Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước ❤️️ 11 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước ❤️️ 11 Bài Văn Ngắn Hay Nhất ✅ Những Bài Văn Mẫu Để Bạn Thấy Được Những Cảm Nhận Mới Mẻ Về Đất Nước Của Tác Giả.

Dàn Ý 9 Câu Đầu Bài Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm

Để phân tích đầy đủ các ý trong bài thơ bạn hãy khám phá ngay Dàn Ý 9 Câu Đầu Bài Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm mà SCR.VN sắp chia sẻ dưới đây nhé.

I. Mở bài phân tích 9 câu đầu Đất nước:

  • Giới thiệu nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, trường ca Mặt đường khát vọng và chương Đất nước.
  • Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ với phong cách thơ mang đậm chất trữ tình chính luận.
  • “Đất Nước” được trích từ chương V, trường ca Mặt đường khát vọng, sáng tác trong thời kỳ chiến trường Miền Nam vô cùng ác liệt. “Đất Nước” ra đời với mục đích khơi gợi tình yêu nước thẳm sâu, kêu gọi giới trẻ miền Nam hòa mình vào cuộc chiến của dân tộc.

II. Thân bài phân tích 9 câu đầu Đất nước:

a. Luận điểm 1: Đất nước có từ bao giờ?

  • Câu thơ đầu tiên chính là câu trả lời cho câu hỏi ấy: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”
  • Đất Nước là những thứ thân thuộc, gần gũi, gắn bó vỡi mỗi con người, ở trong mỗi con người từ khi phôi thai. Thể hiện tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân”
  • Tác giả cảm nhận đất nước bằng chiều sâu văn hóa – lịch sử và cuộc sống đời thường của mỗi con người qua cụm từ “ngày xửa ngày xưa” à gợi những bài học về đạo lí làm người qua các câu chuyện cổ tích thấm đượm nghĩa tình.

b. Luận điểm 2: Quá trình hình thành đất nước?

  • Bắt đầu với phong tục ăn trầu gợi về hình ảnh người bà thân thuộc, gợi câu chuyện về sự tích trầu cau, nhắn nhủ nghĩa tình anh em sâu đậm, tình cảm vợ chồng nhân nghĩa thủy chung.
  • Hình ảnh “cây tre” còn gợi lên hình ảnh của con người Việt Nam, cần cù, siêng năng, chịu thương, chịu khó. “Lớn lên” nghĩa là nói quá trình trưởng thành của Đất Nước, nói lớn lên trong chiến tranh nghĩa là nói truyền thống chống giặc kiên cường, bền bỉ.
  • Tập quán bới tóc sau đầu để chú tâm làm việc, gợi câu ca dao bình trị dạt dào thương nhớ. Nhắc nhở về tình cảm vợ cồng sắc son, sâu nặng qua hình ảnh: “gừng cay”, “muối mặn”.
  • Tái hiện nền văn hóa nước ta chỉ bằng một câu thơ đơn sơ nhưng đầy dụng ý:“Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”. Nghệ thuật liệt kê, cùng cách ngắt nhịp liên tục thể hiện truyền thống lao động cần cù, cách ăn cách ở trong sinh hoạt.
  • Nguyễn Khoa Điềm thâu tóm tất cả bằng một tư tưởng duy nhất: “Đất Nước có từ ngày đó…”. Dấu “…” cuối câu chính là biện pháp tu từ im lặng, lời dẫu hết nhưng ý vẫn còn, vẫn nung nấu và sục sôi.
  • Đất nước được hình thành gắn liền với văn hóa, lối sống, phong tục tập quán cảu người Việt Nam, gắn liền với đời sóng gia đình. Những gì làm nên Đất Nước cũng đã kết tinh thành linh ồn dân tộc. Đất Nước vì thế hiện lên vừa thiêng liêng, tôn kính lại gần gũi thiết tha.

III. Kết bài phân tích 9 câu đầu Đất nước:

Giọng thơ trữ tình chính luận, khi căng, khi chùng, khi tha thiết, khi lại cuồn cuộn nỗi niềm, đã thể hiện được tinh thần chủ đạo của bài thơ thông qua các chất liệu văn hóa, văn học dân gian: “Đất Nước của nhân dân”. Vì vậy, đoạn thơ không chỉ trữ tình mà đầy sức chiến đấu.

Đọc nhiều hơn dành cho bạn ☀️ Dàn Ý Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm ☀️ Trọn Bộ Chuẩn Nhất

Dàn Ý Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước Ngắn Gọn

Lập dàn ý phân tích 9 câu đầu đất nước ngắn gọn sẽ giúp các em học sinh dễ dàng ôn tập cho bài viết trên lớp. Tham khảo mẫu phân tích 9 câu đầu đất nước dàn ý như sau:

1. Mở bài: Giới thiệu tác giả Nguyễn Khoa Điềm, đoạn thơ Đất nước và 9 câu thơ đầu.

2. Thân bài:

  • “Khi ta lớn lên, đã có rồi”: Đất Nước ra đời từ rất xa xưa như một sự tất yếu, trong chiều sâu của lịch sử thời các vua Hùng dựng nước và giữ nước.
  • “Ngày xửa ngày xưa, mẹ thường hay kể”. Những câu chuyện cổ tích, những bài học đạo lí làm người, ước mơ khát vọng của nhân dân về lẽ công bằng → góp phần tạo nên Đất nước.
  • “Miếng trầu”: phong tục ăn trầu của dân gian gắn với ta nhiều đời nay và gợi nhớ sự tích Trầu cau.
  • “Biết trồng tre mà đánh giặc”: gợi nhớ truyền thống chống giặc ngoại xâm và truyền thuyết đầy tự hào của người Việt và truyền thuyết về người anh hùng Thánh Gióng.
  • “Tóc mẹ bới sau đầu”: những phong tục lâu đời của người Việt, người phụ nữ để tóc dài và bới lên.
  • “Cha mẹ, gừng cay muối mặn”: gắn với câu ca dao của dân tộc, nói về tình cảm thủy chung của người Việt.
  • “Cái kèo, cái cột, hạt gạo, xay, giã, giần, sàng”: những vật quen thuộc trong đời sống hằng ngày của người Việt Nam gắn với lao động sản xuất và nền văn minh lúa nước.
  • Đất Nước là những gì có thể bắt gặp ở ngay trong cuộc sống của mỗi gia đình, mỗi người. Câu chuyện cổ tích của mẹ, miếng trầu bà ăn, hạt gạo ta ăn, ngôi nhà ta ở….
  • “Đất Nước có từ ngày đó”: Đất Nước có từ khi dân mình biết yêu thương, sống tình nghĩa. Từ ngày dân tộc có nền văn hóa riêng, từ khi dân mình biết dựng nước và giữ nước. Từ trong cuộc sống hằng ngày của con người.
  • Sự cảm nhận về chiều sâu của lịch sử của Đất Nước thể hiện ngay trong đời sống hằng ngày của nhân dân. Đất Nước được hình thành từ những gì nhỏ bé, gần gũi trong cuộc sống của mỗi con người. Từ bề dày của truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam.

3. Kết bài: Tổng kết về nội dung, nghệ thuật và nêu cảm nhận về đoạn trích.

Sơ Đồ Dàn Bài Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước

Dựa vào sơ đồ dàn bài phân tích 9 câu đầu đất nước, các em học sinh có thể ghi nhớ kiến thức hiệu quả hơn. Tham khảo mẫu sơ đồ phân tích 9 câu đầu bài đất nước dàn ý dưới đây:

Sơ Đồ Dàn Bài Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước
Sơ Đồ Dàn Bài Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước

Gửi đến bạn 🍃 Sơ Đồ Tư Duy Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm 🍃 16 Mẫu Hay

Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước Mở Bài

Khi viết mở bài phân tích 9 câu đầu Đất nước cần giới thiệu về tác giả và tác phẩm. Gửi tặng đến bạn đọc những mẫu mở bài hay nhất cho đề bài viết Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.

“Đất nước” – hình tượng thiêng liêng mà quen thuộc, là đề tài muôn thuở và nguồn cảm hứng bất tận của nghệ thuật, thi ca. “Đất nước” hiện diện trong lời hát, tiếng ru hay làn điệu dân ca mượt mà, dịu ngọt. “Đất nước” làm rung động biết bao mê say xúc cảm của các thế hệ thơ Việt Nam, vì vậy, chân dung Tổ quốc được hiện lên muôn hình vạn trạng dưới những ngòi bút tài hoa. Trong số các tác giả, phải kể đến Nguyễn Khoa Điềm – một nhà thơ, một nhà chính trị.

Có lẽ, nhờ những trải nghiệm cá nhân mà thi sĩ được nhào nặn trong những năm tháng đấu tranh vĩ đại của dân tộc, Nguyễn Khoa Điềm mang cho mình cảm xúc nồng nàn cùng suy tư sâu lắng về tư tưởng “Đất nước của Nhân dân”. Với bản trường ca “Mặt đường khát vọng” ( viết năm 1971 tại chiến khu Trị-Thiên) , ông chọn điểm nhìn gần gũi, thân quen nhất để miêu tả hình dáng xứ sở, tự nhiên, bình dị mà không kém phần thiêng liêng, hào hùng. Tất cả những cảm xúc được dồn nén trong 9 câu đầu đoạn trích “Đất nước” của tác phẩm.

Tặng bạn 🌹 Mở Bài Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm 🌹 20 Mẫu Hay

Kết Bài Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước

Gợi ý viết kết bài phân tích 9 câu đầu đất nước dưới đây sẽ giúp các em học sinh đưa ra đánh giá tổng kết về đoạn thơ.

Mặc cho bước chân thời gian vẫn chảy trôi không ngừng,thơ văn vẫn ở đó và vẫn tỏa sáng, bởi lẽ “Thơ ca làm cho những gì tốt đẹp nhất trở thành bất tử” ( Shelly), nên chúng cũng trường tồn mãi với tháng năm. 9 câu thơ đầu trong đoạn trích “Đất Nước” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã ngân lên một khúc dạo du dương, dịu dàng, khắc sâu vào từng trái tim, từng tâm hồn, gợi lên một niềm yêu thương, tự hào khó tả về mảnh đất quê hương thân thương, nơi ta thuộc từng đường đi lối về, từng hàng cây ngọn cỏ.

Dù đi đâu, đi đến tận cuối đất cùng trời, ta vẫn tự hào mang trong mình dòng máu Lạc Hồng hào hùng, hiên ngang. Dù ta là ai, chỉ cần ta sinh ra và lớn lên trên mảnh đất này, trái tim sẽ mãi luôn nhớ: “ Dù đi đâu… Đến phương trời nào, cũng chẳng đẹp hơn nước non Việt Nam”…

Mời bạn khám phá thêm 💕 Kết Bài Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm 💕 20 Mẫu Đặc Sắc

Đoạn Văn Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước Ngắn Nhất

Tiếp theo đây, SCR.VN xin chia sẻ đến bạn đọc mẫu Đoạn Văn Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước Ngắn Nhất. Bạn cùng đọc và lưu lại cho mình nhé.

Đoạn trích Đất Nước thuộc phần đầu, chương V của bản trường ca “Mặt đường khát vọng”, hoàn thành ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974. Viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ ở các đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh thế hệ mình, xuống đường đấu tranh chống đế quốc Mĩ.

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”

Câu thơ mở đầu là lời khẳng định tự nhiên, giản dị: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”. Đất Nước có từ “khi ta lớn lên”, từ khi ta chưa ra đời, xuyên suốt bốn ngàn năm văn hiến. Như vậy, Đất Nước tồn tại như một điều hiển nhiên, nó có chiều sâu cội nguồn cũng như sự hình thành và phát triển bao đời nay. 

Tác giả cảm nhận Đất Nước gắn với phong tục tập quán, hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc:

“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”

“Miếng trầu bà ăn” là miếng trầu tình nghĩa trong “sự tích trầu cau” khiến ta rưng rưng nước mắt về tình cảm vợ chồng, về tình nghĩa anh em gắn bó. Từ đó, hình ảnh “trầu cau” trở thành “miếng trầu là đầu câu chuyện”, trở thành thứ không thể thiếu được trong lễ cưới, tượng trưng cho tình nghĩa đằm thắm, thủy chung.

“Tóc mẹ thì bới sau đầu”

Đó là hình ảnh đặc thù của người phụ nữ Việt Nam, thùy mị, duyên dáng và thật đáng yêu. Không những chỉ là những cảm nhận ở trên về Đất Nước mà Nguyễn Khoa Điềm còn cảm nhận Đất Nước trong vẻ đẹp tình yêu của cha mẹ với lối sống nặng tình nặng nghĩa như “gừng cay muối mặn”.

“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”

Dù gian nan, dù cay đắng nhưng cha mẹ vẫn đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi để tình cảm thêm mặn nồng, thắm thiết.

Từ Đất Nước viết hoa diễn tả tình cảm thiêng liêng đối với Đất Nước. Giọng thơ trữ tình, câu thơ dài ngắn đan xen thể hiện cảm xúc tư nhiên, phóng khoáng. Ngôn ngữ giản dị, sử dụng sáng tạo các chất liệu từ văn học dân gian tạo chiều sâu cho ý thơ.

Đất Nước đối với Nguyễn Khoa Điềm là những gì bình thường, gần gũi nhất. Nó có trong cổ tích, ca dao, gắn liền với nguồn mạch quê hương để làm nên một chân dung trọn vẹn về Đất Nước: Thân thương mà hào hùng, vất vả mà thủy chung.

Xem nhiều hơn 🌹 Bình Giảng Đất Nước 🌹 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Phân Tích 9 Câu Thơ Đầu Đất Nước – Mẫu 1

Tham khảo bài văn mẫu phân tích 9 câu thơ đầu đất nước dưới đây để nắm được những định hướng làm bài cụ thể.

Đất nước luôn là tiếng gọi thiêng liêng muôn thuở, muôn nơi và của bao triệu trái tim con người. Với Nguyễn Khoa Điềm, ta bắt gặp một cái nhìn toàn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình diện khác nhau về một đất nước của nhân dân. Tư tưởng ấy đã quy tụ mọi cách nhìn và cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước. Thông qua những vần thơ kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, nhà thơ muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm với nhân dân, đất nước của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm chống Mĩ cứu nước.

Mở đầu đoạn trích là giọng thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ như những lời tâm tình kết hợp với hình ảnh thơ bình dị gần gũi đưa ta trở về với cội nguồn đất nước:

Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái ngày xửa
Ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Đất nước trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà là những gì rất gần gũi, thân thiết ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người. Đất Nước hiện hình trong câu chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa mẹ kể, trong miếng trầu của bà, cây tre trước ngõ… gợi lên một Đất nước Việt Nam bao dung hiền hậu, thủy chung và sắt son tình nghĩa anh em, nhưng cũng vô cùng quyết liệt khi chống quân xâm lược. Mỗi quả cau, miếng trầu, cây tre đều gợi về một vẻ đẹp tinh thần Đất nước, đều thấm đẫm ngọn nguồn lịch sử dân tộc.

Đất nước còn là hiện thân của những phong tục tập quán ngàn đời, minh chứng của một dân tộc giàu truyền thống văn hóa, giàu tình yêu thương gắn bó với mái ấm gia đình. Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn. Gừng tất nhiên là cay, muối tất nhiên là mặn. Tình yêu cha mẹ mãi mãi mặn nồng như chính chân lí tự nhiên kia. Hình ảnh thơ khiến ta rưng rưng nhớ về một lời nhắc nhở thiết tha về tình nghĩa của một ai đó hôm nào:

Tay bưng đĩa muối chén gừng,
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.

Đất nước còn là thành quả của công cuộc lao động vất vả để sinh tồn, để dựng xây nhà cửa:

Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó.

Ở đây Đất nước không còn là một khái niệm trừu tượng nữa mà cụ thể, quen thuộc và giản dị biết bao. Việc tác giả sử dụng những chất liệu dân gian để thể hiện suy tưởng của mình về đất nước với quan niệm “Đất nước của nhân dân”.

Với thể thơ tự do cùng những hình ảnh dân gian độc đáo, tác giả đã đưa ra nguồn gốc của Đất nước một cách khác biệt mà cũng rất chính xác. Tác phẩm đã góp phần to lớn vào việc làm phong phú văn chương nước nhà cũng như khẳng định đất nước này là của con người Việt Nam.

Đọc nhiều hơn 🌻 Phân Tích Bài Thơ Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm 🌻 Hay Nhất

Phân Tích Đất Nước 9 Câu Đầu Hay – Mẫu 2

Bạn đọc cập nhật thêm mẫu bài Phân Tích Đất Nước 9 Câu Đầu Hay nhất. Đoạn thơ nói lên một cách dung dị mà thấm thía về cội nguồn sâu xa của Đất Nước.

Đất nước, đã từ lâu, là điểm hẹn tâm hồn của biết bao văn nghệ sĩ. Được khơi nguồn từ đề tài quen thuộc ấy, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có cho mình một lối đi riêng. Nguyễn Khoa Điềm từng chia sẻ: “Đất Nước với các nhà thơ khác là của những huyền thoại, của những anh hùng nhưng với tôi là của những con người vô danh, của nhân dân”. “Tôi cố gắng thể hiện hình ảnh Đất Nước Giản dị, gần gũi nhất”.

Rút ra từ trường ca “Mặt đường khát vọng”, đoạn trích “Đất Nước” là sự kết tinh của những sáng tạo độc đáo, mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm. Với 9 câu thơ mở đầu, nhà thơ đã đưa người đọc trở về với lịch sử của dân tộc để trả lời cho câu hỏi đất nước có từ bao giờ:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
…………………………..
Đất Nước có từ ngày đó

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ trẻ thơ năm chống Mĩ cứu nước. Thơ Nguyễn Khoa Điềm lôi cuốn người đọc bởi xúc cảm lắng đọng, giàu chất suy tư. Phân tích Đất Nước mới thấy được đây là một đoạn trích tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật độc đáo ấy. Đất Nước là phần đầu chương V của trường ca “Mặt đường khát vọng” – tác phẩm được ra đời vào năm 1971, giữa lúc của kháng chiến chống Mỹ diễn ra khốc liệt.

Đất Nước bắt đầu từ một cách trang trọng mà hết sức bình dị, gần gũi:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những “cái ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bà ăn bây giờ
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Đất Nước vốn là giá trị bền vững, vĩnh hằng; Đất Nước được tạo dựng, bồi đắp qua nhiều thế hệ, được truyền từ đời này, sang đời khác: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi. Đứng trước một Đất Nước thiêng liêng như thế, lòng thơ dâng trào niềm xúc động và thành kính. Hai từ “Đất Nước” được viết hoa một cách trang trọng.

Đó là cách mà nhà thơ thể hiện niềm tự hào và lòng thành kính trước Đất Nước của mình. Khi ta cất tiếng khóc chào đời, khi ta lớn lên, Đất Nước đã hiện hữu. Đất Nước có từ bao giờ/ Suy ngẫm về cội nguồn của Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm bỗng phát hiện: Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ kể/ Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bà ăn. Mẹ Đất Nước vừa cổ kính lâu đời vừa bình dị, mộc mạc hiện ra trong câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm.

Đất Nước là văn hóa kết tinh từ tâm hồn Việt. Từ truyện cao dao, cổ tích đến tục ngữ, “miếng trầu” đã là một hình tượng nghệ thuật mang tính thẩm mĩ, là hiện thân của tình yêu thương, lòng thủy chung của tâm hồn dân tộc.

Cùng với tục ăn trầu, Đất Nước còn, gắn liền với những phong tục khác:

– Tóc mẹ thì bới sau đầu

– Cái kèo cái cột thành tên

Thân thương, mộc mạc biết chừng nào là búi tóc sau đầu của mẹ, là những nếp nhà dựng lên từ cái kèo, cái cột, mái lá, tường rơm, vách đất; là cách đặt tên con giản dị nôm na. Mộc mạc, thân thương vật như đó cũng là một phần của Đất Nước. Và Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc. Hình ảnh Đất Nước thật thân thuộc với những lũy tre xanh rì, những búp măng non bật mình vươn thẳng.

Có thể thấy, từ bao đời nay, từ truyền thuyết dân gian đến tác phẩm thơ hiện đại, cây trẻ trở thành biểu tượng cho sức mạnh tinh thần quật cường đánh giặc cứu nước và giữ nước, biểu tượng phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Từ “lớn lên” được dùng rất chính xác, rạo rực niềm tin, niềm tự hào dân tộc.

Giọng thơ thâm trầm, trang nghiêm làm cho suy từ về cội nguồn Đất Nước giàu chất triết luận mà vẫn thiết tha, trữ tình. Cách cảm nhận, lí giải cội nguồn Đất Nước bằng những hình ảnh bình dị, thân thuộc đã khẳng định rằng: Đất Nước gần gũi, thân thuộc, bình dị ngay trong đời sống mỗi người.

Với Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước còn ẩn mình trong những vật nhỏ bé nhất. Đất Nước ẩn mình trong hạt muối, nhánh gừng; đằm sâu trong tình thương mẹ cha: Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn. Được chắt lọc từ văn hóa dân gian, câu thơ trầm tích những ý từ xâu xa. Dù sống cuộc sống thiếu thốn, gian khổ, cha mẹ ta vẫn thương yêu nhau như gừng cay muối mặn, vẫn gắn bó trước sau, mặn mà, đinh ninh. Đất Nước mình giản dị thân thương là thế.

Hình ảnh Đất Nước còn có trong từng bông lúa, củ khoai: Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng. Hình ảnh thơ giản dị nhưng gợi ra tập quán sản xuất gắn liền với văn minh lúa nước của dân tộc Việt Nam. Để làm ra hạt gạo trắng ngần, bát cơm thơm, người nông dân phải dầm sương, dãi nắng, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, tỉ mỉ xay, giã, dần, sàng. Hình ảnh thơ gợi lên bao sự lam lũ, vất vả, nhọc nhằn cùng phẩm chất cần cù, chịu khó của những người chân lấm, tay bùn.

9 câu đầu khép lại bằng tứ thơ khái quát về thời điểm hình thành Đất Nước: Đất Nước có từ ngày đó. Ngày đó vừa là trạng từ chỉ thời gian trong quá khứ vừa là một phép thế đại từ. Vậy là Đất Nước có từ khi mẹ thường kể chuyện cổ tích cho con nghe, khi dân ta biết trồng tre đánh giặc, biết tròng ra hạt lúa, củ khoai, biết ăn trầu, búi tóc, biết sống yêu thương, thủy chung. Lịch sử Đất Nước thật giản dị, gần gũi mà xa xôi, linh thiêng biết mấy.

Đoạn thơ chín câu, tám lăm chữ mà không hề có một từ Hán Việt. Ngôn ngữ thơ bình dị, gần gũi, nồng hơi thở cuộc sống. Tính chính luận đã làm sáng đẹp chất trí tuệ hài hòa với chất trữ tình đậm đà. Đoạn thơ đã “nhịp mãi một tấm lòng sứ điệp” để ta thêm yêu và tự hào về Đất Nước.

Tiếp tục đón đọc 🌳 Cảm Nhận Về Bài Thơ Đất Nước 🌳 Bài Văn Mẫu Hay

Bài Văn Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước Hay Nhất – Mẫu 3

Đón đọc bài văn phân tích 9 câu đầu đất nước hay nhất được chọn lọc và chia sẻ dưới đây dành cho các em học sinh.

Đất Nước tôi thon thả giọt đàn bầu
Nghe dịu nỗi đau của mẹ”

(Đất nước tôi – Tạ Hữu Yên)

Đất Nước và mẹ là những điều thiêng liêng làm nên nguồn cội, từ lâu đã trở thành cảm hứng sáng tác của nền văn học lấy tinh thần yêu Tổ quốc mình đặt lên vai. Ở mỗi tác giả, chúng ta bắt gặp những cảm hứng khác nhau để từ đó hình tượng Đất Nước chưa bao giờ lặp lại mình qua lăng kính cá nhân của những người làm nghệ thuật.

Đến với Nguyễn Khoa Điềm, hình tượng Đất Nước được cảm nhận một cách mới mẻ, độc đáo qua lối thơ giàu chất trữ tình, giọng thơ suy tưởng, mang nhiều triết lý. Nhà thơ trí tuệ này đã dành cả chương 5 – Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng để luận giải về sự ra đời của Đất Nước thông qua nhiều phương diện lịch sử, địa lý, văn hoá dân gian để đi đến khẳng định Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân. Trong dòng suy tưởng ấy, cội nguồn của Đất Nước hiện ra ở 9 câu thơ đầu tiên.

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có từ ngày đó..”

Những năm đầu của thập niên bảy mươi thế kỷ trước, khi mà đế quốc Mỹ đang dồn sức đẩy cuộc chiến tranh ở miền Nam lên cao trào và không ngừng bắn phá miền Bắc, trong tình thế cam go ấy, cần lắm những con người nhiệt huyết, sẵn sàng xông pha vào tuyến lửa, sẵn sàng đi đầu, xuống đường đấu tranh giành lại hoà bình.

Nguyễn Khoa Điềm đã hăng hái viết bản trường ca Mặt đường khát vọng với mong muốn thức tỉnh, thôi thúc thế hệ trẻ hòa mình vào cuộc đấu tranh dữ dội của quần chúng nhân dân. Bằng tấm lòng tha thiết với Tổ quốc, bằng cảm xúc dạt dào của ngòi bút không ngại gian khổ, Nguyễn Khoa Điềm đã bất chấp tiếng bom rơi ngoài hầm trú ẩn, không nao núng trước tiếng gào thét của động cơ phản lực, từng câu thơ như mạch sống cuộn trào.

Trong đoạn trích, Đất Nước được viết hoa và cũng là chủ đề bao trùm cả chương. Đất Nước, tiếng gọi thiêng liêng gợi chiều sâu cảm xúc. Đất Nước cũng là tình yêu sâu nặng của nhân dân dành cho những điều giản dị, đời thường. Đất Nước còn gợi chiều dài xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại và tiếp tục ở tương lai.

Nguyễn Khoa Điềm đã dùng cả nhận thức của trí tuệ và sự rung cảm của tâm hồn để khám phá vẻ đẹp mang tên Đất Nước thông qua cuộc trò chuyện tâm tình giữa hai nhân vật “anh” và “em”. Đây là sự hoá thân của tác giả đưa vào mạch thơ cảm xúc tự nhiên, để từ cảm nhận của “anh” và “em” Đất Nước hiện lên trong mọi mặt đời sống nhân dân.

Để lý giải về cội nguồn của Đất Nước, nhà thơ đã phục dựng hình tượng đẹp đẽ này từ quá khứ hiện lên qua cái nhìn hiện tại.

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”

Cái hay của nhà thơ không chỉ là nói những cái mới, cái lạ mà từ cái tưởng chừng đã quen, thông qua chất trí tuệ của một nhà thơ giàu suy tưởng, lại trở thành cái những liên tưởng thú vị. Đất Nước có từ rất lâu rồi, điều mà chúng ta không thể phủ nhận. Tuy nhiên vai trò nhận thức Đất Nước không phải của riêng ai mà là “ta”, bao gồm cả tác giả và mỗi con người trên xứ sở này. Thông thường, chúng ta hay dùng cách nói quen thuộc để chỉ thời gian dài như “khi ta sinh ra” hoặc “khi ta lớn lên”.

Xét về nghĩa, “khi ta sinh ra” chỉ thời gian sớm hơn “khi ta lớn lên”. Vậy mà nhà thơ lại sử dụng cách nói “lớn lên”. Phải chăng nhà thơ muốn nói rằng chỉ khi ta “lớn lên” có nghĩa là khi ta đã hình thành nhận thức, đã hoàn thiện về tâm hồn, trí tuệ thì Đất Nước mới thực sự hiện lên đầy đủ, hoàn chỉnh. Cũng khi ấy chúng ta mới biết xúc động, biết yêu quý và tự hào về Đất Nước mình.

Đất Nước được sinh ra từ những câu chuyện cổ, những nét văn hoá dân gian mà mỗi con người đều thấm đẫm câu “ngày xửa ngày xưa”

“Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa…mẹ thường hay kể”

Cũng như cánh cò trong bài hát ru đi vào tiềm thức mỗi đứa trẻ, những câu chuyện cổ bắt đầu từ “ngày xửa ngày xưa”, tuổi ấu thơ ngây dại nhiều mơ mộng cũng bắt đầu từ đấy. Chất giọng ấm áp của mẹ, trầm trầm của bà khi hóa thân vào nàng tiên, cô Tấm, như ngọt ngào hương Thị, say nồng hương cau. Mỗi câu chuyện là hình hài dân tộc, là lời dạy bảo, khuyên răn để qua những cái “ngày xửa ngày xưa” con cháu mai sau nhớ về nguồn cội

Chỉ còn truyện cổ thiết tha
Cho tôi nhận mặt ông cha của mình”

(Truyện cổ nước mình – Lâm Thị Mỹ Dạ)

Đất Nước xuất hiện trong truyền thống văn hoá, qua những nếp sống đời thường trở thành nét đẹp trong phong tục.

“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”

Miếng trầu cũng từ cổ tích, dáng bà dáng mẹ cũng từ thuở nào bước vào cuộc đời. Sợi dây kết nối giữa văn hoá và thói quen cũng từ đấy mà hình thành. Những thói quen như ăn trầu theo thời gian dần trở thành phong tục. Nét đẹp của phong tục làm nên văn hoá. Còn văn hoá thì trở thành máu thịt của chúng ta. Miếng trầu từ trong cổ tích đi vào cuộc đời, từ trong câu chuyện về nghĩa tình anh em, sự son sắt vợ chồng trở thành món sính lễ không thể thiếu trong ngày cưới của người Việt.

Miếng trầu còn nhắc nhỏ cho con cháu bài học về sự chân thành, cởi mở, tấm lòng hiếu khách, lịch sự của nhân dân mình “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Mượn chất liệu dân gian, Nguyễn Khoa Điềm vẫn khéo léo đan cài cách nói ẩn ý của mình. “Miếng trầu bây giờ bà ăn” mà không phải là “miếng trầu ngày xưa bà ăn”.

Đấy là ý đồ phục dựng lại quá khứ một cách tròn đầy ở hiện tại. Miếng trầu đâu chỉ có mặt trong quá khứ, trong tâm tưởng mà còn hiện diện ở thời điểm “bây giờ”. Miếng trầu là tượng trưng cho văn hoá, cho bốn nghìn năm lịch sử, cũng là cho vẻ đẹp ý vị dân gian. Vẻ đẹp ấy có linh hồn, có sức sống bất diệt muôn đời. Câu thơ như sự khẳng định chắc nịch trong hiện tại vẫn có quá khứ, trong cuộc sống hôm nay vẫn hiện hữu bóng dáng hôm qua.

Câu thơ tiếp theo, nhà thơ đã khái quát quá trình phát triển của Đất Nước thông qua hình tượng loài cây quen thuộc.

“Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”

Không cần mượn những câu chuyện xa xôi, không cần tìm những hình ảnh lớn lao, tầm vóc như thơ xưa, Nguyễn Khoa Điềm dùng chất liệu dung dị của đời sống nhưng cũng đậm đà chất suy tưởng. Tre bao đời nay gắn với đời sống nông dân Việt Nam. “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” (Thép Mới).

Tre lao động, tre anh hùng, tre của những ký ức tuổi thơ không gì thay thế. Và tre xuất hiện trong huyền thoại Tứ bất tử về người anh hùng Thánh Gióng đánh giặc Ân. Sự liên tưởng này nhà thơ đã khẳng định quá trình lớn lên của Đất Nước chính là quá trình nhân dân ta đấu tranh bảo vệ từng tấc đất mà vũ khí bắt đầu từ cây tre.

Câu chuyện về Đất Nước đâu chỉ dừng lại ở văn hoá dân gian, ở truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, Đất Nước mình còn được viết bằng đời sống sinh hoạt thường ngày, bằng những thói quen hình thành từ lao động.

Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Bới tóc là một nét đẹp trong văn hoá cổ xưa. Ngoài dấu hiệu cho thấy người phụ nữ bới tóc là người đã lập gia đình thì bới tóc sau đầu còn xuất phát từ đặc thù công việc đồng áng và khí hậu nóng nực của ta. Những người phụ nữ để tóc dài, búi lên sau gáy đã trở thành nét đẹp giản dị, tự nhiên không cầu kỳ mà vẫn toát lên vẻ thanh thoát vốn có.

Chính những cái đẹp bình dị không tên lại là nhịp cầu nối hai bờ thương yêu để từ đấy nghĩa tình vợ chồng sâu nặng qua hình ảnh “gừng cay muối mặn”. Cái tài tình của Nguyễn Khoa Điềm là chắt lọc từ thành ngữ dân gian sự tinh túy trong mối quan hệ hôn nhân đó chính là lòng chung thuỷ.

Tay nâng chén muối đĩa gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”

(Ca dao)

Tấm lòng son sắt, thuỷ chung trong tình chồng nghĩa vợ qua gian lao, thử thách, qua những tháng ngày cơ hàn có nhau càng thêm nồng đượm, bền chặt. Và cũng chính từ thái độ sống nghĩa tình ấy đã trở thành động lực để ông bà, cha mẹ ta vượt qua tháng ngày gian khổ, dựng xây hạnh phúc gia đình trên cái túng thiếu, khó khăn. Cũng từ đấy thế hệ con cháu ra đời trong niềm vui giản dị.“Cái kèo cái cột thành tên”. Câu thơ gợi nhớ đến thói quen đặt tên con cháu của ông bà ta ngày xưa.

Chẳng cầu kỳ bóng bẩy, chẳng vay mượn đâu xa, cứ lấy những vật quanh mình, những điều mộc mạc trong đời sống như “cái kèo, cái cột” để gọi tên. Chất bình dân gắn với cuộc đời mỗi con người từ đấy. Nghe tên đã thấy thương làm sao khi sự thiếu thốn vật chất trong đời sống thường ngày không thể khỏa lấp được tình cảm gắn bó máu thịt của nhân dân với từng vật dụng lao động, từng hình ảnh hiện diện xuyên suốt trong đời sống.

Nhắc đến lao động, đến cuộc sống vất vả của người nông dân phải nhắc đến câu lúa và quá trình làm nên hạt gạo. Cây lúa đến với người nông dân Việt Nam như sự đặc ân của đất mẹ dành cho giọt mồ hôi bao đời mặn. Ngày cây lúa đơm bông là ngày giấc mơ cuộc đời ấm no, hạnh phúc đến gần hơn. Nhìn ở góc độ văn hoá, cây lúa là biểu tượng cho người nông dân Việt Nam. Nhà thơ nhắc về hạt gạo để tái hiện tập quán trồng lúa nước của nhân dân ta bao đời nay.

“Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”

Không gian lao động hiện ra trong phép liệt kê “xay, giã, giần, sàng”. Từng công đoạn làm ra hạt gạo từ hạt thóc giống ban đầu đâu phải dễ dàng. Chưa kể đến những ngày “bán mặt cho đất bán lưng cho trời” trên đồng sâu ruộng cạn để cày, cuốc, bừa, trục. Chưa tính những giọt mồ hôi nhỏ xuống để từ một cây mạ non xanh trưởng thành cây lúa chín vàng đồng. Ngay lúc hạt thóc đã thu hoạch về phơi ngoài sân trước muốn trở thành hạt gạo trắng ngần cũng lại là cả một câu chuyện dài. “Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo cơm một hạt đắng cay muôn phần”
(Ca Dao)

Thế nên khi liệt kê quá trình ấy, nhà thơ như cố tạo những khoảng trống và sức nặng trên từng chữ để truyền tải cái sức nặng của cả công đoạn gian lao mà người nông dân phải trải qua. Nặng nhọc với chiếc cối xay trong tay, với chày giã gạo nện đều mỗi đêm và còn nặng lòng khi hạt gạo hôm nay là ước mơ ngày mai tươi sáng.

Thành ngữ “một nắng hai sương” chỉ sự khắc nghiệt trong thời tiết, đặt trước công đoạn làm ra hạt gạo để nhấn mạnh bất cứ thành quả nào cũng phải có cái giá của nó. Niềm vui có trong tay hạt gạo thơm phải đổi lấy bao gian nan, khổ cực. Nhắc đến lao động, nhà thơ còn khéo léo gợi về tình nghĩa của nhân dân hình thành trong nỗi gian truân, cực nhọc. Nhờ sự gắn kết, san sẻ, yêu thương mà công việc dù có khó khăn đến đâu cũng cùng nhau hoàn thành.

Cuối cùng để khẳng định sự ra đời của Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm đã dùng mốc thời gian vô hình để nói cái hữu hình có trong mỗi con người chúng ta.

“Đất Nước có từ ngày đó”. “Ngày đó” là phép thế cho các mốc thời gian đã nói đến phần trước. Ngày mà bắt đầu từ câu chuyện cổ, hiện hữu trong miếng trầu cau, ngày mà mẹ bới tóc sau đầu, cha mẹ thương nhau quả ngọt bùi, cay đắng, cũng là ngày con cháu ra đời bằng cái tên dân dã để tiếp bước ông cha nâng niu hạt lúa vàng. “Ngày đó” dù không xác định rõ mốc thời gian nhưng trong tâm thức con người Việt ai cũng rõ đó là ngày chúng ta biết thương nhau, biết trân trọng cuộc sống và biết vì nhau mà sống.

Câu chuyện lịch sử hình thành một quốc gia, dân tộc đã có các ngành khoa học đảm đương, nhưng câu chuyện về cội nguồn khai sinh mảnh đất quê hương cần ngân vang trong trái tim mỗi con người qua từng câu thơ, tiếng hát. Ở góc độ này, 9 câu thơ đầu trong đoạn trích Đất Nước đã có cái nhìn thú vị về các yếu tố hợp thành Đất Nước.

Cũng ngần ấy câu thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng chất chính luận kết hợp trữ tình đặc sắc để hình tượng Đất Nước mang chiều sâu tư tưởng. Đồng thời sự góp mặt của các chất liệu văn học dân gian đã khiến cho khái niệm trở nên thi vị, gần gũi, mộc mạc như chính đời sống thường nhật của nhân dân lao động.

Đoạn thơ cho chúng ta có cái nhìn tổng quát về nguồn gốc hình thành Đất Nước theo sự chiêm nghiệm mang tính nhân dân của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Để trong chúng ta, thế hệ trẻ hôm nay nhận ra Đất Nước có trong mỗi tâm hồn, hiện hữu trong đời sống văn hoá, phong tục, tập quán của nhân dân. Đất Nước còn là hiện thân của đời sống đấu tranh và lao động. Không chỉ thế, Đất Nước sẽ là tiếng hát đầu tiên ca ngợi lối sống nghĩa tình, đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Phân Tích 9 Câu Đầu Bài Đất Nước Ngắn Gọn – Mẫu 4

Khám phá thêm mẫu bài Phân Tích 9 Câu Đầu Bài Đất Nước Ngắn Gọn dưới đây để năm được các ý chính của bài thơ và làm tư liệu tham khảo để viết văn hay nhất bạn nhé.

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
…Đất Nước có từ ngày đó”.

Đoạn thơ đã nói lên một cách dung dị mà thấm thía về cội nguồn sâu xa của Đất Nước. Giọng điệu thủ thỉ tâm tình, nhà thơ gợi lên một không khí trầm lắng như kể chuyện cổ tích, như dẫn hồn ta ngược thời gian trở về cội nguồn Đất Nước và dân tộc. Bốn chữ “ngày xửa ngày xưa” dùng rất khéo:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa …” mẹ thường hay kể.

Chữ “có” trong “đã có rồi”, “Đất Nước có trong những cái…”. Đã làm cho ý thơ khẳng định, tỏa sáng niềm tin. Tục ăn trầu, truyện cổ tích Trầu – Cau gợi lên hình ảnh Đất Nước xa xưa, “Đất Nước bắt đầu”… Truyền thuyết Thánh Gióng cho biết sự vươn mình của dân tộc, đánh dấu sức mạnh quật khởi “Đất Nước lớn lên”. Câu thơ mở rộng đến 12, 13 chữ, với cách gieo vần lưng (đầu – trầu, ăn – dân) nên vẫn thanh thoát, giàu âm điệu:

“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình trồng tre mà đánh giặc”.

Hai chữ “lớn lên” liên tưởng đến hình ảnh chú bé làng Gióng lên ba vươn vai thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt khi Đất Nước bị giặc Ân xâm lược.

Rồi nhà thơ nói đến phong tục và đạo lí tốt đẹp lâu đời của nhân dân ta. Phong tục “bới tóc” của người Lạc Việt. Câu ca dao nói về đạo vợ chồng. “Tay bưng chén muối đĩa gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên đã nhập hồn vào câu thơ Nguyễn Khoa Điềm:

“Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”.

Chuyện “ngày xửa ngày xưa” nhưng vẫn hiện diện trên “tóc mẹ” trong tình thương của “cha mẹ” bây giờ. “Đất Nước đã có rồi”, “Đất Nước có…”, “Đất Nước bắt đầu”, “Đất Nước lớn lên” và Đất Nước đang hiện diện quanh ta, gần gũi ta.

Tiếp theo, nhà thơ lấy sự hình thành và phát triển ngôn ngữ dân tộc để nói về nguồn gốc lâu đời của Đất Nước. Mỗi vật dụng đều có một cái tẽn riêng: “Cái cột, cái kèo thành tên”. Nhân Dân ta có nghề trồng lúa nước lâu đời. Khi hạt gạo được sáng tạo nên bằng công sức “một nắng hai sương”, thì ngôn từ “xay, giã, giần, sàng” cũng xuất hiện.

Cách nói của Nguyễn Khoa Điềm thật ý vị:

“Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó”.

Lấp lánh trong đoạn thơ là hình ảnh Đất Nước thân yêu. Quá khứ của Đất Nước “ngày xửa ngày xưa” đồng hiện trong “miếng trầu bây giờ bà ăn”. Có Đất Nước anh hùng “biết trồng tre mà đánh giặc”. Có Đất Nước cần cù trong lao động sản xuất: “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”.

Đoạn thơ 9 câu, 85 chữ mà không hề có một từ Hán Việt nào. Ngôn từ bình dị, cách nói biểu cảm thân mật. Hiện diện trong đoạn thơ là: ta, dân mình, bà, cha, mẹ. Có miếng trầu, cây tre, tóc mẹ, … Có “gừng cay muối mặn” cái kèo, cái cột, hạt gạo, v.v…

Thật là thân thuộc và gần gũi, sâu xa và thấm thía, rung động. Tưởng tượng thì phong phủ, liên tưởng thì bao la. Đoạn thơ đã “nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp” để ta yêu thêm Đất Nước và tự hào về Đất Nước.

Cấu trúc đoạn thơ: “tổng – phân – hợp”; mở đầu là câu “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”, khép lại đoạn thơ là câu “Đất Nước có từ ngày đó”. Tính chính luận đã làm sáng đẹp chất trí tuệ kết hợp hài hòa với chất trữ tình đậm đà. Đoạn thơ mang vẻ đẹp độc đáo nói về cội nguồn Đất Nước thân yêu.

Đừng bỏ qua 🔥 Phân Tích Đất Nước Đoạn 1 2 🔥 10 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Đất Nước 9 Câu Đầu Chi Tiết – Mẫu 5

Tham khảo bài văn phân tích đất nước 9 câu đầu chi tiết dưới đây để nắm được nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ.

Văn học kháng chiến 1945-1975 trong mạch chảy ngầm dạt dào mãnh liệt của cuộc sống không chỉ ghi lại được âm vang náo nức của thời đại mà còn khắc tạc tượng đài nghệ thuật Đất nước thật nên thơ cao đẹp. Đó là một Đất nước hoá thân trong một mảnh hồn quê Kinh Bắc đậm đà màu sắc văn hóa dân gian tình tứ dịu dàng mà quằn quại dưới gót giày xâm lược trong thơ Hoàng Cầm.

Một Đất nước tươi đẹp mà đau thương với sức luôn khỏe khoắn “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” sống động hiện hình trong những thơ của Nguyễn Đình Thi. Khi bước vào trang thơ của Nguyễn Khoa Điềm, Đất nước hiện lên một cách trọn vẹn nhất, Đất nước mà chính nhân dân muôn đời đã làm nên, Đất nước của nhân dân. Chín câu thơ đầu tiên của bài thơ Đất nước đã để lại dấu ấn khó phai trong lòng bao thế hệ bạn đọc.

Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mỹ. thơ ông lịch sự kết hợp hài hòa giữa chất trữ tình và chính luận cảm xúc và trí tuệ thăng hoa thành thơ. Đó không chỉ là trái ngọt của một trí tuệ giàu có một tư duy sắc sảo mà đó còn là kết quả của một tấm lòng, một trái tim có sức lay động đến tận sâu tâm hồn bạn đọc.

Chín câu thơ đầu trong trích đoạn Đất nước đã tô đậm dấu vân tay trong cá tính sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Khoa Điềm qua nghệ thuật chất lọc tinh tế văn hóa và văn học dân gian:

Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất nước có từ ngày đó…”

Trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm Đất nước đã có từ rất lâu đời từ thuở xa xưa có trong những câu chuyện cổ tích mẹ thường hay kể Đất nước bắt đầu cùng với sự ra đời của những phong tục tốt đẹp của nhân dân ta trong suốt mấy ngàn năm qua.

Đất nước lớn lên từ những ngày đầu rất mình biết trồng tre đánh giặc, biết giữ nước như cậu bé làng Gióng của nào. hàng loạt các hình ảnh đậm sắc màu văn học dân gian kết hợp với các động từ xuất hiện tăng tiến đem đến cảm nhận Đất nước như một sinh thể từ quá trình hoài thai trưởng thành lớn lên từ trong tình người ấm áp và từ những gian khổ mất mát hy sinh.

Trong trang thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, khởi nguồn của Đất nước không phải là những trang sử hào hùng những chiến tích của thuở hồng hoang vĩ đại mà là những huyền thoại, những truyền thuyết, những phong tục tập quán riêng biệt đã có từ ngàn đời. Đây chính là điểm mới trong cách tìm về nguồn cội Đất nước của nhà thơ.

Một đoạn thơ ngắn nhưng gọi dậy biết bao nét đẹp văn hóa văn học dân gian quen thuộc. đó là tục ăn trầu mời trầu trong giao tiếp nét đẹp trong văn hóa ứng xử:

Trầu này trầu tính trầu tình
Trầu loan trầu phượng trầu mình lấy ta”

Hay:

Gặp nhau ăn một miếng trầu
Không ăn cầm lấy cho nhau vừa lòng”

Đó còn là tập tục búi tóc sau gáy quen thuộc của những người phụ nữ Việt Nam xưa

Tóc mẹ thì bới sau đầu”

“Tóc ngang lưng vừa chừng em bới
Để khi dài bối rối lòng anh”

Không chỉ thế, một nét văn hóa xưa – đặt tên con bằng các vật dụng thông thường trong cuộc sống hàng ngày – cũng như sống lại trong từng câu thơ “Cái kèo cái cột thành tên”. Đó còn là kho truyện cổ tích của người Việt mà mỗi khi 4 tiếng ngày xửa ngày xưa cất lên ai cũng nhớ về một thế giới cổ tích truyền thuyết về sống dậy trong tâm trí.

Ấy là truyện cổ tích trầu cau thấm đượm tình nghĩa anh em keo sơn gắn bó, tình vợ chồng đằm thắm thủy chung, ấy là truyền thuyết Thánh Gióng đánh giặc ngoại xâm như một khúc anh hùng ca tráng lệ để tự hào biểu tượng cho sức mạnh thần kỳ về truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Việt Nam ta từ buổi bình minh dựng nước và giữ nước.

Đất nước có được làm nên từ nghĩa tình sắt son chung thủy “cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Muối, gừng là một cặp biểu tượng luôn gắn liền với nhau, cùng nhau đi về trong biết bao câu ca dao tình nghĩa, là minh chứng cho tình yêu vững bền:

Tay bưng chén muối đĩa gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng vẫn còn cay

Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau thì ba vạn sáu ngàn ngày mới xa”

Hơi thơ trải dài trầm lắng ngân nga như tiếng lòng Đất nước dội về từ mấy ngàn năm trước, gọi dậy quá trình sinh thành tồn tại và phát triển của Đất nước với bao thử thách gian lao

“Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng”

Những động từ đặc tả và phép liệt kê như đã khắc họa được nỗi vất vả của những người nông dân chân lấm tay bùn nuôi dưỡng Đất nước quê hương em ngày một đẹp tươi. Chỉ một hạt gạo nhỏ thôi vậy mà để làm ra được nó là mồ hôi nước mắt, là bao mất mát hy sinh phải đánh đổi.

Nguyễn Khoa Điềm đã vận dụng sáng tạo những chất liệu dân gian quen thuộc. Nhà thơ không trích dẫn lại nguyên văn những câu ca dao những truyện cổ tích,…mà chỉ gợi nhắc những hình ảnh những nét đẹp cổ truyền đã từng tồn tại trong văn hóa của người Việt. điều đó đã khẳng định trong tư tưởng của Nguyễn Khoa Điềm Đất nước chính là một tay nhân dân làm nên, gợi dậy trong tâm thức của bạn đọc cả một bề dài và chiều sâu văn hóa nhìn đời của dân tộc với những vẻ đẹp đặc trưng rất đáng tự hào.

Quả thật Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm giống như một tùy bút thơ với cảm xúc sâu lắng và nồng nàn, tư duy sắc sảo trong những triết lý mềm mại ngọt ngào yêu thương tình nghĩa vốn văn hóa và tình yêu tha thiết đối với Đất nước trải qua theo thời gian trong chiều rộng của không gian và chiều sâu văn hóa dân tộc. Ở đó tư tưởng Đất nước của nhân dân là nốt nhạc chủ đạo ngân vang từ những câu thơ đầu và xuyên suốt bản đàn, để hát mãi về một tình yêu:

Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ô Tổ quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”

(Chế Lan Viên).

Khám phá thêm 💕 Phân Tích Bài Thơ Đồng Chí Chính Hữu 💕 10 Bài Hay Nhất

Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước Nâng Cao – Mẫu 6

Mẫu bài văn Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước Nâng Cao dành cho những bạn thi học sinh giỏi có thể tham khảo.

Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm là những trang thơ đậm chất suy luận. Nhưng lại thấm đẫm, nồng nàn trong cảm xúc. Bởi thế mà dẫu viết về một đề tài đã cũ, đã quen. Nhưng cách khai thác chất liệu mới mẻ, sáng tạo đã giúp nhà thơ tạo được dấu ấn riêng trong lòng người đọc.

Đặc biệt, 9 câu thơ mở đầu Đất Nước, trong mạch cảm xúc trăn trở, tìm về cội nguồn lịch sử của dân tộc, đã thể hiện rất rõ điều đó.

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể”

Đất Nước đã lớn lên, và được hình thành dựng xây từ khi ta còn chập chững những tiếng khóc đầu tiên. Từ trong mạch nguồn văn hóa thẳm sâu, mà trước hết ở đây, nó hiện diện trong lời kể của mẹ. Mẹ kể cho ta nghe về những câu chuyện cổ tích thuở xưa, và nhuần thấm trong những câu chuyện dân gian bay bổng.

Đất Nước đã gắn liền với mỗi người từ thuở ấu thơ, từ những gì thân thương bình dị nhất. Chính vì thế mà đất nước hiện lên không phải là hình ảnh quá đỗi lớn lao, vĩ đại của non kỳ thủy tú, giang sơn gấm vóc tươi đẹp trong thơ ca trước đó ta từng thấy. Mà nó đẹp trong nét mộc mạc, gần gũi, giản dị của chính nó.

“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên”

Hình ảnh miếng trầu có lẽ đã trở nên rất đỗi quen thuộc trong các bài ca dao, dân ca. Trong cả những câu hát giao duyên của tình yêu đôi lứa: trầu này trầu tính trầu tình, ăn vào cho đỏ môi mình môi ta.

Mượn chất liệu dân gian gắn liền vẻ đẹp của phong tục văn hóa để trả lời cho câu hỏi về mạch nguồn lịch sử đất nước. Đã giúp cho câu văn của Nguyễn Khoa Điềm không triết lý khô khan, mà nhuần thấm những phong vị xưa, mềm mại, bay bổng.

Rồi cả sự tích Thánh Gióng đánh giặc cũng được liệt kê một cách khéo léo vào mạch thơ. Từ đó làm nên sự hài hòa của các chất liệu dân gian. Không chỉ đi tìm câu trả lời cho câu hỏi về sự hình thành đất nước, nhà thơ còn gián tiếp qua đó gợi hình ảnh tần tảo của người dân lao động cần lao, đồng thời khắc họa nét đẹp tâm hồn của con người dân tộc.

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó…

Bằng cách sử dụng sáng tạo các chất liệu dân gian, 9 khổ thơ đầu đã giúp Nguyễn Khoa Điềm không chỉ trả lời cho câu hỏi về cội nguồn, lịch sử hình thành Đất Nước. Mà còn như gợi lại trong thẳm sâu tâm hồn người đọc những vẻ đẹp văn hóa phong tục đã được đắp bồi dưỡng nuôi trong hàng ngàn thế hệ.

Gửi đến bạn 🍃 Sơ Đồ Tư Duy Đồng Chí Chính Hữu 🍃 14 Mẫu Vẽ Tóm Tắt

Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước Học Sinh Giỏi – Mẫu 7

Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước Học Sinh Giỏi sau đây sẽ giúp bạn thấy rõ được Đất Nước của truyền thống, của phong tục tươi đẹp mang đậm dấu ấn của tư tưởng Đất Nước của con người của nhân dân.

Mở đầu trong đoạn trích, tác giả đã muốn khẳng định “khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”. Chẳng biết là đất nước hình thành và có từ bao giờ, chỉ biết là khi ta lớn lên thì đất nước đã có ở đây rồi. Đó chính là lời khẳng định chắc chắn về sự trường tồn của đất nước.

Sau khẳng định chắc nịch  về sự tồn tại của đất nước, tác giả dần dần vén màn cho ta thấy rõ hơn về nguồn gốc của đất nước:

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa …” mẹ thương hay kể.
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Dòng thơ “ngày xửa ngày xưa” là mở đầu cho từng một câu chuyện cổ tích mà các bà, các mẹ hay kể chuyện cho các con cháu nghe. Cũng  chẳng biết từ khi nào, chỉ biết là từ “ngày xửa ngày xưa” hình thành đất nước đã có rồi. Những câu chuyện cổ tích truyền thuyết ra đời là từ đất nước.

Hình ảnh của “miếng trầu” cũng như là hình ảnh của sự khởi đầu. Đất Nước đã có từ khi dân mình có tục ăn trầu và tục ăn trầu của nhân dân cũng là khởi đầu cho một đất nước, khởi đầu cho một nền văn hiến.

Bắt đầu  của một sự sống và những bước trưởng thành của sự sống đó. Sau sự bắt đầu của một Đất Nước chính là sự trưởng thành của cả một dân tộc:

Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Cây tre cũng là hình ảnh biểu tượng của người nông dân Việt Nam, hiền lành và chất phác nhưng cũng rất kiên cường bất khuất. Từ hình những ảnh thực tế, cho đến đời sống tinh thần, đó là từng bước đi lên  trưởng thành của một dân tộc, của một đất nước con người.

Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Gạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đầu tiên đó chính  là vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Việt Nam. Vẻ đẹp của một người bà, người mẹ, người chị, của một người con gái mộc mạc Việt Nam. Rồi đến câu thơ “Cái kèo cái cột thành tên”, gợi nhắc cho người đọc nhớ đến tục làm nhà cổ của người Việt ngày xưa .

Và sau tất cả, tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã chốt lại “Đất Nước có từ ngày đó…”. “Ngày đó” là ngày nào, chúng ta không hề biết, tác giả cũng không thể biết. Chỉ biết rằng ngày đó chính là ngày ta bắt đầu có truyền thống, có những phong tục tập quán, có  nhiều văn hoá. Đó là ngày ta có Đất nước của dân tộc Việt Nam.

Bằng việc vận dụng khéo léo và mềm mại các chất liệu văn hóa dân gian như phong tục ăn trầu, tục búi lệ tóc, truyền thống đánh giặc ngoại xâm, truyền thống làm nông nghiệp và  ác câu ca dao, tục ngữ cùng các thành ngữ… Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, lời thơ nhẹ nhàng đúng giọng thủ thỉ tâm tình nhưng vẫn mang đậm hồn thơ triết lí thơ ca.

Điệp ngữ Đất Nước được nhắc lại rất nhiều lần cũng như việc nhà thơ luôn luôn viết hoa hai từ Đất Nước tạo nên sự thành kính vô cùng  thiêng liêng… Tất cả đã làm nên một đoạn thơ đậm đà không gian văn hóa người Việt. Qua đoạn thơ trên nhà thơ đã mang đến cho người đọc vẻ đẹp của một Đất Nước giàu văn hóa cổ truyền. Đất Nước của truyền thống, của phong tục tươi đẹp mang đậm dấu ấn của tư tưởng Đất Nước của con người của nhân dân.

Chia sẻ 🌼 Cảm Nhận Về Bài Thơ Đồng Chí 🌼 Top Những Bài Hay Nhất

Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước Thầy Hiếu – Mẫu 8

Bài văn mẫu phân tích 9 câu đầu đất nước thầy Hiếu dưới đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh.

Đầu năm 1971, đang công tác trong thành ủy Huế, Nguyễn Khoa Điềm được mời tham gia trại sáng tác tổ chức ở đất bạn Lào. Nhà thơ rất thích nhạc giao hưởng ấy tâm sự: Tôi nghĩ tôi sẽ viết một bản giao hưởng bằng ngôn ngữ. Và trường ca Mặt đường khát vọng đã ra đời. Trường ca gồm chín chương.

Đoạn thơ Đất Nước trích từ phần đầu của chương V có tên là Đất Nước. Trong thơ kháng chiến chống Mỹ đất nước là chủ đề bao trùm. Các thế hệ trước nhiều người viết rất hay về đề tài đất nước, cho nên Nguyễn Khoa Điềm tìm cách thể hiện mới, chọn chất liệu từ đời sống dân gian để thấy rằng đất nước là ý niệm thiêng liêng, nhưng cũng thật gần gũi và giản dị.

Đất nước có từ đâu? Đất nước là gì? “Đất nước”, hai chữ thiêng liêng cao cả ấy chẳng phải ở đâu xa mà ở ngay trong mỗi gia đình chúng ta: từ lời kể chuyện của mẹ, miếng trầu của bà, đến phong tục tập quán quen thuộc, tình nghĩa thuỷ chung của cha mẹ, hạt gạo, hòn than, cái kèo, cái cột trong nhà:

Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”

Bằng giọng tâm tình, dịu ngọt như lời kể truyện cổ tích, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những cảm nhận, suy tưởng của mình về cội nguồn đất nước. Lịch sử sâu thẳm của đất nước ta được tác giả cắt nghĩa không phải bằng sự nối tiếp của các vương triều hay các sự kiện lịch sử trọng đại như Nguyễn Trãi đã từng viết trong “Bình Ngô Đại Cáo”:

“Như nước Đại Việt ta từ thuở trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc – Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương”

Mà bằng những hình ảnh gần gũi, thân quen, bằng những câu thơ gợi nhớ đến truyền thuyết xa xưa, đến nền văn minh lúa nước sông Hồng, cùng những phong tục tập quán độc đáo có từ lâu đời. Đó cũng chính là đất nước được cảm nhận trong chiều sâu tâm hồn nhân dân, văn hoá và lịch sử:

“Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”

Hình ảnh thơ phải chăng đã gợi cho ta về sự tích “Trầu cau” từ đời vua Hùng dựng nước xa xưa, ngợi ca tình nghĩa vợ chồng, anh em đằm thắm, sắt son; về truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh đuổi giặc Ân, trở thành bài ca giữ nước hào hùng của nhân dân đã trở thành lịch sử đất nước:

“Ta như thuở xưa thần Phù Đổng
Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân
Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt
Chí căm thù ta rèn thép làm roi
Lửa chiến đấu ta phun vào mặt
Lũ sát nhân cướp nước hại nòi”

(Tố Hữu)

Nghĩa là, lịch sử lâu đời của đất nước được kết tinh trong từng câu chuyện kể, trong miếng trầu bà ăn thường ngày, trong “cây tre đánh giặc” thân quen quanh ta.

Bằng thể loại trữ tình chính luận, Nguyễn Khoa Điềm đã đưa ra một cách cảm nhận, một định nghĩa về đất nước để từ đó rút ra một quan niệm về đất nước. Bao trùm là tư tưởng, quan niệm:

Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại

Trước hết, tác giả cảm nhận đất nước qua những hình ảnh bình dị, cụ thể, gần gũi:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái ngày xửa, ngày xưa… mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phủi một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó

Từ những hình ảnh bình dị, cụ thể: miếng trầu bà ăn, mảnh đất trồng tre đánh giặc, cái kèo, cái cột, ngôi nhà ta ở, hạt gạo một nắng hai sương ta ăn…, tác giả muốn nói rằng đất nước không ở đâu xa mà rất gần gũi, thân thiết, gắn bó trong đời sống của mỗi gia đình hàng ngày và từ bao đời nay.

Và mỗi đứa trẻ lớn lên trong không gian cụ thể ấy sẽ được bà, cha mẹ truyền cho ý niệm về đất nước thông qua những câu chuyện huyền thoại cổ tích, dần dần khái niệm về đất nước sẽ hình thành trong tâm hồn mỗi con người, đến khi lớn lên đứa bé sẽ nhận thức được đất nước. Những hình ảnh này còn gợi liên tưởng, mở ra đời sống của dân tộc, theo chiều dài thời gian qua hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước.

Trong quá trình lịch sử hình thành và lớn lên đất nước đã được nhân dân xây dựng nền văn minh nông nghiệp lúa nước với phong tục tập quán riêng: ăn trầu, bới tóc. và hình thành tâm hồn tính cách riêng: thủy chung trong tình yêu, cần cù trong lao động. Nhân dân cũng xây dựng truyền thống yêu nước anh hùng chống giặc ngoại xâm: trồng tre đánh giặc. Đất nước được nhân dân xây dựng sáng tạo từ buổi đầu, lại gắn bó với đời sống vật chất và trong tâm thức của nhân dân từ xa xưa đến nay, nên đất nước này là của nhân dân.

Đoạn thơ Đất Nước có giọng điệu tâm tình, sự liên tưởng phóng túng nhưng tập trung thể hiện cách cảm nhận về đất nước của tác giả theo chiều bình diện rất rõ ràng. Thành công nghệ thuật của đoạn thơ là Nguyễn Khoa Điềm đã tạo ra một không gian nghệ thuật riêng đưa ta vào thế giới gần gũi, mĩ lệ, giàu sức bay bổng của ca dao truyền thuyết, văn hóa dân gian. Đây là điểm đặc sắc của hình thức nghệ thuật thống nhất với nội dung tư tưởng.

Giới thiệu tuyển tập 🌹 Nghị Luận Về Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ 🌹 5 Mẫu Hay Nhất

Văn 12 Phân Tích 9 Câu Đầu Bài Đất Nước Thầy Nhật – Mẫu 9

Tài liệu văn 12 phân tích 9 câu đầu bài đất nước thầy Nhật sẽ là nguồn tham khảo hữu ích cho các em học sinh trong quá trình làm bài. Tham khảo bài văn mẫu phân tích 9 câu đầu đất nước thầy Nhật dưới đây:

Đất nước là một trong những đề tài gắn với sự thành công của nhiều cây bút trong các thời kì, nhất là thời kì kháng chiến. Ta không sao quên được hình ảnh đất nước hóa thân vào “mảnh hồn quê Kinh Bắc”, đất nước bị dày xéo dưới chân của bọn giặc ngoại xâm trong thơ của Hoàng Cầm hay hình ảnh một đất nước nhỏ bé, đau thương mà anh hùng, bất khuất “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” trong thơ của Nguyễn Đình Thi.

Đến với Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, ta lại có khám phá mới về đất nước của ca dao, thần thoại. Đoạn trích Đất nước nằm trong chương 5 của bản trường ca Mặt đường khát vọng. Với hình tượng trung tâm là đất nước, Nguyễn Khoa Điềm đã cho độc giả thấy được tư tưởng mới mẻ của mình trong hành trình lí giải về cội nguồn đất nước mà đặc biệt là trong chín câu thơ đầu bài:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nới lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó…

Đất nước là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ca, hình tượng đất nước luôn có một vị trí đặc biệt, là hình tượng cao quý, đẹp đẽ nhất trong thơ văn. Macxen Prust: “Một cuộc thám hiểm không phải ở chỗ cần một vùng đất mới mà ở chỗ cần một đôi mắt mới”. Bới thế mà với mỗi một điểm nhìn khác nhau thì đất nước lại có một vẻ đẹp, hình dáng khác, đất nước hiện lên với muôn hình vạn trạng trong con mắt nhà thơ. Nếu như các nhà thơ cùng thời chọn điểm nhìn cảm hứng về đất nước từ lịch sử thông qua các triều đại như:

Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng

Hay những hình ảnh vô cùng mỹ lệ, đẹp đẽ:

Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi
Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt
Nắng sông Lô hò ô tiếng hát
Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca

Thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn cho mình một điểm nhìn vô cùng mới mẻ, bình dị, thân quen mà qua đó đất nước hiện lên không kém phần tươi đẹp.

Với cấu trúc tổng-phân-hợp mang đậm phong cách chính luận, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những suy tư cùng những cảm xúc mãnh liệt về đất nước và trách nhiệm của mỗi người đối với quê hương, tổ quốc.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm đưa ta vào câu chuyện về sự hình thành của Đất nước mà theo đó Đất nước có từ những gì quen thuộc, gần gũi nhất.

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Câu thơ mở đầu tự nhiên như một lời kể, nhà thơ mượn kí ức tuổi thơ để hình dung ra sự tồn tại của Đất nước trong nhận thức, tình cảm con người. Theo đó, “Đất Nước đã có từ rất lâu, từ khi mà “ta” cất tiếng khóc chào đời, lớn lên thì đất nước đã có và tồn tại cùng với “ta”.

“Ta” ở đây phải chăng là anh, là chị, là những người còn sống hay đã chết, là ta của quá khứ hay của tương lai, là cái chung của dân tộc. Năm chữ “Đất Nước đã có rồi” vang lên đầy tự hào, nó giống như một lời khẳng định về sự trường tồn của đất nước qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân ta đã được Nguyễn Trãi nhắc đến:

Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

Đến hai câu tiếp theo, Nguyễn Khoa Điềm diễn tả cụ thể sự hình thành của Đất nước:

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Truy tìm về cội nguồn của đất nước, khó có ai có thể xác định rõ ràng, minh bạch về sự khởi thuỷ của hình tượng này. Với Nguyễn Khoa Điềm thì Đất nước được hình thành từ những nét sống giản dị nhất của người mẹ, người bà. Sau trạng từ chỉ thời gian”ngày xửa ngày xưa”, người đọc đã hình dung ra biết bao kỉ niệm về tuổi thơ với những nhân vật như ông bụt, bà tiên, cô Tấm, Thánh Gióng…

Từ những câu chuyện đó hình ảnh Đất nước hiện lên thật đẹp đẽ, thơ mộng. Hình ảnh “miếng trầu bà ăn” gợi cho người đọc về truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Hình ảnh “miếng trầu” gắn liền với nét đẹp của những người phụ nữ Việt xưa. Từ nét đẹp đó, Nguyễn Khoa Điềm đã lý giải về sự “bắt đầu” của Đất nước. Trong cúng lễ, “miếng trầu quả cau” biểu tượng cho tấm lòng thành của con cháu gửi đến những bậc cha ông. “Miếng trầu” còn là biểu tượng của phẩm chất thuỷ chung trong cốt cách con người Việt Nam xưa và nay.

Bên cạnh đó, hình ảnh “miếng trầu”còn gợi lên một huyền sử tình yêu”miếng trầu nên dâu nhà người”. Từ “lớn lên” chỉ sự trưởng thành của đất nước qua quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Với Nguyễn Khoa Điềm hay bất kì nhà thơ nào, đất nước không hề vô tri vô giác mà đất nước có dáng, có hồn, đẹp ngất ngây trong con mắt nghệ thuật.

Hình ảnh “trồng tre mà đánh giặc” gợi cho ta về truyền thuyết một cậu bé mới ba tuổi đã biết cất tiếng nói trách nhiệm với quê hương, tổ quốc đó là Thánh Gióng, một biểu tượng cho cốt cách con người Việt, kiên cường, mạnh mẽ trong đấu tranh chống lại cái ác. Hình tượng đó đã được Tố Hữu đưa vào thơ của mình:

Ta thuở xưa như thần Phù Đổng
Vụt đứng lên đánh đuổi giặc Ân
Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt
Chí căm thù ta rèn thép thành roi
Lửa chiến đấu ta phun vào mặt
Lũ sát nhân cướp nước hại nòi.

Hình ảnh cây tre đại diện cho cốt cách ngay thẳng, bất khuất của con người Việt Nam:

Tre xanh xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi.

Nguyễn Khoa Điềm đã đem hình tượng cây tre và Thánh Gióng song hành với nhau. Đó là sự đồng hiện trong cốt cách, phẩm chất của con người Việt Nam như thật thà, chất phát, đôn hậu thuỷ chung, yêu hoà bình nhưng lại vô cùng kiên cường trong chiến đấu.

Đến bốn câu thơ tiếp theo, Nguyễn Khoa Điềm ca ngợi những truyền thống, vẻ đẹp thuần phong mỹ tục của con người Việt:

Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn.

Có phải chăng hình tượng người mẹ-người phụ nữ với búi tóc sau đầu đã làm sáng tỏ sự kín đáo, nhẹ nhàng mà chân chất trong cách ăn mặc của con người Việt Nam. Nét đẹp của người phụ nữ ấy khiến ta liên tưởng đến câu thơ:

Tóc ngang lưng vừa chừng em búi
Để chi dài bối rối lòng anh

Vẻ đẹp của con người Việt còn ở phẩm chất thuỷ chung trong cốt cách của mình. Thành ngữ “gừng cay muối mặn” được vận dụng vô cùng độc đáo, nhẹ nhàng mà thấm đẫm câu thơ.

Gừng thì tất nhiên phải cay, muối tất nhiên phải mặn, đó là nguyên lý của tạo hoá cũng như tình cảm của những người vợ chồng luôn đong đầy và không lay chuyển. Nó gợi lên ân tình thuỷ chung giữa người với người:“Gừng càng già càng cay, muối càng lâu càng mặn.” con người ở với nhau càng lâu thì tình cảm càng đong đầy. Ý câu thơ được lấy ra từ câu ca dao:

Tay bưng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

“Cái kèo, cái cột thành tên” gợi cho ta nhớ đến tục làm nhà cổ của người Việt xưa. Ngôi nhà là nơi mọi người trong gia đình đoàn tụ, mang đến sự ấm áp, hạnh phúc.. Có lẽ bởi vậy mà tục đặt tên con là “kèo”, là “cột” ra đời, vừa giản dị lại gần gũi và tránh được sự dòm ngó của ma quỷ theo quan niệm xưa.

Không những vậy, con người Việt Nam còn mang trong mình phẩm chất cần cù, chăm chỉ. Thành ngữ “một nắng hai sương” chỉ sự chịu thương chịu khó của ông cha ta trong lao động. Các động từ “xay”, “giã”, “dần”, “sàng” là các công đoạn làm ra hạt gạo. Qua đó, Nguyễn Khoa Điềm muốn nhắc người đọc cần phải biết trân trọng những hạt cơm ta ăn hằng ngày vì đó là vào mồ hôi công sức của những người nông dân:

Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

Câu thơ cuối cùng là một lời khẳng định của Nguyễn Khoa Điềm về cội nguồn của Đất nước:

Đất Nước có từ ngày đó…

“Ngày đó” là cái ngày mà ta có truyền thống, có văn hoá. Vậy nên, muốn yêu nước thì trước hết ta phải yêu văn hoá, truyền thống của dân tộc mình. Thật đáng trân quý, nâng niu biết bao lời thơ dung dị, nhẹ nhàng mà chân thành, đằm thắm của Nguyễn Khoa Điềm.

Thành công của đoạn thơ trên là nhờ vào việc vận dụng đặc sắc, khéo léo các thi liệu dân gian, những phong tục, truyền thống, thành ngữ, điệp từ và cách viết hoa chữ Đất nước thể hiện sự thành kính, thiêng liêng. Tất cả đã làm nên một đoạn thơ đậm chất văn hoá người Việt và sự thành kính đối với đất nước. Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, lời thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ tâm tình nhưng vẫn mang đậm hồn thơ triết lí.

Đoạn trích trên đã thể hiện những suy tư cùng những cảm xúc mãnh liệt của tác giả về quê hương, đất nước. Qua đó, Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tổ quốc. Pautopxki từng nói: “Niềm vui của nhà thơ chân chính là niềm vui của người mở đường đến với cái đẹp.”

Và phải chăng Nguyễn Khoa Điềm đã tìm thấy riêng con đường của mình khi tiến đến đất nước, để rồi Đất nước hiện ra thật bình dị, gần gũi và đẹp đẽ biết bao. Đọc đoạn trích Đất nước ta được khám phá một vẻ đẹp mới của đất nước mà qua đó ta nâng cao thêm tinh thần yêu đất nước, yêu tổ quốc và trách nhiệm của ta bây giờ không chỉ là học tập mà còn là gìn giữ truyền thống, gìn giữ đất nước, góp phần làm cho đất nước giàu đẹp hơn.

Có thể bạn sẽ thích 🌼 Sơ Đồ Tư Duy Mùa Xuân Nho Nhỏ 🌼 12 Mẫu Vẽ Tóm Tắt Hay

Phân Tích 9 Câu Đầu Đất Nước Facebook – Mẫu 10

Các em học sinh đang tìm kiếm cho mình tài liệu văn phân tích 9 câu đầu đất nước facebook hay và đặc sắc? Tham khảo bài văn mẫu phân tích 9 câu đầu bài đất nước facebook được chia sẻ dưới đây:

Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ông từng là Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin nay đã nghỉ hưu. Các tác phẩm tiêu biểu: Đất ngoại ô, Trường ca Mặt đường khát vọng.

Đất nước là bài thơ được trích từ chương V trường ca “Mặt đường khát vọng” được hoàn thành ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1971, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ miền Nam xuống đường tranh đấu hòa hợp với cuộc kháng chiến của dân tộc. Đoạn thơ ta sắp phân tích sau đây là đoạn thơ để lại dấu ấn về Đất Nước thân thương, bình dị trong trái tim mỗi con người:

Khác với các nhà thơ cùng thế hệ – thường tạo một khoảng cách khá xa để chiêm ngưỡng và ngợi ca đất nước, với các từ ngữ, hình ảnh kì vĩ, mĩ lệ, có tính chất biểu tượng. Nguyễn Khoa Điềm đã chọn điểm nhìn gần gũi để miêu tả một đất nước tự nhiên, bình dị mà không kém phần thiêng liêng, tươi đẹp. Hình ảnh đất nước trong đoạn thơ đầu hiện lên muôn màu muôn vẻ, sinh động lạ thường, lắng đọng trong tâm tưởng ta qua những nét đẹp về phong tục, tập quán, văn hóa, truyền thống mang đậm dấu ấn con người Việt.

Với Nguyễn Khoa Điềm, đất nước ở ngay trong cuộc sống của mỗi gia đình chúng ta, từ lời kể chuyện của người mẹ, miếng trầu của bà, các phong tục tập quán quen thuộc (tóc mẹ thì bới sau đầu) cho đến tình nghĩa thuỷ chung của cha mẹ, hạt gạo ta ăn hàng ngày, cái kèo cái cột trong nhà… Tất cả những điều đó làm cho Đất nước trở thành cái gần gũi, thân thiết, bình dị trong cuộc sống hàng ngày của con người.

Câu thơ mở đầu được nhà thơ viết theo thể câu khẳng định: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”. Theo cách giải thích của Nguyễn Khoa Điềm thì “Đất nước là một giá trị lâu bền, vĩnh hằng; đất nước được tạo dựng, được bồi đắp qua nhiều thế hệ, được truyền nối từ đời này sang đời khác. Cho nên “khi ta lớn lên đất nước đã có rồi!” (Nguyễn Khoa Điềm – Tác giả và Tác phẩm).

Cách nói “Đất Nước đã có rồi” đã thể hiện niềm tự hào mãnh liệt về sự trường tồn của đất nước qua mấy ngàn năm lịch sử. Đất Nước cũng như Trời và Đất, khi ta sinh ra Đất đã ở dưới chân, Trời đã ở trên đầu. Cũng như vậy, không biết Đất Nước có tự bao giờ nhưng khi ta lớn lên ta đã thấy Đất Nước của mình rồi, nó hiện diện quanh ta với những gì yêu thương nhất.

Hai câu thơ tiếp theo nhà thơ diễn tả vẻ đẹp của Đất Nước trong chiều sâu văn hóa, phong tục. Những từ ngữ như Đất Nước “có trong”, Đất Nước “bắt đầu” là những từ ngữ diễn tả rất nhẹ nhàng về sự ra đời của Đất Nước:

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể.
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Tác giả mượn chất liệu văn học dân gian để diễn tả về Đất Nước. Đối với trẻ thơ, Đất Nước thân thương qua lời kể “Ngày xửa ngày xưa” của bà của mẹ… Có nghĩa là Đất Nước đã có từ lâu đời; Đất Nước có từ trước khi những câu truyện cổ ra đời rồi khi những câu truyện cổ có mặt trong đời sống tinh thần của ta, ta lại thấy Đất Nước hiện diện trong truyện cổ.

Đó là Đất Nước của một nền văn học dân gian đặc sắc với những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết. Chính những câu chuyện cổ và những bài hát ru thuở ta còn nằm nôi là nguồn sữa ngọt lành chăm bẵm cho ta cái chân thiện mĩ để lớn lên ta biết yêu thương đất nước con người. Về ý nghĩa của truyện cổ với đời sống tinh thần con người, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã xúc động mà viết nên:

Tôi yêu truyện cổ nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
Thương người rồi mới thương ta
Yêu nhau dù mấy cách xa cũng gần

(Truyện cổ nước mình)

Không chỉ “có trong những cái ngày xửa ngày xưa”, Nguyễn Khoa Điềm còn xác định cái buổi ban đầu ấy qua một nếp sống giản dị nhưng đậm đà của những người mẹ, người bà Việt Nam. Đó là phong tục ăn trầu: “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”. Đất Nước lớn lao, kỳ vĩ sao lại chứa đựng trong một miếng trầu bé nhỏ?

Hình thức câu thơ chứa đựng sự phi lí nhưng lại hoàn toàn hợp lí bởi tất cả những điều lớn lao đều bắt nguồn từ những điều bé nhỏ. Ví không có những dòng suối nhỏ sao trở thành dòng sông, ví như không có những dòng sông sao có thể trở thành biển cả. Cho nên nhắc đến “miếng trầu” chắc hẳn là nhắc đến một điều sâu thẳm.

Câu thơ gợi nhớ về câu truyện cổ tích “Sự tích trầu cau” được xem là xưa nhất trong những câu truyện cổ. Tục ăn trầu cũng từ câu truyện này mà nên. Như vậy là thẩm thấu vào trong miếng trầu dung dị ấy là 4000 năm phong tục, 4000 năm dân ta gìn giữ phong tục ăn trầu. Miếng trầu là biểu tượng của tình yêu, vật chứng cho lứa đôi cũng là biểu tượng tâm linh của người Việt. Từ phong tục ăn trầu, tục nhuộm răng đen cũng ra đời. Hoàng Cầm trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” cũng đã từng nhắc đến nét đặc trưng ấy:

Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng

Một Đất Nước không thể thiếu truyền thống mà một trong những truyền thống quý báu của dân tộc ta là truyền thống đánh giặc giữ nước: “Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”.

Nhà thơ lại liên tưởng song hành về sự lớn mạnh của đất nước qua ý thơ “Đất Nước lớn lên…”. Chữ “lớn lên” là để chỉ sự trưởng thành của Đất Nước. Câu thơ gợi nhắc cho ta nhớ đến truyền thuyết Thánh Gióng, mới lên ba đã biết xông pha trận mạc. Đứa bé ấy đã vươn vai trở thành chàng trai Phù Đổng Thiên Vương nhổ tre làng Ngà đánh giặc. Từ đó, Thánh Gióng trở thành biểu tượng khỏe khoắn của tuổi trẻ Việt Nam kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Tố Hữu cũng đã có thơ:

Ta như thuở xưa thần Phù Đổng
Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân
Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt
Chí căm thù ta rèn thép thành roi
Lửa chiến đấu ta phun vào mặt
Lũ sát nhân cướp nước hại nòi

(Tố Hữu)

Truyền thống vẻ vang ấy đã theo suốt chặng đường dài của lịch sử dân tộc mãi đến hôm nay trong thời đại chống Mỹ bao tấm gương tuổi trẻ đã anh dũng chiến đấu bảo vệ giống nòi. Phải chăng, đó chính là vẻ đẹp của các chị, các anh đã tạc vào lịch sử Việt Nam dáng đứng kiêu hùng bất khuất: Võ Thị Sáu, Trần Văn Ơn, Nguyễn Văn Trỗi…

Vẻ đẹp ấy song hành với hình ảnh cây tre Việt Nam. Cây tre hiền hậu trên mỗi làng quê. Nó như là sự đồng hiện những phẩm chất trong cốt cách con người Việt Nam: thật thà chất phác, đôn hậu thuỷ chung, yêu chuộng hoà bình nhưng cũng kiên cường bất khuất trong tranh đấu. Tre đứng thẳng hiên ngang bất khuất cùng chia lửa với dân tộc “Một cây chông cũng tiến công giặc Mỹ”, bởi:

Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường”.

Từ truyền thống đánh giặc ngoại xâm Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục khai thác thêm nhiều yếu tố mang vẻ đẹp thuần phong mỹ tục của con người Việt:

Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đó là vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Việt Nam, không ai khác là những người mẹ với phong tục “búi tóc sau đầu” (tóc cuộn thành búi sau gáy tạo cho người phụ nữ một vẻ đẹp nữ tính, thuần hậu rất riêng). Nét đẹp ấy gợi nhớ ca dao:

Tóc ngang lưng vừa chừng em bới
Để chi dài cho rối lòng anh

Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục gắn dòng suy tưởng đến con người ngàn đời cư trú, lao động, chiến đấu trên mảnh đất Việt để giữ gìn tôn tạo mảnh đất thân yêu. Ở đó đạo lí ân nghĩa thủy chung đã trở thành truyền thống ngàn đời của dân tộc: “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Ý thơ được toát lên từ những câu ca dao đẹp:

Tay bưng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”

Hay:

“Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng nghĩa đầy
Dù ba vạn sáu ngàn ngày cũng chẳng xa”

Thành ngữ “gừng cay muối mặn” được vận dụng một cách đặc sắc trong câu thơ nhẹ nhàng mà thấm đượm biết bao ân tình. Nó gợi lên được ân nghĩa thủy chung ở đời. Quy luật của tự nhiên là gừng càng già càng cay, muối càng lâu năm càng mặn. Quy luật trong tình cảm con người là con người sống với nhau lâu năm thì tình nghĩa càng đong đầy. Có lẽ chính vì vậy mà Đất Nước còn ghi dấu ấn của cha của mẹ bằng Hòn trống mái, núi Vọng Phu… đi vào năm tháng.

Từ cha mẹ thương nhau mới đi đến “Cái kèo cái cột thành tên”. Câu thơ gợi nhắc cho người đọc nhớ đến tục làm nhà cổ của người Việt. Đó là tục làm nhà sử dụng kèo cột giằng giữ vào nhau làm cho nhà vững chãi, bền chặt tránh được mưa gió, thú dữ. Đó cũng là ngôi nhà tổ ấm cho mọi gia đình đoàn tụ bên nhau; siêng năng tích góp mỡ màu dồn thành sự sống. Từ đó, tục đặt tên con cái Kèo, cái Cột cũng ra đời.

Đâu chỉ có những vẻ đẹp trên, dân tộc ta còn có truyền thống lao động cần cù, chịu thương chịu khó “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng”. Câu thơ gợi nhắc bài ca dao:

Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

Thành ngữ “Một nắng hai sương” gợi nên sự cần cù chăm chỉ của cha ông ta những ngày long đong, lận đận trong đời sống nông nghiệp lạc hậu. Đó là truyền thống lao động cần cù, chịu thương chịu khó. Để làm ra hạt gạo ta ăn hàng ngày, người nông dân phải trải qua bao nắng sương vất vả gieo cấy, xay giã, giần sàng. Thấm vào trong hạt gạo bé nhỏ ấy là mồ hôi vị mặn nhọc nhằn của giai cấp nông dân bao đời nay.

Câu thơ cuối cùng khép lại một câu khẳng định với niềm tự hào: Đất Nước có từ ngày đó. “Ngày đó” là ngày nào ta không rõ nhưng chắc chắn ngày đó là ngày ta có truyền thống, có phong tục tập quán, có văn hóa mà có văn hóa nghĩa là có đất nước. Đúng như lời Bác dặn trước lúc đi xa “Rằng muốn yêu Tổ quốc mình, phải yêu những câu hát dân ca”.

Dân ca, ca dao là đặc trưng văn hóa của Việt Nam, muốn yêu Đất Nước trước hết phải yêu và quý trọng văn hóa nước nhà. Bởi văn hóa chính là Đất Nước. Thật đáng yêu đáng quý, đáng tự hào biết bao lời thơ dung dị, ngọt ngào của Nguyễn Khoa Điềm.

Thành công của đoạn thơ trên là nhờ vào việc vận dụng khéo léo chất liệu văn hóa dân gian như phong tục ăn trầu, tục búi tóc, truyền thống đánh giặc, truyền thống nông nghiệp. Nhà thơ sáng tạo thành ngữ dân gian, ca dao tục ngữ, thành ngữ… Tất cả làm nên một đoạn thơ đậm đà không gian văn hóa người Việt. Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, lời thơ nhẹ nhàng đúng giọng thủ thỉ tâm tình nhưng vẫn mang đậm hồn thơ triết lí.

Tóm lại, bằng cảm nhận rất đỗi thân thương, gần gũi. Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến cho chúng ta một hình ảnh Đất Nước bình dị nhưng không kém phần tươi đẹp. Đọc đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung, ta cảm nghe như cội nguồn dân tộc, cội nguồn văn hóa đang thấm vào tận từng mạch hồn ta, dòng máu ta. Điều đó càng làm ta thêm yêu thêm quý quê hương Tổ quốc mình.

Gợi ý cho bạn 🌼 Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ 🌼 28 Bài Văn Hay Nhất

Cảm Nhận 9 Câu Đầu Bài Đất Nước Lớp 12 – Mẫu 11

Phần cuối cùng của bài viết, tặng bạn bài văn mẫu Cảm Nhận 9 Câu Đầu Bài Đất Nước. Bạn đọc đừng nên bỏ lỡ nhé.

Bài thơ Đất nước được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là một bài thơ hay và xúc động về tình cảm của một người con Đất nước với Tổ quốc yêu thương của mình. Bài thơ có giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc giàu giá trị văn hóa, giá trị nhân văn sâu sắc mà tiêu biểu là 9 câu thơ đầu trong bài thơ.

Đất nước chính là sự xuất hiện của hàng loạt những hình ảnh có ý nghĩa biểu trưng nhưng rất gần gũi:

Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi
….Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc…”

Bốn từ “ngày xửa ngày xưa” sao quá đỗi quen thuộc với chúng ta. Nó xuất hiện trong những câu chuyện cổ tích bà kể, trong những lời ru tha thiết của mẹ ru con trong giấc say nồng. Nó thể hiện sự kì diệu về sự sinh thành và phát triển của Đất nước, của những đặc trưng rất riêng của con người Đất nước.

Hình ảnh Đất nước vừa hiện lên vừa giản dị gần gũi, vừa thiêng liêng sâu lắng bởi nó gắn với thế giới tâm hồn con người, được nuôi dưỡng bởi việc truyền đời cho con cháu đời sau. “Miếng trầu bắt đầu câu chuyện”, thể hiện lối sống giản dị, chân chất của con người Đất nước. Lối sống nghĩa tình ấy trở thành truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta.

Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”

“Tóc mẹ thì bới sau đầu” hình ảnh người phụ nữ Việt với mái tóc bới sau đầu. Hình ảnh thật gần gũi, thân quen in sâu trong nếp nghĩ, gợi suy ngẫm về con người trong cuộc sống lam lũ vất vả nhưng vẫn duyên dáng, đẹp dịu hiền, đảm đang.

Đất nước còn hiện lên trong sự gắn liền với một lối sống đẹp, cái cội nguồn của sự sống, đó chính là ân nghĩa vợ chồng. Con người Việt ta từ xưa đã luôn coi trọng đạo lý, coi gia đình và hôn nhân là điều thiêng liêng và đáng trân trọng. Cha mẹ sinh ra coi cái không phải nuôi con do trách nhiệm mà đó là nghĩa tình, đó là niềm hạnh phúc sum vầy.

Ý thơ giản dị mà ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Tình yêu được sinh ra và nuôi dưỡng từ trong khó nghèo, từ trong những hoàn cảnh đầy thử thách thật đáng trân trọng, đáng quý. Đó là lối sống trọn nghĩa, trọn tình, thuỷ chung đã trở thành một truyền thống thiêng liêng được lưu truyền qua bao đời.

Đất nước còn được gắn liền với những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc “cái kèo, cái cột”. Nhưng chính những thứ đơn sơ, mộc mạc ấy đã tạo nên một mái ấm gia đình, làng xóm, quê hương, Đất nước.

Đất nước hiện lên qua cuộc sống lao động sinh hoạt: “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”. Con người lao động đã biết “xay, giã, giần, sàng” để tạo nên hạt gạo để xây dựng Đất nước no ấm. Những hình ảnh trên đều gần gũi, chân thành vô cùng.

Nguyễn Khoa Điềm có điểm nhìn rất gần gũi, thân thuộc bình dị để miêu tả về Đất nước. Đến với bài thơ ta càng thêm thấu hiểu về quê hương Đất nước với những truyền thống, nét văn hóa đáng trân trọng và ngợi ca. Đất nước trong chúng ta chính là những tình cảm thân thương và gần gũi nhất.

Tiếp tục tham khảo ☔ Phân Tích Bài Thơ Sang Thu Của Hữu Thỉnh ☔ 15 Bài Hay

Viết một bình luận