Phân Tích Chạy Giặc ❤️️ 8 Mẫu Phân Tích Bài Thơ Hay Nhất

Phân Tích Chạy Giặc ❤️️ 8 Mẫu Phân Tích Bài Thơ Hay Nhất ✅ Đón Đọc Trọn Bộ Bài Phân Tích Đặc Sắc Tác Phẩm Nổi Tiếng Của Nguyễn Đình Chiểu.

Dàn Ý Phân Tích Chạy Giặc

Lập dàn ý phân tích Chạy giặc sẽ giúp các em học sinh nắm được bố cục và luận điểm chính để triển khai bài viết. Tham khảo mẫu dàn ý chi tiết dưới đây:

I. Mở bài phân tích “Chạy giặc”:

  • Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác: Năm 1859, thực dân Pháp đánh chiếm Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu viết bài Chạy giặc.
  • Dẫn đề (ghi lại bài thơ).
  • Chuyển mạch, nêu vấn đề: Phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của bài thơ Chạy giặc.

II. Thân bài phân tích “Chạy giặc”:

1.Hai câu đề:

  • Từ chính xác, gợi tả, hình ảnh thực, sinh động: tan chợ, vừa, tiếng súng Tây, cờ thế, phút sa tay.
  • Tiếng súng của giặc Pháp đột ngột nổ vang, phá tan cuộc sống yên lành của nhân dân ta và đẩy nước nhà đến chỗ nguy nan, thất bại hoàn toàn.
  • Cảm xúc mở đầu bài thơ: bàng hoàng, tuyệt vọng.

2.Hai câu thực:

  • Biện pháp ẩn dụ, đảo ngữ, những trạng từ gợi hình ảnh loạn li, tan tác của nhân dân ta: lơ xơ, dáo dác.
  • Cách ngắt nhịp chẵn – lẻ của thơ Đường luật thể hiện lời than thở xót xa:
    Bỏ nhà / lũ trẻ / lơ xơ chạy,
    Mất ổ / đàn chim / dáo dác bay.
  • Nỗi khổ của nhân dân ta trong cảnh chạy giặc.

3.Hai câu luận:

  • Biện pháp đảo ngữ được tiếp tục sử dụng, hình ảnh gợi tả: quê hương thân yêu Bến Nghé, Đồng Nai, bị giặc thiêu huỷ, cướp bóc, của tiền tan bọt nước, tranh ngói nhuốm màu mây.
  • Sự tố cáo tội ác của giặc vừa cụ thể vừa khái quát bằng giọng thơ u uất, căm hờn.
  • Tội ác dã man của giặc xâm lược.

4.Hai câu kết:

  • Ngôn ngữ châm biếm sắc cạnh (rày đâu vắng, nỡ để dân đen), than oán triều đình nhà Nguyễn sợ giặc, bỏ mặc dân tình khổ ải.
  • Nỗi cảm khái trước cảnh điêu linh của nhân dân.

III. Kết luận phân tích “Chạy giặc”:

  • Giá trị hiện thực: tái hiện cảnh chạy giặc của người dân trong những ngày thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Nam Bộ.
  • Giá trị tư tưởng, tình cảm: biểu lộ lòng yêu nước, thương dân tha thiết, lòng căm thù giặc xâm lược bạo tàn.

Có thể bạn sẽ thích 🌼 Phân Tích Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc 🌼 14 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Chạy Giặc Nguyễn Đình Chiểu – Mẫu 1

Bài văn mẫu phân tích Chạy giặc Nguyễn Đình Chiểu sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh trong quá trình thực hiện bài viết của mình.

Đừng nói tới cảnh dân chạy giặc vội mà trước hết hãy chú ý đến tiếng súng Tây rộ lên vào thời điểm tan chợ. Nghĩa là trước lúc súng nổ, chợ búa vẫn họp bình thường. Cuộc sống hoàn toàn thanh bình yên ổn. Lúc tan chợ là bắt đầu sự sum họp của gia đình. Những đứa em ngóng anh chỉ, con cái đợi cha mẹ, cháu chắt đợi ông bà.

Cảnh hạnh phúc đầm ấm đơn sơ sẽ diễn ra ở mọi nhà với những món quà giản dị của chợ vùng quê: củ khoai, tấm bánh đúc ngô, dăm ba giống mía, mấy nắm bỏng rang trộn mật… cả nhà sẽ xúm quanh mâm cơm thanh đạm có bát canh chua, khúc cá kho; hay giản dị hơn chỉ có râu tôm nấu với ruột bầu… Tiếng súng Tây nổ đúng vào lúc đó, bất ngờ, đột ngột, dữ dội vô cùng.

Súng Tây thời ấy nổ ghê gớm lắm, súng giặc đất rền. Nghe tiếng súng thì bọn giặc đã ở ngay bên cạnh. Vừa nghe thế mà cả bàn cờ thế đã hỏng phút sa tay. Thất bại ập đến nhanh chóng. Thời gian ngắn ngủi càng tăng thêm tính chất đột ngột, bất ngờ, căng thẳng của tình thế. Và vì thế, thay cho cảnh sum họp đầm ấm là cảnh tượng hỗn loạn, lộn xộn sẻ nghé tan đàn:

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất tổ đàn chim dáo dác bay

Hai câu đề nói lên thời cuộc và thế nước. Giặc Pháp tấn công thành Gia Định vào lúc tan chợ:

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay.

Cảnh họp chợ, cảnh tan chợ là nhịp sống yên bình của nhân dân ta. Tiếng súng Tây bất ngờ nổ rền trời đã làm cho nhịp sống ấy bị đảo lộn. Cảnh chiến tranh đã bắt đầu. Một bàn cờ thế là hình ảnh ẩn dụ nói về thời cuộc, về cuộc chiến giằng co, ác liệt. Ba tiếng phút sa tay trong câu thơ “Một bàn cờ thế phút sa tay” nói lên sự thất thủ nhanh chóng của quân triều đình tại thành Gia Định.

Hai câu thơ đầu như một thông báo về sự kiện lịch sử bi thảm diễn ra vào năm 1859. Đằng sau câu thơ là nỗi lo lắng và kinh hoàng của nhà thơ trước thảm họa quê hương đất nước thân yêu của mình bị giặc Pháp chiếm đóng và giày xéo.

Hai câu trong phần thực đối nhau, phép đảo ngữ vận dụng sắc sảo: Vị ngữ bỏ nhà và mất ổ được đặt lên đầu câu thơ nhằm nhấn mạnh nỗi đau thương tang tóc của nhân dân ta khi giặc Pháp tràn tới:

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ đàn chim dáo dác bay.

Nếu viết Lũ trẻ bỏ nhà lơ xơ chạy và Đàn chim mất ổ dáo dác bay thì ý vị câu thơ và giá trị biểu cảm sẽ không còn nữa! Cặp từ láy lơ xơ và dáo dác gợi tả sự hoảng loạn và kinh hoàng đến cực độ. Cảnh trẻ con lạc đàn, chim vỡ tổ là hai thi liệu chọn lọc điển hình theo cách nói của dân gian tả cảnh chạy giặc vô cùng thảm thương.

Hai câu luận, ý thơ được phát triển và mở rộng. Tác giả lên án tội ác của giặc Pháp càn quét, đốt nhà, giết người, cướp của, tàn phá quê hương. Phép đối và đảo ngữ được vận dụng sáng tạo. Nhà thơ không viết: Của tiền Bến Nghé tan bọt nước và Tranh ngói Đồng Nai nhuốm màu mây, mà đã viết:

Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.

Câu thơ đã vẽ lên một vùng địa lí bao la và trù phú (Bến Nghé, Đồng Nai) phút chốc biến thành đống tro tàn. Bến Nghé, Đồng Nai trong thế kỉ XIX vốn đã là vựa lúa và nơi buôn bán sầm uất trên bến dưới thuyền, thế mà chỉ trong khoảnh khắc đã bị giặc Pháp tàn phá tan hoang.

Tiền của, tài sản của nhân dân ta bị giặc cướp phá sạch tan bọt nước. Nhà cửa xóm làng quê hương nhà thơ bị đốt cháy, lửa khói nghi ngút nhuốm màu mây. Hai hình ảnh so sánh tan bọt nước và nhuốm màu mây là cách nói cụ thể của dân gian đặc tả cảnh điêu tàn do giặc Pháp gây ra.

Có thể nói hai cặp câu trong phần thực và phần luận là tiếng nói căm thù của nhà thơ lên án tội ác của giặc Pháp xâm lược. Người đọc cảm nhận một cách sâu sắc bài thơ Chạy giặc đã làm sống dậy và hướng tới chúng ta như một bài ca yêu nước. Các nhà thơ Việt Nam sau này đã học tập và kế thừa Nguyễn Đình Chiểu để viết nên những vần thơ căm giận quân xâm lược:

Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới,
Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau.

(Núi đôi – Vũ Cao)

Giặc về giặc chiếm đau xương máu,
Đau cả lòng sông, đau cỏ cây.

(Quê mẹ – Tố Hữu)

Trong hơn một thế kỷ qua, có biết bao xương máu của nhân dân đã đổ xuống vì bom đạn lũ xâm lược. Cho nên tiếng nói căm thù là cảm xúc chủ đạo của các bài thơ yêu nước. Trở lại hai câu kết trong bài Chạy giặc, ta xúc động trước câu hỏi của nhà thơ:

Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này?

Trang dẹp loạn cũng là trang anh hùng hào kiệt. Rày đâu vắng: hôm nay, bữa nay đi đâu mà không thấy xuất hiện? Nhà thơ vừa trách móc quan quân triều đình hèn yếu, thất trận để giặc chiếm đóng quê hương, vừa mong đợi người anh hùng tài giỏi ra tay đánh giặc để cứu nước, cứu dân thoát khỏi cảnh lầm than. Câu kết chứa đựng biết bao tình yêu thương của Nguyễn Đình Chiểu đối với nhân dân đang quằn quại trong bom đạn giặc! Chạy giặc là bài ca yêu nước mở đầu cho thơ văn yêu nước của dân tộc ta từ cuối thế kỉ XIX.

Bài thơ Chạy giặc được viết bằng một thứ ngôn ngữ bình dị, dân dã đậm đặc màu sắc Nam Bộ (lũ trẻ, lơ xơ, ổ, dáo dác, tan bọt nước, nhuốm màu mây, rày, nỡ, dân đen). Phép đối, phép đảo ngữ, ẩn dụ so sánh là những biện pháp nghệ thuật được tác giả vận dụng sáng tạo để viết nên những vần thơ hàm súc, biểu cảm.

Chạy giặc là bài thơ mang giá trị lịch sử to lớn. Nó ghi lại sự kiện đau thương của đất nước ta cuối thế kỉ XIX. Nó là bài ca yêu nước căm thù giặc sống dậy và hướng tới chúng ta khát vọng độc lập, tự do.

Mời bạn tham khảo 🌠 Phân Tích Lẽ Ghét Thương 🌠 11 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Chạy Giặc Hay Nhất – Mẫu 2

Chia sẻ dưới đây bài văn mẫu phân tích Chạy giặc hay nhất để các em học sinh cùng tham khảo và trau dồi kỹ năng viết.

Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), thường được gọi là Đồ Chiểu, ông là nhà thơ lớn và lỗi lạc nhất của miền Nam Việt Nam trong những năm nửa cuối thế kỷ XIX, giai đoạn nước nhà có nhiều biến động, triều đình phong kiến suy yếu, thực dân Pháp tràn vào xâm lược nước ta.

Ông là một nhà thơ có tấm lòng yêu nước sâu sắc, là nhà thơ tiêu biểu cho nghị lực sống mạnh mẽ, thơ văn của ông luôn hướng đến khẳng định các tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân, về sau khi Pháp xâm lược nước ta thì ngòi bút xuất sắc của ông lại chuyển sang khuynh hướng chiến đấu, lên án thực dân Pháp xâm lược, phê phán triều đình nhu nhược đồng thời hết lòng ca ngợi, ủng hộ các phong trào kháng chiến cứu quốc của nhân dân.

Có nhận định cho rằng: “Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu sống dậy và hướng tới chúng ta những bài ca yêu nước”, chúng ta có thể nhận thấy rõ điều ấy thông qua tác phẩm Chạy giặc, một trong những bài thơ yêu nước xuất hiện đầu tiên trong thời kỳ chống Pháp.

Không rõ là bài thơ Chạy giặc được sáng tác vào khoảng thời gian nào, nhưng với nội dung có thể suy đoán rằng bài thơ ra đời vào lúc thành Gia Định bị thực dân Pháp tấn công và chiếm đóng. Xuyên suốt nội dung tác phẩm đó là cảnh tượng chạy giặc khốn khổ, đầy hoang mang lo sợ của nhân dân ta, vốn vẫn đang quen cảnh thái bình, ngờ đâu tai họa đã ập xuống ngay trước mắt.

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế lúc sa tay”

Hai câu đề đã gợi lên thời điểm và hoàn cảnh chạy giặc lúc bấy giờ, đó là sau một buổi họp chợ như bình thường, là nơi đông đúc, người người nhà nhà quây quần với nếp sinh hoạt trao đổi mua bán, vốn là một cảnh bình yên, sung túc. Thế nhưng tất cả đã bị phá vỡ bởi một “tiếng súng Tây”, âm thanh khủng khiếp, xa lạ ấy đã làm kinh hồn bạt vía những con người lương thiện, vốn xưa nay chẳng biết đến đạn dược là gì.

Không chỉ xa lạ trong tiềm thức nhân dân Việt Nam thời bấy giờ, mà âm thanh kinh hoàng gợi sự chết chóc, hủy diệt hàng loạt ấy cũng lần đầu đầu xuất hiện trong văn học Việt Nam, mở ra một thời kỳ văn học kháng chiến, yêu nước đầy sôi nổi. Hình ảnh “Bàn cờ thế lúc sa tay” mở ra một liên tưởng đến tình cảnh của đất nước lúc bấy giờ, cũng rơi vào thế bị động, bất ngờ, không kịp trở tay, nhân dân đang đứng trước khốn cảnh nước mất nhà tan, đất nước dường như bị rung chuyển tận gốc bởi “tiếng súng Tây”, tình thế hết sức nguy cấp.

Hai câu thực là cảnh chạy giặc trong nỗi kinh hoàng bạt vía của nhân dân.

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay”

Hàng loạt tiếng súng đinh tai nhức óc, khiến con người lâm vào hoảng loạn, khung cảnh chợ vốn đông đúc nhưng trật tự, yên bình giờ đây chẳng khác mấy so với đàn ong vỡ tổ, người người đều chạy, nhưng biết chạy về đâu? Hình ảnh “lũ trẻ” và “bầy chim” là tiêu biểu cho số phận thảm thương của người dân lúc bấy giờ, đều chịu chung một cảnh mất nhà, mất tổ, buộc phải rời xa cái nơi mình gắn bó bấy lâu để hòng thoát thân, thoát khỏi cái âm thanh ma quỷ, giết chóc từ tiếng súng Tây.

Các tính từ “lơ xơ”, “dáo dác” đều gợi lên một cảm giác hoang mang, vô định, bỏ chạy trong thất thần, sợ hãi mà không có một ai dẫn dắt, mọi người mọi vật đều tán loạn, tan tác như gà con mất mẹ, như đàn ong vỡ tổ. Hai câu thơ tả thực nhấn mạnh nỗi ám ảnh cảnh chạy giặc điêu tàn, bi thương trong những năm đầu thực dân Pháp xâm lược nước ta, đó là ký ức kinh hoàng không thể nào phai mờ trong tâm trí những con người buổi ấy.

Hai câu luận là viễn cảnh đối lập của đất nước trước và sau khi giặc tới càn quét.

“Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”

Còn đâu một Bến Nghé giàu có, sung túc, nhân dân an yên vui vầy buôn bán, giặc dữ quét qua bao nhiêu “của tiền tan bọt nước”, cơ nghiệp xây dựng bao đời nay cũng tan thành mây khói. Còn đâu một Đồng Nai, nhà mái ngói đỏ tươi, mái tranh vàng ấm áp, nay cũng chỉ còn lại những cột khói ngút trời, tựa như màu mây xám, ảo não, bi thương vô cùng. Tất cả đã bị hủy diệt bởi tiếng súng kinh hoàng của quân xâm lược, nghĩ mà đau xót, thương tâm vô cùng.

Nếu như 6 câu thơ đầu Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng bút pháp tả thực, cùng những hình ảnh tiêu biểu, đặc trưng để vẽ nên bức tranh thành thị Gia Định tan hoang, thê thảm ngày giặc đến, thì hai câu thơ kết bài lại là nỗi lòng của tác giả trước thảm cảnh điêu tàn của dân tộc.

“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nạn này”

Đó là một câu hỏi tu từ đầy đau xót, giọng điệu trầm buồn, day dứt, phẫn uất, phản ánh hiện thực đau lòng về một triều đình phong kiến vô năng, nhu nhược, nhẫn tâm giương mắt để giặc giày xéo lên quê cha đất tổ mà không dám phản kháng, không dám đứng lên lãnh đạo nhân dân cùng đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Đó cũng là lòng trông mong những nhân tài kiệt xuất đứng ra cùng nhân dân chống lại quân xâm lược như bao lớp cha ông ngày trước, như lời Nguyễn Trãi đã từng viết “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/ Nhưng hào kiệt thời nào cũng có”.

Dẫu đất nước có nằm dưới một chính quyền thối nát yếu hèn, tuy nhiên Nguyễn Đình Chiểu vẫn tin tưởng và hy vọng vào những bậc anh hùng có lòng yêu nước sâu sắc, sẵn sàng đứng lên phụng sự khi Tổ quốc cần. Đồng thời hai câu thơ cuối này cũng là tiếng lòng yêu nước thương dân sâu sắc của tác giả, dẫu đôi mắt có không thấy được, nhưng trái tim ông thấu hiểu rõ tình cảnh khốn cùng của dân tộc.

Nguyễn Đình Chiểu đau đớn, xót xa đến tột cùng khi thấy cảnh đất nước điêu tàn, nhân dân phải chịu cảnh ly tán tang thương, điều đó lại càng thôi thúc ngòi bút tài năng sáng tác thêm nhiều tác phẩm thơ ca cổ vũ ca ngợi phong trào đấu tranh bảo vệ tổ quốc, thôi thúc và làm sống dậy tinh thần yêu nước của nhân dân ta cho đến tận ngày hôm nay.

Đồng thời đó cũng là những lời phê phán, lên án gay gắt cái chế độ phong kiến bù nhìn, những kẻ bán nước đổi lấy sự sang quý đớn hèn ngu nhục, cùng thực dân Pháp những kẻ cướp nước tàn ác, gây ra cuộc chiến tranh phi nghĩa, đầy ải nhân dân.

Xem nhiều hơn 🌹 Phân Tích Chiếu Cầu Hiền 🌹 12 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Bài Thơ Chạy Giặc Ngắn Gọn – Mẫu 3

Đón đọc bài phân tích bài thơ Chạy giặc ngắn gọn sẽ giúp các em học sinh dễ dàng ôn tập và nhanh chóng chuẩn bị cho bài viết trên lớp.

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn của đất nước ta trong thế kỉ 19. Mắt bị mù lòa giữa thời trai trẻ, con đường, công danh sự nghiệp dở dang, nhưng ông đã không chịu khoanh tay trước những bất hạnh cay đắng. Ông đã mở trường dạy học, làm thầy thuốc săn sóc sức khỏe của nhân dân, viết văn làm thơ, tiếng tăm lừng lẫy, trở thành ngôi sao sáng trong nền văn nghệ Việt Nam cuối thế kỉ 19.

Tên tuổi Nguyễn Đình Chiểu gắn liền với những truyện thơ đậm đà màu sắc cổ điển như truyện “Lục Vân Tiên”, truyện “Ngư Tiều y thuật vấn đáp” … Đỉnh cao về tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Đình Chiểu là những bài văn tế, những bài thơ yêu nước như “Chạy giặc”, “Xúc cảnh”, “Văn tế Trương Công Định”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, v.v…

Đánh giá giá trị các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trong những năm thực dân Pháp xâm lược Nam Bộ, có ý kiến khẳng định: “Sáng tác của ông sống dậy và hướng tới chúng ta như những bài ca yêu nước…”. Nếu các truyện thơ “Lục Vân Tiên”, “ Ngư Tiều y thuật vấn đáp”…. sáng ngời tư tưởng nhân nghĩa cao đẹp thì những bài văn tế, những bài thơ như “Chạy giặc” đã làm “sống dậy và hướng tới chúng ta như những bài ca yêu nước…

Thơ, văn tế của Nguyễn Đình Chiểu “ca ngợi những người anh hùng, suốt đời tận trung với nước, và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân. Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả, thật là sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân vốn là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước.” (Phạm Văn Đồng).

Khi Tổ quốc bị xâm lăng “súng giặc đất rền”, những người áo vải chân đất “dân ấp dân lân” đã quật khởi đứng lên đánh giặc với ý chí căm thù sôi sục:

“Bữa thấy bòng bong che trắng lấp, muốn tới ăn gan,
Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ”

Họ đánh giặc là để bảo vệ “tấc đất ngọn rau”, để giữ lấy “bát cơm manh áo ở đời” Vì thế, chỉ một lưỡi dao phay, một gậy tầm vông cũng ào ào xung trận. Tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang lẫm liệt:

“Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia,
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.”

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Đất nước quê hương bị giặc Pháp giày xéo, tuy bị mù lòa, ông vẫn dùng ngòi bút và tấm lòng tham gia đánh giặc. Ông gọi lòng trung nghĩa của mình là “lòng đạo” chung thủy, sắt son, sáng ngời:

“Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,
Lòng đạo xin tròn một tấm gương”

Có thể nói, những câu văn, vần thơ của Nguyễn Đình Chiểu chứa chan tinh thần yêu nước, đã làm “sống dậy và hướng tới chúng ta như những bài ca yêu nước… Vì thế mà niềm mơ ước của ông vẫn là niềm mơ ước của hàng triệu con người Việt trong thế kỉ qua:

“Chừng nào thánh đế ân soi thấu,
Một trận mưa nhuần rửa núi sông.”

(Xúc cảnh)

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Phân Tích Bài Thơ Chạy Giặc Chi Tiết – Mẫu 4

Bài văn mẫu phân tích bài thơ Chạy giặc chi tiết dưới đây sẽ giúp các em học sinh củng cố lại những nội dung và kiến thức xoay quanh tác phẩm.

Trong vườn hoa không phải tất cả những loài hoa đều có thể nở rộ, khoe sắc thắm và trong văn chương cũng vậy, không phải tác phẩm nào cũng có thể trường tồn cùng thời gian. Thế nhưng, Nguyễn Đình Chiểu – một ngôi sao sáng của dân tộc đã thổi hồn vào đứa con “Chạy giặc” của mình để nó trở thành một trong những bài thơ tiêu biểu của dòng thơ yêu nước trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

Chúng ta từng biết đến Nguyễn Đình Chiểu với nhiều tập truyện thơ đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc như “Lục Vân Tiên”, “Chúng tử tế mẫu văn”,… Đặc biệt, vào thời khắc năm 1858 khi thực dân Pháp nổ súng mở đầu cho cuộc xâm lược nước ta với những thủ đoạn vô cùng dã man và tàn bạo khiến lòng căm thù giặc của nhà thơ ngày càng dâng cao.

Bằng ngòi bút điêu luyện, nhà thơ đã miêu tả hiện thực đất nước đầy đau thương trong buổi đầu bị xâm lược. Đó là khi giặc Pháp tấn công vào thành Gia Định lúc “tan chợ” ở hai câu đề:

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay.”

Cảnh họp chợ báo hiệu một cuộc sống yên bình, ấm no của con người, nay chợ đã tan, “tiếng súng Tây” đã làm xáo trộn cuộc sống thường nhật của người dân. Tiếng súng bất ngờ ấy đã làm cảnh tượng khu chợ trở nên tan tác, thê lương. Bằng biện pháp ẩn dụ nhà thơ gọi tiếng súng của giặc Pháp là “tiếng súng Tây” để lên án gay gắt và thể hiện một thái độ căm phẫn với những hành động xâm lăng của chúng. Thái độ căm thù giặc đó còn được thể hiện trong bài “Than đạo” của Nguyễn Đình Chiểu:

“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.

“Tiếng súng Tây” bất ngờ nổ lên khiến mọi người đều chạy hoảng loạn. Đáng lẽ ra, sau giây phút họp chợ là giây phút mà nhà nhà vui vẻ, đám trẻ con háo hức vì được bà hay được mẹ mua quà vặt. Cho dù đó là những thứ nhỏ bé, dân dã của làng quê như mấy viên kẹo bột, kẹo lạc hay những bộ quần áo mới thì tất cả đều khiến lũ trẻ mong chờ.

Cả gia đình sẽ quây quần bên nhau để chế biến con cá vừa mới mua ở chợ hay kể về một người thân thích lâu không gặp nay bỗng gặp lại trong phiên chợ đó. Những khoảnh khắc ấy thật yên bình và hạnh phúc biết bao. Vậy mà tiếng súng lại vang lên phá tan đi những mái nhà yên ấm, những hạnh phúc bình dị đó. Có ai không đau lòng, không xót xa trước cảnh tượng ấy?

Nhà thơ đã so sánh thế nước như “một bàn cờ thế phút sa tay” để nói lên sự thất thủ của quân triều đình chỉ trong chớp nhoáng khiến cho vận nước rơi vào tay giặc. Đằng sau mỗi ý thơ đều ẩn chứa một tâm trạng đầy bất an và lo lắng của nhà thơ về vận nước lúc bấy giờ. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta cũng là lúc nhân dân ta bước vào thời kì nô lệ, họ luôn phải sống trong lầm than, khổ cực dưới ách áp bức của thực dân.

Nhà thơ đã tái hiện lại cảnh tượng con người chạy hoảng loạn đầy xót xa ở hai câu thực:

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ bầy chim dáo dác bay”.

Các từ ngữ: “Bỏ nhà”, “lơ xơ chạy”, “mất ổ”, “dáo dác bay” đã đặc tả sự tan nát, hoang sơ đầy thương cảm khi lũ giặc xả súng tấn công tổ quốc. Nhà thơ đã sử dụng những hình ảnh điển hình, lấy “lũ trẻ” để đại diện cho sự sống con người, lấy “đàn chim” để đại diện cho thế giới tự nhiên.

Hai hình ảnh ấy đã trở thành điển hình cho nỗi đau thương của dân lành khi cả những đứa trẻ cũng phải chạy giặc, bầy chim cũng phải rời tổ để tìm chỗ ẩn náu cho mình. Nghệ thuật đảo ngữ đã lên án tội ác của giặc khiến cho những đứa trẻ cũng phải toán loạn chạy tìm nơi ẩn náu, bầy chim trên kia mất ổ cũng phải bay đi nơi khác. Các từ láy “lơ xơ”, “dáo dác” có tính chất tạo hình cao giúp bạn đọc như được trở lại cùng người dân “chạy giặc” lúc bấy giờ.

Tác giả đã phác họa bức tranh ấy không chỉ ở những vùng quê, những khu chợ mà còn ở cả chốn đô thị sầm uất nay cũng trở nên tan tác ở hai câu luận:

“Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.”

Chúng ta biết đến Bến Nghé là nơi các hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa diễn ra sầm uất với các tàu bè tấp nập khoảng hai trăm năm về trước, còn Đồng Nai là một trong những vựa lúa lớn của miền Nam. Thế nhưng chỉ trong nháy mắt đã bị giặc Pháp cướp bóc, phá tan hoang đến mức nhanh như “bọt nước”.

Sự càn quét của giặc Pháp như một cơn lũ, chúng cuốn trôi đi tất cả, cướp đi biết bao sinh mạng, tài sản của nhân dân. Chúng đốt những mái ấm của nhân dân ta khiến cho lửa khói dâng cao ngút trời bao phủ cả khoảng không rộng lớn. Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật so sánh độc đáo “của tiền tan bọt nước”, “tranh ngói nhuốm màu mây” để lột tả bộ mặt tàn ác của quân xâm lăng.

Sức tàn phá của chiến tranh thật ghê gớm. Chiến tranh không chỉ đảo lộn cuộc sống thường ngày mà chiến tranh còn làm mất mát bao của cải, tài sản của nhân dân, đẩy dân lành vào cảnh điêu đứng. Trước thảm cảnh đó, không ai có thể ngăn được sự xót xa, đau đớn dành cho hoàn cảnh của chính mình và dân tộc.

Tội ác quân giặc làm sao kể xiết, nhà thơ không khỏi lo lắng, đau xót trước cảnh nước nhà rơi vào tình trạng bi thương, thê thảm. Điều đó được thể hiện rõ ở hai câu kết:

“Hồi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nợ này?”

Câu hỏi tu từ ở cuối bài đã cho chúng ta thấy tấm lòng yêu nước tràn đầy nhiệt huyết, một dòng máu nóng đang chảy trôi trong tâm hồn nhà thơ, đó chính là tiếng lòng quặn thắt trước thực tại đầy đau xót của nhà thơ, đó cũng là sự thất vọng sâu sắc về phía triều đình. Từ đó ta cảm nhận được một trái tim đang rực cháy tình yêu quê hương, đất nước, một tấm lòng nhân hậu đầy thương cảm khi chứng kiến cảnh “dân đen” phải chịu cảnh lầm than.

Những “trang dẹp loạn”, những anh hùng, vua quan nhà Nguyễn đi đâu vắng lại để cho dân đen gồng mình chịu nạn? Những con người sống bằng mồ hôi, công sức, xương máu của nhân dân lại bỏ mặc nhân dân khi họ lâm vào khốn khó. Triều đình ấy đã không đứng lên bảo vệ nhân dân, dẹp giặc ngoại xâm mà lại trở nên hèn nhát, bạc nhược.

Bài thơ “Chạy giặc” đã tái hiện chân thực thời kì đau thương của đất nước, thể hiện ngọn lửa của lòng yêu nước luôn cháy bỏng trong tâm hồn nhà thơ. Nguyễn Đình Chiểu tuy không trực tiếp chiến đấu với quân địch trên chiến trường nhưng ngòi bút của ông lại có tính chiến đấu mạnh mẽ.

Ông đã dùng ngòi bút của mình để lên án tội ác của giặc, thể hiện chí căm thù giặc đến ngút trời đồng thời thổi hồn vào đó một tình yêu quê hương đất nước mãnh liệt. Dưới ngòi bút của nhà thơ, “Chạy giặc” thật xứng đáng là áng văn yêu nước trường tồn mãi mãi cùng thời gian.

Tiếp theo phân tích Chạy giặc, gợi ý cho bạn 🌳 Phân Tích Vào Phủ Chúa Trịnh 🌳 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài Phân Tích Văn Bản Chạy Giặc Đặc Sắc – Mẫu 5

Tham khảo bài phân tích văn bản Chạy giặc đặc sắc dưới đây để trau dồi cho mình những ý văn hay và đạt kết quả cao cho bài viết sắp tới.

Các nhà thơ, nhà văn được coi là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, thật vậy, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng là một trong số các tác giả như thế. Ông đã dùng ngòi bút sắc nhọn của mình để chĩa thẳng mũi súng căm thù vào quân xâm lăng, bài thơ “Chạy giặc” là một trong những bài thơ khắc họa khung cảnh khi quê hương bị thực dân Pháp xâm lược, đó cũng là lời tố cáo của Nguyễn Đình Chiểu về tội ác của chúng.

Bài thơ được viết sau khi thực dân Pháp tấn công vào thành Gia Định – quê hương của nhà thơ (17/2/1859). Chứng kiến cảnh tượng ấy, ông không khỏi xót xa. Là một người yêu quê hương, dân tộc có ai lại không đau đớn khi mảnh đất máu thịt bị xâm chiếm, nhân dân bị áp bức tàn bạo.

Hai câu thơ đầu bài thơ đã mở ra hiện thực đất nước đầy đau thương:

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay”.

Thời điểm bắt đầu cuộc tấn công của thực dân Pháp vào Gia Định là thời điểm “tan chợ”. Mọi người trong phiên chợ vừa mới bước chân ra về thì tiếng súng bắt đầu nổ. Chắc hẳn nơi ấy đã diễn ra trận càn quét của quân địch. Tiếng súng vang lên như xé tan cuộc sống yên ổn nơi đây vốn có, thay vào đó là sự lo sợ bởi chủ quyền đất nước bị xâm phạm. “Tiếng súng Tây” là tiếng súng của thực dân Pháp. Phép ẩn dụ bàn cờ phút “sa tay” ám chỉ triều đình đã để thành Gia Định rơi vào tay giặc. Nói cách khác, quân thực dân đã xâm chiếm được đất Gia Định.

Cảnh chạy giặc của nhân dân được tác giả miêu tả chi tiết mà đau xót biết nhường nào:

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay”.

Đảo ngữ “bỏ nhà” và “dáo dác” giàu sắc thái biểu cảm khiến cho câu thơ nhuốm màu bi thương. Tiếng súng phát ra như báo trước một điều không hay sẽ xảy đến. Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng nhiều từ ngữ có khả năng gợi hình cao cùng phép đảo ngữ khiến người đọc có thể hình dung ra sự chết chóc, hoang tàn mà tác giả miêu tả. Đám trẻ con chạy không định hướng vì không có người dẫn dắt. Chúng chạy một cách thất thần để tránh sự nguy hiểm đang ập tới.

Không chỉ có con người hoảng loạn, những loài vật như đàn chim cũng bay một cách hốt hoảng, không phương hướng vì bị mất ổ, mất nơi cư trú. Từ láy “lơ xơ” và “dáo dác” đã gợi tả một khung cảnh tan tác, mọi thứ bị đảo lộn vì tiếng súng. “Lũ trẻ” là những đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ, vô tội. Đáng lẽ chúng phải được hưởng cuộc sống thanh bình, no ấm nhưng sự xâm lược của thực dân đã khiến tuổi thơ của những đứa trẻ phải sống trong sợ hãi.

Hiện lên trước mắt người đọc còn là cảnh tượng chết chóc, điêu tàn:

“Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”.

Miền Nam đang chìm trong khói lửa nghi ngút. Thành Gia Định và miền Đông Nam Bộ đã chìm trong ngọn lửa. Đi đến đâu, quân địch thực hiện càn quét, cướp bóc, giết hại dân lành đến đấy. Hành động của chúng vô cùng tàn ác, gây bao thiệt hại cho nhân dân ta. Bến Nghé hay Đồng Nai đều rơi vào tình trạng tiền của, tài sản tan nhanh chóng như bọt nước.

Những tội ác của thực dân Pháp đã được diễn đạt qua hai câu thơ có sức khái quát lớn. Nhưng những tang tóc, đau thương nhân dân ta phải gánh chịu còn nhiều hơn thế gấp nhiều lần. Đến cả những gì vô tri vô giác như con rạch, con sông cũng ngùn ngụt chí căm thù. Các ngôi nhà đổ vỡ, ngập chìm trong lửa đốt. Phải chứng kiến cảnh tượng những mái nhà bị thiêu cháy, tiền bạc của mình bỗng chốc tiêu tan có mấy ai không xót xa?

Trước cảnh tượng tàn khốc như vậy, Nguyễn Đình Chiểu đã cất lên câu hỏi đầy mỉa mai:

“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mặc nạn này”.

Câu hỏi tu từ đã lột tả được khung cảnh tan tác, hoảng loạn khi nhân dân chạy giặc. Đây là câu hỏi không chỉ của riêng ông mà còn là câu hỏi của nhân dân nói chung đối với triều đình phong kiến lúc bấy giờ. Nhân dân lầm than, khổ cực, rất cần một con đường giải thoát, chống lại ách áp bức nhưng “trang dẹp loạn” lại vắng bóng. Vua quan, triều đình nhà Nguyễn đi đâu vắng lại không xuất hiện và cứu giúp nhân dân đang chịu cảnh cơ cực?

Hai câu thơ cuối không chỉ thể hiện sự xót thương của tác giả trước cảnh nước mất nhà tan mà còn bộc lộ thái độ căm thù giặc sâu sắc, sự thất vọng khi triều đình không chăm lo cho cuộc sống nhân dân mà họ còn nhu nhược, bắt tay với thực dân Pháp. Sự hèn nhát của triều đình, của những người có trách nhiệm bảo vệ đất nước, chăm lo cho cuộc sống nhân dân thật đáng mỉa mai, khinh bỉ.

Sự bất lực của nhà Nguyễn đã khiến nhân dân ta rơi vào cảnh điêu đứng, không lối thoát. Câu hỏi tu từ đó cũng nhằm mục đích thức tỉnh những người con yêu nước đứng lên chống lại sự đô hộ, mang lại cuộc sống ấm no cho “dân đen”.

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật có kết cấu đề – thực – luận – kết chặt chẽ. Là một người con của đất Gia Định nên ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Đình Chiểu mang đậm màu sắc Nam Bộ. Bút pháp hiện thực – trữ tình được tác giả vận dụng rất triệt để và đạt hiệu quả cao. Ẩn chứa đằng sau bức tranh “Chạy giặc” là tấm lòng yêu nước thương dân sâu nặng.

Nguyễn Đình Chiểu không chỉ miêu tả chân thật cảnh tượng đất nước bị quân thực dân chà đạp, giày xéo mà còn thể hiện một tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Tuy rằng ông bị mù lòa, không thể trực tiếp ra trận nhưng ngòi bút chiến đấu của ông vô cùng sắc sảo. Bài thơ “Chạy giặc” là một bài thơ tiêu biểu của văn học yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX, là lời tố cáo đanh thép, hùng hồn về tội ác của thực dân Pháp.

Chia sẻ thêm cùng bạn 🍀 Phân Tích Tự Tình Hồ Xuân Hương 🍀 15 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Tác Phẩm Chạy Giặc Đạt Điểm Cao – Mẫu 6

Để viết phân tích tác phẩm Chạy giặc đạt điểm cao, các em học sinh có thể tham kkhaor và vận dụng cho mình những gợi ý làm bài dưới đây:

Có những tác phẩm văn chương bất tử khi nó trở thành chứng nhân lịch sử, nó gắn liền với nỗi vui, buồn của một dân tộc. Bài thơ “Chạy giặc” là một bài thơ mang ý nghĩa như vậy.

Năm 1859, thực dân Pháp tấn công thành Gia Định. Trước họa xâm lăng, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài thơ “Chạy giặc”. Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, phản ánh nỗi đau thương của dân tộc, căm thù lên án tội ác quân Pháp xâm lược và thể hiện lòng thương xót nhân dân:

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
…Nỡ để dân đen mắc nạn này?”

Hai câu đề nói lên một cục diện bi thảm của đất nước ta thời bấy giờ. Giặc Pháp nổ súng đánh chiếm thành Gia Định. Trận đánh diễn ra như “một bàn cờ thế” phút chốc thay đổi bất ngờ “phút sa tay”. Thành Gia Định thất thủ, Đồng Nai, Bến Nghé rơi vào tay giặc. Vần thơ cất lên như một lời than:

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay.”

Các từ ngữ: “vừa nghe tiếng súng Tây”, “phút sa tay” làm nổi bật thời gian, sự việc diễn ra bất ngờ, nhanh chóng và nói lên nỗi kinh hoàng của nhà thơ, của nhân dân khi thành Gia Định bị giặc Tây nổ súng đánh chiếm. “Một bàn cờ thế” là một ẩn dụ, cách nói ước lệ, hàm súc về một cục diện chiến trường, một tình thế chiến tranh hồi ấy (1859).

Hai câu thực 3,4 tả cảnh chạy loạn, chạy giặc trong nỗi kinh hoàng của nhân dân. Các từ ngữ: “bỏ nhà”. “lơ xơ chạy”. “mất ổ” “dáo dác bay” đặc tả sự tan nát. hoảng sợ, hãi hùng. Nhà thơ lấy thế giới con người là “lũ trẻ” lấy thế giới thiên nhiên là “đàn chim”, hai hình ảnh ấy điển hình cho nỗi đau thương của nhân dân trước thảm họa đất nước, quê hương bị xâm lược:

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ đàn chim dáo dác bay”

Phép đảo ngữ đặt vị ngữ trước chủ ngữ để nhấn ý các chữ “bỏ nhà” và “mất ổ” tạo nên nỗi ám ảnh bi thương về cảnh chạy giặc của dân lành.

Hai câu luận 5,6 đối nhau làm hiện lên hai cảnh tang thương điêu tàn nơi Bến Nghé và Đồng Nai. Gần 200 năm về trước, Bến Nghé đã là cảnh đô hội, sầm uất, trên bến dưới thuyền buôn bán tấp nập. Đồng Nai là vựa lúa miền Nam. Thế mà chỉ trong chốc lát đã bị giặc Pháp bắn giết, đốt phá, cướp bóc rất dã man. Tài sản của nhân dân ta bị chúng cướp phá sạch sành sanh ‘”tan bọt nước”.

Nhà cửa, phố phường, làng xóm của đồng bào ta bị quân xâm lược đốt phá tan hoang. Lửa khói ngút trời, bao phủ một vùng rộng lớn “nhuốm màu mây”. Nhà thơ tả ít mà gợi nhiều. Chi bằng hai hình ảnh so sánh rất chọn lọc, đổi nhau: “của tiền tan bọt nước”, “tranh ngói nhuốm màu mây” đã căm thù lên án tội ác tày trời của quân xâm lược. Nỗi đau đớn và căm thù chứa đầy vần thơ:

“Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.”

Tội ác quân giặc không thể nào kể xiết! Nhà thơ tưởng như cất lời than uất hận trước tội ác ghê tởm của giặc Pháp:

“Bình tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé,
làm cho bốn phía mây đen ;
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai,
ai cứu một phường con đỏ”

(Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc)

Sau khi hạ thành Gia Định, giặc Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Cả một vùng rộng lớn của đất nước ta chìm trong máu lửa, Phan Văn Trị, người bạn thân của Nguyễn Đình Chiểu đã căm giận viết khi nghe tiếng kèn giặc:

“Tò te kèn thổi tiếng năm ba,
Nghe lọt vào tai dạ xót xa.
Vốn khúc sông Rồng mù mịt khói,
Vắng hoe thành Phụng ủ sầu hoa…”

(Cảm tác)

Hai câu kết, cảm xúc nghẹn lại bỗng trào lên, biểu lộ một tâm trạng đau đớn, lo âu. Lo âu cho tính mạng và tài sản của nhân dân ta đang bị giặc Pháp bắn giết, cướp bóc dã man. Lo âu cho vận mệnh đen tối của đất nước. Câu hỏi tu từ thể hiện tình thương xót nhân dân đau khổ trước họa xâm lăng:

“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này?”

“Chạy giặc” là bài ca yêu nước thể hiện sâu sắc lòng căm thù giặc Pháp và tình thương xót nhân dân trước họa xâm lăng. Những cảnh mà nhà thơ nghe thấy tiếng súng Tây, nhìn thấy, cảm thấy (lũ trẻ lơ xơ chạy, đàn chim dáo dác bay, của tiền tan bọt nước, tranh ngói nhuốm màu mây) là những chi tiết nghệ thuật rất hiện thực mang giá trị lịch sử sâu sắc. Bài thơ “Chạy giặc” là một chứng tích về tội ác giặc Pháp trong những ngày tháng đầu chúng xâm lược đất nước ta.

Ngôn ngữ hàm súc, nghiêm trang, chứa chan tình cảm, bài thơ thể hiện tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu. Nó cho thấy tính mẫn cảm chính trị của nhà thơ yêu nước “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Với ông “thơ là súng là gươm”.

Tiếp theo đón đọc 🍀 Phân Tích Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát 🍀 15 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Bài Chạy Giặc Học Sinh Giỏi – Mẫu 7

Tài liệu văn phân tích bài Chạy giặc học sinh giỏi sẽ mang đến cho bạn đọc những phân tích sâu sắc và đa chiều về tác phẩm.

“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta” (Hồ Chí Minh). Điều ấy không chỉ thể hiện trực tiếp qua hành động ra chiến trường chiến đấu với quân xâm lược mà nó còn thể hiện qua những vần thơ căm thù giặc sâu sắc. Bài thơ “Chạy giặc” của Nguyễn Đình Chiểu là tác phẩm tiêu biểu cho lòng yêu nước của một người con Nam Bộ.

Bài thơ mở đầu bằng khung cảnh tan tác, bi thương khi thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên báo hiệu cuộc xâm chiếm Nam Bộ:

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay”.

Nếu chỉ hiểu đơn giản rằng tiếng súng Tây nổ ra lúc vừa tan chợ thì sẽ không thấy được những bước chân chạy giặc vừa hoảng loạn, sợ hãi của người dân. Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả lại khung cảnh chợ vẫn đang họp thì tiếng súng bắt đầu nổ lên khiến ai nấy đều hoảng sợ.

Chợ là nơi mọi người buôn bán, trao đổi hàng hóa, là nơi thu hút nhiều người dân. Những đứa trẻ thơ luôn háo hức chờ đến lúc chợ tan để nhận được thức quà giản dị như tấm mía, gói kẹo hay bộ quần áo từ người bà, người mẹ, người chị mua từ phiên chợ. Vậy mà thực dân Pháp chọn đúng thời điểm ấy để nổ súng xâm lược. Buổi chợ đang sôi nổi, đông đúc bỗng tan tác chỉ trong chốc lát. Bao nhiêu niềm háo hức, chờ mong trên gương mặt của những đứa trẻ thơ cũng không còn nữa.

“Bàn cờ thế phút sa tay” là ẩn dụ cho tình hình thời cuộc nước ta lúc bấy giờ. Cuộc xâm chiếm xảy ra quá bất ngờ khiến nhân dân ta không kịp trở tay, đối phó. Khi chơi cờ, người chơi phải suy tính thật kĩ càng, đi những nước cờ một cách cẩn thận nhưng bàn cờ lúc sa tay là bàn cờ đã rơi vào tình thế bí bách, nếu đi sai một bước thì sẽ nhận sự thua cuộc về mình. Niềm mong chờ sự chỉ đạo sáng suốt của người cầm quân đã hoàn toàn lụi tắt khi tiếng súng vang lên. Sự hi vọng của nhà thơ cũng vì thế mà tan vỡ.

Tiếng súng đột ngột ấy đã phá tan đi khung cảnh yên bình, ấm êm vốn có của mảnh đất Gia Định:

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay”.

Hai câu thơ này đã thể hiện biết bao sự xót xa, đau đớn của Nguyễn Đình Chiểu. “Lơ xơ” và “dáo dác” là hai từ láy giàu giá trị biểu cảm đã diễn tả chân thực cảnh chạy giặc kinh hãi, hoảng loạn. Khi những người đi chợ chưa kịp về tới nhà để sum họp, khi những đứa trẻ chưa nhận được những thức quà quê thì chúng đã phải dắt díu nhau bỏ chạy. Chúng thất thần, ngơ ngác, chạy đi không phương hướng. Chúng sợ hãi, bơ vơ khi không có ai dẫn dắt để tránh sự nguy hiểm từ súng đạn kẻ thù. Chúng biết đi đâu, về đâu trong thời buổi loạn lạc?

Sự tàn bạo của kẻ thù không chỉ khiến con người kinh hãi mà ngay cả đến loài động vật cũng khiếp sợ. Bầy chim bay “dáo dác”, mất phương hướng và cất lên tiếng kêu thảm thiết. Đó là hình ảnh tả thực về thiên nhiên đồng thời cũng là hình ảnh so sánh với “lũ trẻ lơ xơ chạy” giúp người đọc có thể hình dung ra cảnh tượng xơ xác, tan đàn xẻ nghé đầy đau thương. Trẻ em là những mầm non cần được chăm sóc, bảo vệ vì trẻ em là tương lai của đất nước nhưng chính chiến tranh đã cướp đi tương lai của các em.

Tác giả dùng phép đảo ngữ đưa từ “bỏ nhà”, “mất ổ” lên vị trí đầu câu thơ nhằm mục đích nhấn mạnh tới sự bi thảm của chiến tranh. Bạn đọc có thể hình dung ra những đứa trẻ đang chạy hết sức mình để tìm được chỗ trú ẩn. Chúng hớt hải, ngơ ngác giữa súng đạn kẻ thù. Con người, đàn chim sẽ trú ngụ ở đâu khi “bỏ nhà”, “mất ổ”? Liệu nơi chốn nào sẽ là nơi trú ngụ dành cho họ khi quân địch ngày càng mở rộng phạm vi xâm chiếm? Cuộc sống của họ sẽ ra sao khi không có nơi chốn để đi về, không có nghề nghiệp để sinh sống?

Đi sâu vào sự tàn phá của quân địch, Nguyễn Đình Chiểu đã nhắc đến từng địa danh cụ thể bị quân xâm lược giày xéo:

“Bến Nghé cửa tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”.

Bến Nghé, Đồng Nai là hai miền quê trù phú của Nam Bộ cũng chịu sự càn quét, đốt phá của thực dân Pháp. Bỗng chốc những của cải vật chất của nhân dân ta bị quân địch cướp bóc hết. Tất cả đã tan thành bọt nước. Nhân dân ta đau xót nhường nào khi mồ hôi, công sức của mình bị kẻ thù xâm chiếm. Chúng làm náo loạn hết cả không gian và cuộc sống con người, chúng không từ một thủ đoạn nào để đàn áp nhân dân. Màu của những mái nhà bị đốt đã nhuốm cả màu mây trời.

Không gian ngập chìm trong lửa khói. Có ai chứng kiến cảnh tượng tang tóc, điêu tàn ấy mà không khỏi đau lòng? Ẩn sau hai câu thơ là sự căm thù giặc vô cùng sâu sắc của tác giả. Tuy không thể trực tiếp ra chiến trường giết giặc nhưng ông đã dùng ngòi bút của mình để tấn công chúng trên phương diện tinh thần. Chúng là những kẻ dã man, không có lương tâm khi tàn phá quê hương ta không thương tiếc. Những tội ác của chúng đáng bị tố cáo, lên án.

Đất nước rơi vào thảm cảnh bi thương mà không thấy những hành động cứu dân, cứu nước của các trang dẹp loạn:

“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nạn này”.

Sự vắng bóng của triều đình và các trang dẹp loạn đã cho thấy sự hèn nhát, bất lực của bộ máy chính trị nước ta. Nguyễn Đình Chiểu trăn trở, lo lắng cho vận mệnh của dân tộc. Ông thương mỉa mai, châm biếm sự hèn nhát của triều đình và thương xót cho số phận của những người dân đen. Họ là những người dân vô tội, là những người lương thiện lao động cực nhọc để chăm lo cho cuộc sống. Vậy mà lại bị mắc trong nạn xâm lược, nạn diệt vong của kẻ thù tàn ác.

Dường như cụ Đồ Chiểu đang nghẹn ngào tiếng khóc trước cảnh tượng tan tác, thê lương ấy. Triều đình đã bỏ mặc dân đen vô tội, không quan tâm đến sự sống còn của nhân dân. Câu thơ mang tính chất trách móc nhưng đồng thời cũng thúc giục tinh thần chiến đấu của những anh hùng xả thân cứu nước. Đó là lời kêu gọi mọi người hãy dũng cảm đứng lên chiến đấu để chiến thắng kẻ thù, mang lại cuộc sống ấm no như thuở trước.

Thể thơ thất ngôn bát cú với kết cấu chặt chẽ cùng ngôn từ giản dị nhưng vô cùng hàm súc đã thể hiện tấm lòng yêu nước thương dân của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu. Ông đã làm rất tốt nhiệm vụ chiến đấu của mình khi dùng những vần thơ để chĩa thẳng mũi súng tinh thần vào thực dân Pháp xâm lược. Ông xứng đáng được coi là “ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc” (Phạm Văn Đồng).

Gợi ý cho bạn 🌳 Phân Tích Bài Thơ Khóc Dương Khuê 🌳 11 Bài Văn Hay Nhất

Phân Tích Chạy Giặc Lớp 11 – Mẫu 8

Gợi ý phân tích Chạy giặc lớp 11 sẽ mang đến cho các em học sinh những ý tưởng hay để học tốt tác phẩm cũng như nâng cao kỹ năng phân tích văn học.

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ lớn của Việt Nam. Ông là gương mặt tiêu biểu của nhân dân Nam Bọ trong phong trào thơ ca yêu nước chống quân xâm lược. Những tác phẩm của ông thường có tính đấu tranh vô cùng mạnh mẽ. Phê phán và lên án sự tàn bạo của quân thực dân xâm lược. Bài thơ “Chạy giặc” là một tác phẩm điển hình cho phong cách thơ của ông. Bài thơ dường như đã tái hiện được khung cảnh xã hội. Việt Nam trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, với những sự hoang tàn, bi đát.

Thực dân Pháp đô hộ nước ta vào những năm 1958. Chúng đã thể hiện sự bành trướng của mình, khiến cho nhân dân ta lâm vào cảnh khổ cực khốn cùng. Trước những cảnh đau thương thương tang tóc này. Nguyễn Đình Chiểu đã không khỏi đau xót thương tâm. Lòng yêu nước trỗi dậy, sự căm thù quân xâm lược càng dâng cao. Và trong cái tình cảnh ấy, ông đã sáng tác bài thơ “Chạy giặc” như là một sự minh chứng về thời kỳ lầm than của dân tộc ta trong bối cảnh hỗn loạn. Bài thơ cũng thể hiện sự căm thù đến tột cùng đối với quân xâm lược tàn bạo.

Mở đầu bài thơ là một sự tái hiện về những tiếng súng dữ dội của kẻ thù”

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng tây
Một bàn cờ thế phút sa tay”

Mở đầu bài thơ, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã tái hiện lại không khí đầy dữ dội khi tiếng súng Tây. Làm cho mọi người trở nên hoảng loạn, mọi vật đều nhuốm màu bi thương. Không gian mà nhà thơ tái hiện đó chính là không gian của một khu chợ. Và thời điểm được gợi nhắc đến đó chính là thời điểm “tan chợ”.

Lúc này chính là lúc người người đang tấp nập rủ nhau ra về sau buổi chợ. Khi ấy thì tiếng súng Tây bắt đầu nổ dồn, đây là sự hủy diệt tàn bạo của lũ giặc cướp nước. Bởi chúng nhằm vào thời điểm con người mất cảnh giác nhất, tập trung đông đúc nhất để nổ súng, sát hại người dân ta. Ở đây tác giả vừa thể hiện được hành động tàn bạo, vô nhân tính của quân Pháp. Vừa thể hiện được thái độ căm thù của mình với chúng.

Hai từ “súng Tây” như một kiểu nói cộc lốc. Một sự coi thường quân cướp nước, một sự lên án của những kẻ chỉ muốn dùng vũ lực bằng súng. Và trong cái tiếng súng đột ngột đó khiến cho rất nhiều người phải sợ hãi, hoảng loạn.

“Một bàn cờ thế lúc xa tay” với ý nghĩa là khi đang chơi một ván cờ thế. Bỗng dưng do tiếng súng kia là cho giật mình và làm những quân cờ sa xuống bàn cờ. Tội ác của kẻ thù thực sự đáng ghê sợ, một hành động đáng bị lên án.

Hai từ “súng Tây” đã thể hiện được điều đó, tác giả không lên án trực tiếp bọn thực dân Pháp mà gọi chúng với cái tên đầy coi thường. Bọn Tây, tức những người khác chúng ta về chủng tộc, mang trong mình âm mưu thâm độc, thấp hèn đáng coi thường, chúng dùng bạo lực chèn ép dân ta, hành động thật đáng lên án. Trong một tác phẩm khác của mình, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng thể hiện được thái độ căm thù khôn xiết của mình đối với bọn giặc.

“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Tiếng súng Tây đột ngột nổ dồn khiến cho mọi người có mặt trong khung cảnh ấy hoảng loạn, sợ hãi “Một bàn cờ thế lúc sa tay”. Câu thơ này có thể hiểu là những người chơi cờ vì bị tiếng súng làm cho giật mình mà làm sa những quân cờ xuống bàn cờ.

Hoặc ta cũng có thể hiểu bàn cờ thế lúc sa tay này chính là thực trạng của Việt Nam lúc bấy giờ, là lúc dân tộc ta đang thất thế trước quân giặc. Chúng đã lợi dụng tình hình bất ổn của đất nước ta mà nhảy vào xâm lược, gây ra bao nhiêu cảnh đau khổ. Khung cảnh khi có tiếng súng Tây cũng thật hỗn loạn, xơ xác. Không chỉ con người mà ngay cả những loài vật cũng hoảng loạn, tìm đường chạy chốn, ẩn náu:

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay”

Đó là cảnh những đứa trẻ vì bị tiếng súng dọa cho giật mình, sợ hãi mà bỏ nhà chạy toán loạn. Muốn chạy trốn tiếng súng cũng như sự hủy diệt đáng sợ ấy “Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy”, chúng mới chỉ là những đứa con nít. Hàng ngày phải sống trong khung cảnh dữ dội, hủy diệt của bom đạn quả thực vô cùng đáng thương. Chúng đang ở tuổi hồn nhiên nhất của cuộc đời, là những lúc vô lo, vô nghĩ nhất nhưng lại sinh ra trong giai đoạn đất nước đầy biến động, bạo loạn.

Không chỉ có lũ trẻ sợ hãi, mà ngay cả những loài vật trong tự nhiên cũng bị sự hủy diệt của kẻ thù mà mất đi nơi sinh sống. Hoảng loạn mà bay dáo dác khắp nơi để tìm chỗ trú ẩn. Không khí mà nhà thơ gợi ra ở đây thật hỗn loạn, bi thương.

“Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”

Một địa danh của Gia Đình là Bến Nghé, khi bị xâm phạm. Những thứ vô tri như bến nước, dòng sông cũng đã bị lay động. Những đồng cảm của những thứ vốn vô tri đó với thực cảnh đất nước đang trong chiến tranh. Bọt nước vỡ tan ở Bến Nghé, khung cảnh yên bình không còn nữa. Sự vỡ tan ấy cũng như sự phẫn nộ của đất trời, thiên nhiên vô tri trước tội ác của quân giặc.

Dòng sông Đồng Nai cũng bị nhuốm màu của bi thương, đau khổ. Đó chính là sự đồng cảm, hòa quyện giữa thiên nhiên và lòng người. Cái cảnh đau thương của con người, cũng làm cho cảnh vật vô tri cũng có cảm xúc. Nó chính là một sự phẫn nộ trước sự tàn phá của kẻ thù.

“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nạn này”

Như một câu hỏi trước sự thật đau lòng. Đất nước đang bị tàn phá, người dân phải chịu khổ cực. Một câu hỏi như là một lời trách móc đối với cái triều đình vô dụng nhà Nguyễn. Một triều đình thực sự nhu nhược, chỉ biết đến lợi ích của mình mà quên đi những người dân đang sống trong cảnh mắc nạn. Để cho quân xuân lược chèn ép, áp đặt “mắc nạn này”. Một sự chờ đợi mong mỏi, có một người tài trí, một vị tướng tài ba sẽ đứng lên chống lại kẻ thù. Nhưng vào thời điểm này, thì đâu có xuất hiện ai bởi cái triều đình thối nát đó.

Sau khi phân tích và nghị luận bài thơ “Chạy giặc” của Nguyễn Đình Chiểu. Chúng ta thấy được đây thực sự là một tuyệt phẩm thơ của ông trong thời kỳ biến loạn của đất nước dưới sự xâm lực của quân thực dân. Bài thơ đã thể hiện được tình yêu đất nước, và qua đó cũng thể hiện sự căm thù quân xâm lược. Bài thơ là một sự thể hiện cảm xúc thực, tình cảm thực của chính Nguyễn Đình Chiểu.

Giới thiệu tuyển tập ☀️ Phân Tích Thu Điếu Nguyễn Khuyến ☀️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Viết một bình luận