người nông dân nghèo.

Hiện thực xã hội cũng lại phơi bày, lại một quy luật “tre già măng mọc”: Chí Phèo chết sẽ có một Chí Phèo con ra đời, Bá Kiên chết rổi nhưng còn trăm ngàn bá Kiến khác… Biết khi nào người nông dân mới thoát khỏi bốì cảnh ây? Đó là trăn trớ của nhà văn, là sự day dứt của người đọc. Trang văn Nam Cao bề ngoài lạnh lùng nhưng bên trong chan chứa tấm lòng nhân hậu, nhân đạo, nhân văn cao cả là vậy.

Tóm lại đoạn văn miêu tả tâm trạng, sự đổi thay, những khát khao và cả cái bi kịch dẫn đên thảm kịch của Chí là đoạn văn thành công nhất của Nam Cao. Có thể coi đây là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời Chí. Là đoạn văn thế hiện lòng yêu thương con người và cả lòng tin tưởng vào “thiện căn” ở con người Nam Cao. Cũng từ đó mà tác phẩm thêm sức sông kì diệu, tô đậm hơn giá trị hiện thực và làm ngời sáng giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Đến đây ta có thể mạnh dạn mà đồng tình với một ý kiến của ai đó khi nói “Nếu không viết Chí Phèo, Nam Cao đã để lại cho văn học Việt Nam một khoảng trống lớn”. Đúng vậy qua Chí Phèo, Nam Cao đã đóng góp cho dòng văn học hiện thực phê phán nói riêng và văn học Việt Nam nói chung một tiếng nói nhân đạo, một nhân vật mang tính điển hình cho người nông dân trước Cách mạng bị tha hóa, lưu manh hóa nhưng luôn dám đấu tranh để chống lại bất công.

Nỗ lực không ngừng, cái tâm – cái tài của Nam Cao đã được chi nhận xứng đáng: “Trong văn hóa Việt Nam, với ngòi bút Nam Cao ta bắt đầu thấy thật có sự sống, thật có con người trong truyện ngắn” (Nguyên Hồng).

Mời bạn khám phá thêm 💕 Phân Tích Cảnh Đám Ma Gương Mẫu 💕 11 Bài Văn Hay

Viết một bình luận