Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng ❤️️ 10 Bài Văn Mẫu Hay

Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng ❤️️ 10 Bài Văn Mẫu Hay Nhất ✅ Những Bài Cảm Nhận Đặc Sắc Về Đoạn Thơ Giữa Trong Tác Phẩm Nổi Tiếng Của Xuân Diệu.

❤️️ Ngoài Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng, khám phá tại SCR.VN nhiều nội dung thú vị khác ❤️️

👉 Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa👉 Dàn Ý Đây Thôn Vĩ Dạ 
👉 Thơ Hữu Loan👉 Thơ Tế Hanh
👉 Thơ Hoàng Trung Thông👉 Cảm Nhận Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
👉 Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường 👉 Thơ Hồ Dzếnh 
👉 Thơ Vũ Hoàng Chương👉 Thơ Bằng Việt

Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng

Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng với những hình ảnh đặc sắc nhất trong xuyên suốt bài thơ.

Thơ Xuân Diệu tinh tế, gợi cảm, độc đáo trong chất liệu cũng như trong bút pháp thi ca. Nhắc tới ông, ta không thể không nhắc tới một bài thơ in đậm dấu ấn và phong cách của ông: Vội vàng. Bài thơ vừa như một nguồn cảm xúc trào dâng vừa là tuyên ngôn sống của một nhà thơ khao khát yêu đời.

Đặc biệt, nếu phần đầu tiên của bài thơ là ước muốn táo bạo cùng vẻ đẹp độc đáo của mùa xuân thì sang phần thơ thứ hai, nhà thơ đã thể hiện quan niệm nhân sinh mới mẻ về thời gian và tuổi trẻ.

Thời gian trong thơ ca trung đại là thời gian “tuần hoàn” nghĩa là thời gian được hình dung như 1 vòng tròn liên tục tái diễn, hết 1 vòng lại quay về vị trí xuất phát, cứ trở đi rồi trở lại mãi mãi.

Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn “tĩnh”, lấy cả sinh mệnh vũ trụ để làm thước đo cho thời gian. Còn đối với Xuân Diệu, ông có quan niệm rất mới về thời gian:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.

Nếu người xưa luôn yên tâm bình thản trước sự trôi chảy của thời gian bởi họ quan niệm thời gian là tuần hoàn thì Xuân Diệu lại quan niệm thời gian, mùa xuân, tuôi trẻ một đi không trở lại.

Thế nên ông luôn hốt hoảng lo âu khi thời gian trôi mau. Điều thi sĩ sợ là tuổi trẻ qua đi, tuổi già mau tới bới thời gian như một dòng chảy mà mỗi một khoảnh khắc trôi qua là mất đi vĩnh viễn. Cách sử dụng cặp từ đối lập “tới – qua”, “non – già” đã cho thấy sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước bước đi của thời gian.

Cùng với hàng loạt câu thơ văn xuôi theo lối định nghĩa cùng sự lặp lại liên tiếp điệp ngữ “nghĩa là”, Xuân Diệu đã khẳng định chắc nịch một sự thật hiển nhiên không gì phủ nhận: Dù xuân đương tới, xuân còn non nhưng xuân sẽ qua, sẽ già, sẽ hết và tuổi trẻ cũng mất.

Đối diện với sự thật hiển nhiên mà phũ phàng ấy, Xuân Diệu không khỏi thảng thốt. Liên tiếp các dấu phẩy được huy động tạo nên điệu thơ ngậm ngùi, nghẹn ngào:

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại.
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

“Lòng tôi” và “lượng trời” vốn đã là hai thế cực tương phản của sự hạn hữu và vô hạn. Tuy nhiên trong góc nhìn của Xuân Diệu thì cái vốn hữu hạn như đời người lại được mở rộng đến vô cùng “lòng tôi rộng” còn thứ vốn tưởng chừng vô hạn trong thời gian của đất trời lại trở nên nhỏ bé “lượng trời cứ chật”.

Một loạt hình ảnh được đặt trong thế tương phản đối lập cao độ “rộng” – “chật”, “xuân tuần hoàn” – “tuổi trẻ chẳng hai lần”, “còn” – “chẳng còn”. Điều đó đã góp phần làm nổi bật tâm trạng tiếc nuối trước thời gian, cuộc đời.

Sự hạn hữu của đời người với thời gian được thể hiện rõ nét nhất ở dòng thơ “Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi”. Đúng vậy, giữa cái mênh mông của vũ trụ, vô cùng, vô tận của thời gian, tuổi trẻ, sự sống của con người bỗng trở nên quá ngắn ngủi. Nhưng ở đây, Xuân Diệu không tiếc cho mình, tiếc cho tuổi trẻ mà điều ông tiếc nhất chính “cả đất trời”.

Suy ngẫm về điều đó, Xuân Diệu càng cảm nhận thấm thía sự phôi pha, phai tàn đang âm thầm diễn ra trong lòng vũ trụ trên cả hai trục không gian và thời gian.

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàm sắp sửa.

Thời gian vốn vô hình, vô ảnh, không mùi, không vị, đi vào thơ Xuân Diệu bỗng có mùi, có vị chia phôi, dường như khắp không gian đâu đâu cũng vọng lên khúc chia li, lời than thầm tiễn biệt. Tựa như ta nghe thấy có chút gì xao xuyến rưng rưng vừa uất ức nghẹn ngào vừa tiếc nuối hụt hẫng trong từ “rớm” ấy.

Gió đùa trong lá không phải là những âm than vui tươi, sống động của thiên nhiên mà vì hờn tủi trước sự trôi chảy của thời gian. Chim hót những bản nhạc chào xuân rộn ràng bỗng ngừng bặt, chẳng có mối nguy hiểm hiểm nào cả, mà vì chúng sợ độ tàn phai, héo úa. Vậy là vạn vật cứ thế chảy trôi theo quy luật vận hành tự nhiên của nó mà không sao cưỡng lại được.

Khép lại phần thơ là dòng thơ tràn ngập cảm xúc:

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…

Đến đây thi sĩ đã vỡ lẽ chẳng bao giờ có thể tắt nắng buộc gió, níu giữ mãi tuổi trẻ mùa xuân ở lại. Phép điệp “chẳng bao giờ” được lặp lại hai lần càng nhấn mạng thêm tâm trạng bàng hoàng tiếc nuối ấy. Khát vọng cháy bỏng, ước muốn táo bạo đã tan thành mấy khói. Chỉ còn lại nỗi bàng hoàng, thảng thốt mà càng trở nên da diết hơn với dấu chấm lửng cuối dòng thơ. Và trong sự bất lực, Xuân Diệu dường như tìm ra một cách giải quyết.

“Mau đi thôi, mùa chưa ngả chiều hôm”

Lời thơ như một lời giục giã, thúc giục con người hãy đứng lên đừng buồn vì sự chia ly sẽ đến mà lãng quên đi thực tại. “Mau đi thôi”, mau cố gắng trân trọng lấy từng phút giây hiện tại để tận hưởng bữa tiệc tươi vui mà thiên nhiên mùa xuân đã bày sẵn trước mắt ta.

Chỉ với 16 câu thơ nhưng dường như Xuân Diệu đã cho ta thấy một quan niệm nhân sinh rất tiến bộ về thời gian, về mùa xuân và tuổi trẻ của tác giả. Ta cũng nhận ra mặc dù Xuân Diệu thể hiện tâm trạng nuối tiếc thời gian và cuộc đời nhưng qua đó ta còn bắt gặp một khát khao mạnh mẽ, một tình yêu say đắm mà ông dành cho đời.

Cùng với Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng, gửi đến bạn 🍃 Cảm Nhận Bài Thơ Tràng Giang 🍃 ý nghĩa.

Cảm Nhận Khổ 1 2 Bài Vội Vàng

Cảm Nhận Khổ 1 2 Bài Vội Vàng để thấy được những cảm xúc mới và một nhân sinh quan mới mẻ cùng thủ pháp cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo.

Trong phong trào thơ mới những năm đầu thế kỉ 20, cây bút Xuân Diệu xuất hiện trên thi đàn như “một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này” ( Hoài Thanh). Ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một nguồn cảm xúc mới, thể hiện quan niệm sống mới mẻ với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo.

Những bài thơ của ông bao giờ cũng để lại ấn tượng sâu sắc với độc giả cả trên phương diện nội dung và nghệ thuật. “Vội vàng”( rút từ tập “Thơ thơ”) là một thi phẩm như vậy. Bài thơ đã thể hiện tập trung sở trường của Xuân Diệu trong việc bộc lộ cái “tôi” và cách cảm nhận thiên nhiên, sự sống của mình, đặc biệt là qua hai khổ thơ đầu.

Ngay khi bước vào thi phẩm, ta đã không khỏi ngỡ ngàng và ấn tượng với ước muốn kì lạ của thi sĩ:

“Tôi muốn tắt nắng đi…bay đi”

Đó rõ ràng không phải là ước mơ của một người khổng lồ “ghé vai gánh đỡ cả giang sơn”, cũng không phải là những ngông cuồng của tuổi trẻ, 4 câu thơ là khao khát cháy bỏng của chủ thể trữ tình muốn “tắt nắng”, “buộc gió” để níu giữ hương sắc và vẻ đẹp của cuộc đời.

Việc sử dụng thể ngũ ngôn ngắn gọn kết hợp với điệp ngữ “tôi muốn” và những động từ mạnh “tắt”, “buộc” đã tạo ra một vẻ quyết liệt rất Xuân Diệu. Nhưng làm sao ý chí chủ quan của con người có thể thắng được quy luật bất biến của tạo hóa?

Đọc kĩ câu hai và câu bốn, với điệp cấu trúc cú pháp “cho màu đừng…”, “cho hương đừng…” mới thấy được sự tiếc nuối và hụt hẫng ở sau những dòng thơ tưởng chừng rất mạnh mẽ ấy. Dù vậy, ước muốn táo bạo và kì lạ của thi sĩ cũng đã hé mở một tấm lòng yêu đời đắm say, cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu.

Nếu như khổ đầu bộc lộ một khát khao, một ước muốn tưởng chừng thật phi lí thì ở khổ thơ thứ hai, nhà thơ đã lí giải nguyên do của khát khao ấy. Con người bao giờ cũng vậy, luôn khao khát tìm kiếm hạnh phúc và vẻ đẹp của cuộc đời.

Nếu như các nhà thơ mới có xu hướng thoát li trần gian, tìm đến chốn “bồng lai tiên cảnh” thì Xuân Diệu lại “đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới”. Bởi đối với ông, thiên đường không ở đâu xa mà nằm ngay trên mặt đất, trong tầm tay của chúng ta:

“Của ong bướm…gõ cửa”

Thi sĩ lặp lại đến năm lần cụm từ “này đây” như một nhịp kể nồng nàn đầy say mê, như một tiếng reo vui đầy kinh ngạc khi liên tiếp phát hiện ra những vẻ đẹp kì lạ mà đắm say của thiên nhiên tạo hóa. Hơn nữa, cấu trúc câu linh hoạt cùng phép liệt kê đã tạo ra một lớp sóng ngôn từ, lớp sóng cảm xúc trào dâng đến vô tận vô cùng.

Bức tranh xuân tràn trề sức sống hiện lên, đầy sinh động và chân thực. Đó là cái tình tứ của “ong bướm” trong “tuần trăng mật”, là cái bát ngát “xanh rì” tươi mát của hoa cỏ đồng nội, là cái nõn nà, tràn trề nhựa sống của “cành tơ phơ phất”.

Tất cả chìm ngập trong thanh âm ríu rít, tươi vui và đầy si mê – những “khúc tình si” của chim yến, chim anh hót mừng mùa xuân mới. Đây đó bừng lên ánh sáng tinh khôi của ánh bình minh.

Xuân Diệu đã thật tài tình khi ngầm so sánh “bình minh” như một thiếu nữ yêu kiều với hàng mi dài, duyên dáng, chỉ cần khẽ chớp cũng đủ làm khuynh quốc, khuynh thành. Và hơn thế nữa, thiếu nữ ấy còn là vị “thần Vui” mỗi ngày đều đến “gõ cửa”, ban phát hạnh phúc cho muôn loài, muôn vật, muôn nơi.

Quả thực, đây là một bức tranh xuân tuyệt vời với đầy đủ hương thơm, màu sắc, đường nét, ánh sáng và âm thanh. Đằng sau bức tranh ấy ta thấy được một tâm hồn như đang cháy lên niềm yêu, niềm khao khát tận hưởng sự sống, một cái “tôi” đầy ham hố và cuồng nhiệt.

Phải là một người có đôi mắt “xanh non và biếc rờn”, Xuân Diệu mới nhận ra và tái hiện cuộc sống quen thuộc “xưa như Trái Đất” dưới một góc nhìn mới một cách sinh động, gợi cảm và trẻ trung như thế.

Không giống như thơ ca xưa, thường lấy vẻ đẹp của thiên thiên làm thước đo cho vẻ đẹp của con người, Xuân Diệu đã mạnh bạo lấy con người và tuổi trẻ làm chuẩn mực cho mọi cái đẹp của cuộc sống. Có lẽ chính từ quan niệm mĩ học mới mẻ ấy mà thi nhân đã sáng tạo ra một câu thơ độc nhất vô nhị chưa từng có trong lịch sử thơ ca dân tộc:

“Thánh giêng ngon như một cặp môi gần”

Câu thơ táo bạo trong cảm nhận, trong so sáng và trong cả cách sử dụng hình ảnh. Tháng Giêng là mùa xuân, là sự khởi đầu mơn mởn của một năm, là tháng thanh tân nhất, tươi mới nhất nay đã hóa thành cặp môi gần gợi cảm của người thiếu nữ đang mong đợi, hé chờ.

Từ một hình ảnh vô hình, trừu tượng, bằng phép so sánh, tháng Giêng đã được hữu hình hóa, cụ thể hóa như một biểu tượng quyến rũ của tình yêu. Thi sĩ còn táo bạo hơn nữa khi dùng chữ “ngon” đầy nhục thể. Với nhà thơ ấy, tình yêu cuộc sống luôn được huy động cả phần hồn lẫn phần xác thật triệt để và mãnh liệt.

Vậy là chỉ trong bảy câu thơ, Xuân Diệu đã đưa cái đẹp về với trần thế, về với con người. Trong quan niệm của thi nhân, thế giới giống như một thiên đường trên mặt đất, không ở đâu xa, không ở hư vô mà hiện hữu ở quanh ta.

Thế giới ấy luôn đầy xuân và tình, vừa như một khu vườn tình ái, như một mâm tiệc với thực đơn hấp dẫn, vừa như một người tình gợi cảm.

Xuân Diệu ngầm gửi gắm đến độc giả một quan niệm nhân sinh sâu sắc: muốn giữ được những vẻ đẹp của cuộc đời, trước tiên phải biết cách phát hiện ra những vẻ đẹp ấy, người nghệ sĩ hơn ai hết phải biết cảm nhận thế giới bằng cả tâm hồn yêu sống và bằng việc huy động tổng lực sức mạnh của mọi giác quan để đem đến cho thơ ca sức sống bất diệt:

” Sống toàn tâm, toàn bích, sống toàn hồn
Bằng say mê. Và thức nhọn giác quan…”

Dẫu biết mùa xuân là bất tận, đang ngập tràn trong men say của mùa xuân tình ái nhưng Xuân Diệu vẫn đủ tỉnh táo, đủ thực tế để nhận ra rằng cuộc đời và tuổi trẻ của con người thật ngắn ngủi làm sao, thời gian đã trôi qua là không thể níu giữ. Vì thế mà sau những phút cuồng nhiệt, sôi nổi, giọng thơ bỗng trùng xuống, lắng lại trong suy tưởng:

“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”

Nhịp ngắt 3/5 với dấu chấm ở ngay giữa dòng thơ như một nốt lặng, một khoảng lặng chuyển tiếp của những xúc cảm trái ngược, tương phản. Nếu như “sung sướng” là khao khát yêu, khao khát sống thì “vội vàng một nửa” thể hiện sự hoài nghi, lo âu bởi sự ngắn ngủi của cuộc đời.

Vì thế mà nhà thơ “hoài xuân”, nhớ xuân, tiếc xuân ngay khi vẫn còn đang sống trong những ngày xuân tươi non: “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua- Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”.

Con người thường chỉ nhận ra giá trị thực sự của một khoảnh khắc, một vẻ đẹp nào đó khi thời gian đã trôi qua, khi ta đã đánh mất nó. Nhưng Xuân Diệu thì không thế, thi sĩ không đợi nắng hạ đến mới hối tiếc về những ngày xuân tươi đẹp.

Buồn mà không bi lụy, đó là cái buồn của một tâm hồn yêu đời tha thiết. Chính cảm xúc ấy đã khơi nguồn cho lối sống “vội vàng” của thi sĩ: sống nhanh, sống mạnh, sống hết mình để tận hưởng và tận hiến, để không hoài phí thời gian và tuổi trẻ.

Tóm lại, hai khổ đầu thực sự là những dòng thơ đặc sắc cả về nội dung và hình thức, góp phần quan trọng trong thành công vang dội của thi phẩm “Vội vàng”. Với lối thể hiện rất hiện đại cùng ngôn từ gợi cảm tinh tế và nhiều biện pháp tu từ đặc sắc, Xuân Diệu đã tái hiện thật sinh động và chân thực bức tranh thiên nhiên tràn đầy sức sống và xuân tình.

Qua đó, ta thấy được cái “tôi” tha thiết gắn bó với trần thế và khát khao cháy bỏng được thụ hưởng hương sắc của trần gian. Bài thơ còn là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây phút của cuộc đời, nhất là năm tháng của tuổi trẻ. Đó cũng là một quan điểm sống tích cực mà chúng ta cần học tập từ thi sĩ Xuân Diệu.

Thời gian trôi qua không trở lại bao giờ, con người chỉ có duy nhất một lần được sống vì thế hãy biết chớp lấy từng khoảnh khắc thời gian để làm cho mỗi giây, mỗi phút của cuộc đời mình đều trở nên ý nghĩa và có giá trị.

Ngoài Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng, giới thiệu với bạn tuyển tập 🌨 Cảm Nhận Về Bài Thơ Vội Vàng 🌨

Cảm Nhận Khổ Thơ Thứ 2 Bài Vội Vàng

Cảm Nhận Khổ Thơ Thứ 2 Bài Vội Vàng với những dấu ấn riêng đã khiến đọc giả say đắm và yêu mến qua bao thế hệ.

Nền văn học Việt Nam với điểm nhấn của trào lưu Thơ Mới luôn để lại dấu ấn với nhiều tuyệt tác đặc biệt. Trong số những đóng góp của các nhà thơ thì Xuân Diệu được xem là một cây đại thụ lão làng với bao tập thơ về tình yêu khiến độc giả say đắm, mê mẫn.

Vội vàng là tác phẩm điển hình viết về nét đẹp nhân sinh, quan niệm sống tích cực từ thi nhân. Ta sẽ thấy rõ nét hơn về điều này ngay khi đến với khổ thứ hai của bài thơ.

Nếu như ở khổ thơ thứ nhất nhà thơ vì yêu cái đẹp của thiên nhiên mà muốn đoạt quyền tạo hóa “tắt nắng”, “buộc gió” thì quan niệm vô cùng tích cực của thi nhân, sự lí giải đầy sâu sắc được trình bày ở khổ thơ thứ hai.

Mở đầu cho khổ thứ hai của bài là hai câu thơ đọc vào như khiến ta vỡ lẽ khi thời gian cứ ngày một trôi qua nhanh chóng bởi cách ngắt nhịp 3/5.

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”

Người ta như chìm đắm vào trong từng vần thơ bởi cách tả vô cùng tinh tế, táo bạo khi đọc thơ của Xuân Diệu. Sự trôi nhanh vội vã của thời gian để rồi tiếc nuối, lo sợ được nhà thơ phát hiện. “Đương tới” – “đương qua”, “còn non – sẽ già” là lúc nhà thơ gọi tên các trạng thái đối lập của thời gian.

Trở về với những vần thơ trung đại thì sẽ thấy thời gian qua cách kể của các thi nhân xưa nhận ra sự nhỏ bé, chóng qua của thời gian nhưng người đọc sẽ hiếm hoi nhận thấy được lời than thở, buồn đau trong những câu thơ này.

Tuy nhiên trong Thơ Mới cái nhìn có sự thay đổi hơn, trước sự ngắn ngủi của đời người, không còn là vô tận mà tuyến tính con người tỏ ra hoảng sợ, ý thức rõ ràng về điều này. Minh chứng trong câu thơ của Mãn Giác Thiền trong Cáo tật thị chúng:

“Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đào bách hoa khai”

Trước không gian mênh mông, con người dường như thu mình lại khi thời gian chảy trôi nhanh, thấy bản thân trở nên bé nhỏ. Mùa xuân hôm nay đẹp lung linh nhưng rồi mai đây nó cũng đến lúc phai tàn, già cỗi đi cùng thời gian là điều không ai níu giữ lại được.

“Thời gian qua kẽ tay
Làm khô những chiếc lá
Kỷ niệm trong tôi
Rơi như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn”

Khi xuân đi qua thì tuổi xuân của con người cũng trôi theo trong tiếc nuối. Ở đây nhà thơ cảm thấy chẳng còn gì, chẳng thể níu kéo mọi thứ khi thời gian rồi cũng mai một tất cả, kể cả tuổi thanh xuân:

“Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…”

Nhà thơ muốn nhấn mạnh về tầm quan trọng của mùa xuân, tuổi trẻ rồi sẽ chảy trôi cùng thời gian thấy được qua danh từ “xuân” gợi nhắc đi lại nhiều trong đoạn thơ.

Khi tuổi trẻ đi qua thì “tôi” rồi cũng trở nên vô nghĩa, trống rỗng, bởi lúc này tình yêu đã không còn. “Lòng tôi” và “lượng trời” là sự tương phản của hai thế cực bật lên sự hữu hạn, vô hạn giữa đời người và đất trời.

Từ đó để thấy rằng vòng xoáy của thời gian tiếp nối trong sự vận động không ngừng của thời gian thì vạn vật, con người rồi sẽ phải thay đổi. Sinh lão bệnh tử là lẽ thường tình, là vòng tròn tuần hoàn lặp lại không ngừng.

Niềm tiếc nuối của tác giả trước sự chảy trôi của thời gian tuyến tính một đi không trở lại được thấy rõ hơn trong lời thơ. Bước đi của mùa xuân cũng là bước đi của thời gian, của đời người. Nhìn mọi thứ đều nhuốm màu của lo âu, hốt hoảng nên thi sĩ muốn níu giữ tuổi trẻ.

Do đó mà ta nhận thấy có sự thay đổi, có sự đa dạng trong cách diễn đạt từ câu định nghĩa, khẳng định về mùa xuân và tuổi trẻ, tinh tế một chút sẽ thấy được đó là lời cảm nhận về sự có mặt, hiện hữu rồi tàn phải của tuổi xuân, tiếng than đầy nuối tiếc từ đó lại cất lên da diết.

Tuy nhiên ở đây có một điều rất hay khi tinh tế nhận thấy trong lời thơ của Xuân Diệu đó là tuổi xuân, tuổi trẻ trôi qua ông không nuối tiếc bằng việc không thể được tận hưởng mọi hương sắc của đất trời.

Vài dòng thơ ngắn ngủi nhưng đầy triết lí đã cho thấy một tâm hồn thơ lãng mạn, cá tính của Xuân Diệu. Vội vàng là tác phẩm tuyệt đỉnh đi theo cùng năm tháng.

Cùng với Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng, gửi tặng bạn 💕 Cảm Nhận Về Bài Thơ Đất Nước 💕 hay và ý nghĩa.

Dàn Ý Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng

Dàn Ý Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng với bức tranh mùa xuân tươi mới và những cảm quan mới mẻ của nhà thơ.

Xuân Diệu là một nhà thơ Mới xuất sắc và đạt nhiều thành tựu của văn học Việt Nam. Một trong những bài thơ hay nhất của ông là bài thơ “Vội vàng” trích trong tập “Thơ thơ”.

Thi phẩm mang đến cho đọc giả một bức tranh mùa xuân tươi mới và những cảm quan nhân sinh đầy mới mẻ. Đoạn 2 của bài thơ là đoạn văn thể hiện sâu sắc nhất về triết lý thời gian và cuộc đời.

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian.”

Nếu như ở khổ thơ đầu, nhà thơ đã dựng lên bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp với ong bướm, hoa cỏ, đồng nội, yến anh, cùng với đó là tình yêu đến cháy bỏng của người thi sĩ thì đến khổ thơ thứ 2, Xuân Diệu lại thể hiện sự khắc khoải trước những bước đi của thời gian.

Dường như, sâu thẳm trong tâm hồn người thi nhân ấy ý thức rất rõ sự chảy trôi đến mức vô tình của thời gian. Trước một mùa xuân với sắc hương rực rỡ quyến rũ mê hoặc ấy, tác giả cũng tận hưởng, cùng thưởng thức đấy thôi nhưng lòng vẫn lo sợ.

Lỡ sợ rằng “xuân đương tới” rồi xuân cũng sẽ “đương qua”, xuân còn non không có nghĩa là xuân sẽ không già, bởi mỗi phút giây quá đi là đời người lại thêm ngắn lại. Thời gian chẳng thể níu giữ được mùa xuân, được tuổi trẻ, được thanh xuân, được đời người.

Thời gian, tuổi trẻ, chả bao giờ có thể quay lại, bởi thế mà tứng giấy đều phải trân trọng, phải vội vàng sống kẻo lỡ những thành xuân cuộc đời. Sự phối kết hợp những động, tính từ trái nghĩa “tới” – “qua”; ” già”- “non”, đã cho thấy cảm quan của thi nhân trước thời gian đầy tinh tế.

Mỗi ngày, mỗi tháng năm qua đi tháng năm qua đi đời người thêm phần ngắn lại, khi mà ta không còn cảm nhận được mùa xuân nữa nghĩa là đời người không còn, sinh thể vĩnh viễn xa rời cuộc đời.

Dù biết lòng người thì rộng, còn bao khát khao, bao hoài bão và những ước mơ đấy nhưng biết làm sao được khi thời gian càng rút ngắn, khi lượng trời hữu hạn, tuổi trẻ nhân gian đâu có chịu dài. Cảm nhận được sự vội vã ấy, nhà thơ càng bất an, càng thảng thốt, nghẹn ngào:

“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”

Đất trời rộng lớn, vũ trụ bao la, con người nhỏ bé, đời người hữu hạn. Phải chấp nhận sự thật dẫu biết rằng mùa xuân tuần hoàn đấy thôi nhưng tuổi trẻ đâu có tuần hoàn, đâu thể thắm lại những lần như thuở còn sung sức, còn dồi dào nhiệt huyết.

Thế nên nỗi tiếc nuối, bâng khuâng rợn ngợp cả đất trời. Mùi chia ly cũng bao trùm lấy cả sự vô tận của thời gian, khoảng không cách biệt của không gian:

“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa.”

Một lẽ thường của tạo hoá, một quy luật trần thế vạn vật đều không tránh khỏi. Vị thời gian rớm màu chia phôi, núi sông than thầm lời tiễn biệt, những cơn gió xuân vốn dạt dào đến thế cũng thều thào trong tiếng nghẹn.

Tiếng vàng anh ru khúc nhạc tình cũng đành ngừng lại. Có lẽ chúng đều sợ thời gian, sợ những chia lìa, nước mắt, sợ những phai tàn, héo úa.

“Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm”

Đến cuối cùng, chẳng bao giờ có thể làm được những điều mình ước muốn nếu cứ mãi đợi chờ, mãi hy vọng. Tiếng “ôi” thật nhẹ nhàng mà cũng thật tha thiết, vừa như hối tiếc lại vừa như thúc giục mọi người hãy hành động, hành động ngay bây giờ:

“Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm”

Hãy nhanh nhanh chạy đua với vũ trụ, với thời gian nhân lúc “mùa chưa ngả chiều hôm”, nhân lúc màu lá phải chưa ngả, mùa chia ly chưa đến.

Câu cầu khiến “Mau đi thôi” như một lời thức tỉnh những ai đang u mê ngập chìm trong sự chậm chạp, trễ nải và thơ ơ hãy sống nhanh, sống vội và sống có trách nhiệm. Đừng bỏ lỡ thành xuân bởi những tháng năm sống phí, sống hoài.

Đoạn thơ không quá dài nhưng đã gửi gắm biết bao nhiêu những ân tình của người viết, tác giả đã mang đến cho độc giả, đặc biệt là những người trẻ tuổi một cảm quan mới mẻ về lẽ sống để học tập.

Thơ Xuân Diệu phải chăng chính là “tiếng nói của một tâm hồn yêu đời” như thế. Đọc đoạn thơ, em thấy mình cần phải gắng sức mỗi ngày, tận dụng thời gian để sống, học tập và làm việc có ý nghĩa hơn nữa để sống một tuổi trẻ thật đẹp, thật trọn vẹn.

Xuân Diệu được mệnh danh là nhà thơ của mùa xuân và tình yêu, ông mang trong mình tình yêu cháy bỏng với cuộc sống, với thiên nhiên, cũng bởi vì quá yêu cuộc sống mà nhà thơ nhạy cảm, ám ảnh hơn với những bước đi của thời gian.

Bên cạnh Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng còn có 💌 Phân Tích Khổ 1 Đây Thôn Vĩ Dạ 💌 đặc biệt được chọn lọc dành cho bạn.

Cảm Nhận 2 Khổ Thơ Cuối Bài Vội Vàng

Cảm Nhận 2 Khổ Thơ Cuối Bài Vội Vàng thể hiện lòng yêu cuộc sống, khát khao dâng hiến, tận hưởng và trải nghiệm thế giới của nhà thơ Xuân Diệu.

Mở bài

Thơ là cây đàn mưôn điệu của tâm hồn, của nhịp thở con tim, thơ diễn tả rất thành công mọi cung bậc tình cảm của con người, niềm vui, nỗi buồn, sự cô đơn tuyệt vọng. Có những trạng thái tình cảm của con người chỉ có thể diễn đạt bằng thơ. Vì vậy thơ không chỉ nói hộ lòng mình, mà thơ còn có thể hiện tình yêu, niềm say mê tha thiết.

Với lòng yêu cuộc sống, khát khao tân hiến, tân hưởng Xuân Diệu đã viết nên bài thơ “Vội Vàng”, đặc biệt hai khổ thơ cuối của tác phẩm đã thể hiện rất thành công điều đó.

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua…
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”

Thân bài phân tích hai khổ cuối Vội Vàng

Ý khái quát

Quả không sai khi nói rằng với người làm thơ, bài thơ là một phương tiện biểu đạt tình cảm, tư tưởng, chỉ có cảm xúc chân thành, mãnh liệt mới là cơ sở cho sự ra đời một tác phẩm nghệ thuật chân chính. Cảm xúc càng mãnh liệt thăng hoa thì thơ càng nhiều khả năng chinh phục, ám ảnh trái tim người đọc.

Mang trong mình sứ mệnh, cao cả của một nhà thơ, khi sáng tạo nghệ thuật Xuân Diệu luôn tìm tòi sáng tạo cho mình một hướng đi riêng, khác với những nhà thơ cùng thời.

Với phong cách mới mẻ nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định được vị trí của mình trên các diễn đàn thơ ca, với những cái tên như “ông hoàng của thơ tình”, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, tiêu biểu cho phong cách sáng tạo của Xuân Diệu trước cách mạng có thể kể đến bài thơ “Vội Vàng”, bài thơ được in trong tập “thơ thơ” xuất bản năm 1938.

Phân tích khổ 3

Nếu ở khổ thơ đầu là cái tôi trữ tình và bức tranh thiên nhiên mùa xuân rực rỡ, thì đến hai khổ thơ tiếp theo thi sĩ Xuân Diệu đã thể hiện khát khao được sống hết mình với tuổi trẻ, thời gian của cuộc đời. Đoạn thơ được mở đầu bằng hai câu thơ nói về sự vận động của mùa xuân.

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.

Dù nhìn cuộc đời bằng cặp mắt “xanh non biếc rờn”, nhưng ở Xuân Diệu cũng không tránh khỏi sự nuối tiếc, hoài nghi và mất mát. Điều thi sĩ sợ nhất là tuổi trẻ đi qua, tuổi già mau tới, bởi thời gian trôi đi là vĩnh viễn không thể lấy lại được.

Các cặp từ trái nghĩa “tới – qua”, “non – già”, đã cho người đọc thấy được những cảm nhận tinh tế của tác giả cái là ta đang có, cũng là cái ta đang mất, trong hiện tại có quá khứ và hé mở tương lai.

Ngô Thì Nhậm đã nói, “thơ khởi phát từ lòng người ta”, thật vậy thơ là tiếng nói của trái tim, nơi gửi gắm tư tưởng, tình cảm của tác giả với tình yêu cuộc sống, nồng nhiệt. Xuân Diệu đã lấy sinh mạng cá thể của mình để làm thước đo cho thời gian, thậm chí thi sĩ lấy quãng ngắn nhất, giàu ý nghĩa nhất trong sinh mệnh đời người làm thước đo là tuổi trẻ.

“Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”,

Chữ “Xuân” được điệp đi điệp lại nhiều lần, nó vừa là xuân của đất trời vừa, là xuân của tuổi trẻ, cho nên mỗi lần chữ “Xuân” điệp lại là mỗi lần ta bắt gặp cái ngậm ngùi, nuối tiếc của thi nhân.

Xuân của thiên nhiên thì còn mãi, mà xuân của cuộc đời thì đã hết, dù lòng người có rộng đến đâu thì lượng trời vẫn cứ chật, nên tuổi trẻ không thể dài thêm mãi, vì lẽ đó nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt như định.

“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”.

Thước đo thời gian của thi sĩ là tuổi trẻ và tuổi trẻ thì một đi không trở lại .Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô cùng, vô tận, vô vô thủy của thời gian, sự có mặt của con người thật ngắn ngủi. Nghĩ về điều này Xuân Diệu đã ngậm ngùi:

“Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”.

Đọc câu thơ ta như thấy rất rõ tiếng thở dài bất lực của thi nhân và cái bâng khuâng, nuối tiếc của nhà thơ đang thả vào đất trời. Dường như trước mặt người đọc là cả một trời nuối tiếc và điều ấy ta đã từng bắt gặp trong câu thơ.

“Đời tôi trải lòng ta không vĩnh viễn
Vừa xịch gối chăn mộng vàng tan biến
Dung nhan xê động sắc đẹp tan tành”.

(Giục giã –Xuân Diệu)

Và nỗi nuối tiếc ấy nhuốm vào cả đất trời, thiên nhiên cảnh vật.

“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp núi sông đều than thầm tiễn biệt”.

Hai câu thơ thể hiện rất tinh tế cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu, cảm nhận ấy không chỉ bằng thị giác mà còn bằng cả khứu giác, vị giác, mỗi khoảnh khắc đang rời bỏ hiện tại để trở thành quá khứ đều được hình dung như một cuộc chia ly, tất cả vạn vật dường như đều phải chấp nhận quy luật nghiệt ngã ấy của Xuân Diệu.

Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải trăng hờn một nỗi phải bay đi
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa

Chính vì ý thức được những quy luật nghiệt ngã của thời gian và Xuân Diệu đã thốt lên.

Chẳng bao giờ tôi chẳng bao giờ nữa
Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm

Từ than thở, nuối tiếc, lo lắng Xuân Diệu chợt tỉnh vì “mùa chưa ngả chiều hôm”, ý nghĩa là mùa xuân đang còn trẻ trung chưa già, nên con người ta phải vội vàng hối hả để tận hưởng hết những hương sắc của cuộc đời.

Bởi không thể “tắt nắng”, “buộc gió”, cũng không thể cầm giữ được thời gian lên nhà thơ chỉ còn cách thực tế nhất là chạy đua với thời gian, tranh thủ sống.

Phân tích khổ 4

Đó cũng chính là lý do vì sao thi nhân đã khép lại bài thơ bằng một đoạn thơ mang màu sắc ái ân, mãnh liệt để ở đó ta thấy được sự vô tận say đắm rất đỗi Xuân Diệu.

“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn,
Ta muốn xiết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”

Nếu đoạn thơ trên mang nhịp điệu chậm rãi, mang đầy nỗi nuối tiếc, thì ở khổ thơ này ta lại bắt gặp sức sống mãnh liệt, nhịp thở nhanh, giục giã đầy khỏe khoắn.

Đoạn thơ được mở đầu bằng ba chữ “Ta muốn ôm ” như phơi bày hết sự ham muốn cuồng nhiệt của Xuân Diệu, với cuộc sống trần thế, mở đầu bài thơ Xuân Diệu xưng “tôi”, với ước muốn táo bạo “tắt nắng”, “buộc gió”.

Khi kết thúc bài thơ cái tôi ấy đã hòa vào cái ta chung để cùng nhau tận hưởng hết những hương sắc của cuộc đời, và ngày liền sau ấy là cả một sự sống tươi non đang bắt đầu mơn mởn. “Mơn mởn” là từ láy rất gợi cảm thể hiện độ tươi non của cảnh vật, khiến cho lòng người trào lên bao khao khát.

“Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn.
Làm cây đa quấn quýt cả mình Xuân
Không muốn đi mãi mãi ở vườn Trần
Chân hóa dễ để hút mùa dưới đất”.

( Thanh niên- Xuân Diệu)

Điệp từ “ta muốn” được điệp lại năm lần như một nhịp điệu hối hả, hơi thở gấp gáp của thi nhân, nhà thơ cuồng nhiệt tới mức cuống quýt, rối rít như muốn giang tay ốm hết cả vũ trụ, cuộc đời vào lòng.

“Muốn say cánh bướm với tình yêu, muốn gom hết vào lồng ngực trẻ trung ấy”, vào một cái hòm để rồi thi sĩ như con ong bay đi hút mật cuộc đời đã đầy no nê mới chịu bay đi

“Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng Ta muốn cắn vào ngươi”.

Dưới ngòi bút của Xuân Diệu, mùa xuân như có dáng, có hồn, có màu sắc, mùa xuân như đôi môi, gò má của người thiếu nữ tràn đầy sức sống, trinh nguyên. Đứng trước vẻ đẹp ấy của mùa xuân nhà thơ không thể đến nỗi lòng mình và đã đi đến một cử chỉ đồ vật vô cùng đáng yêu :“hỡi xuân hồng Ta muốn cắn vào ngươi”.

Khái quát đoạn thơ

Có lẽ trong các bài thơ của Xuân Diệu thì “vội vàng”, là những vần thơ Xuân Diệu nhất bởi nó mang hơi thở của nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới.

Vội vàng là lời giục giã hãy sống mãnh liệt sống hết mình sống trọn vẹn với những phút giây của tuổi trẻ, tư tưởng đó được thể hiện qua những câu thơ giàu hình ảnh, giàu sức biểu cảm, biện pháp điệp từ sử dụng các từ láy.

Kết bài Vội vàng

Nhà thơ Thế Lữ đã có nhận xét rất tinh tế trong lời tựa tập thơ thơ của Xuân Diệu, Xuân Diệu là một người ở đời.

Hồn thơ của anh được xây dựng trên đất của những tấm lòng trần gian, như vậy bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu là lời giục giã mọi người hãy sống vội vàng, sống hết mình với cuộc sống hạnh phúc chính là sống vội vàng, đồng thời bài thơ cũng nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng những hạnh phúc mà mình đang có

Ngoài Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng, xem nhiều hơn những bài thơ đặc sắc trong 🌹 Thơ Tú Xương 🌹

Dàn Ý Cảm Nhận Đoạn 2 Bài Vội Vàng

Dàn Ý Cảm Nhận Đoạn 2 Bài Vội Vàng với đầy đủ nội dung cơ bản và chính xác nhất để giúp các bạn học sinh thực hiện tốt bài viết của mình.

I. Mở bài:

Giới thiệu khái quát về tác giả Xuân Diệu và bài thơ “Vội vàng”

Dẫn dắt, giới thiệu đoạn 2 của bài thơ:

  • Nhận xét về Xuân Diệu, Hoài Thanh từng chia sẻ: “Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới”. Quả thực, đọc và cảm nhận thơ văn Xuân Diệu, ta mới thực thấu điều đó. Ông mới trong cách nhìn nhận, trong cách cảm, cách nghĩ về cuộc đời, con người.
  • Nhà thơ coi thời gian cuộc đời không phải thứ gì tuần hoàn, bất biến mà một đi không trở lại, nên cần sống hết mình với nó. Quan điểm đó được ông thể hiện rất rõ trong bài thơ “Vội vàng”. Đoạn thơ thứ 2 trong bài được coi là một trong những đoạn thơ đặc sắc và giàu ý nghĩa nhất.

II. Thân bài:

Đoạn 2 của bài thơ tác giả thể hiện niềm tiếc nuối trước sự trôi chảy của thời gian:

Nhịp điệu thơ trong đoạn này không sôi nổi, vồ vập như đoạn thơ trên mà chậm hơn, lắng lại những suy tư.

Dấu chấm giữa câu thơ: “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa.” là một tín hiệu nghệ thuật nhiều dụng ý. Dấu chấm ấy đã chặn đứng niềm sung sướng của nhân vật trữ tình, xuân chưa qua mà đã thấy nhớ.

Điều đó thể hiện sự nhạy cảm của nhân vật trữ tình hay cũng chính của nhà thơ Xuân Diệu khi ngay trong sung sướng đã thấy tiếc mùa xuân. Xuân Diệu đã nhìn ra trước bước đi của thời gian.

Thơ xưa khi nói về sự vận động của thời gian, họ coi thời gian là một chuỗi tuần hoàn bất biến, Nguyễn Du từng viết: “Ngày xuân con én đưa thoi”(Cảnh ngày xuân) hay “Ngày xuân như bóng câu qua cửa sổ”. Dẫu vậy, người xưa vẫn ung dung, bình tĩnh vì tin rằng vũ trụ tuần hoàn, xuân đi xuân lại lại.

Còn Xuân Diệu, “xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua/ xuân còn non nghĩa là xuân đã già”. Đó là lối nói đa nghĩa đầy mới mẻ rằng thời gian luôn chảy trôi, không đứng đợi.
Thời gian trôi, mùa xuân đi cũng là lúc tuổi trẻ đã qua.

Con người quý nhất là mùa xuân, quý nhất là tuổi trẻ. Mùa xuân trôi, tuổi trẻ trôi => tôi cũng mất => tưởng tượng ra cuộc chia li đầy ắp đất trời.

Một loạt động từ: “rớm, than, hờn, sợ” như là một sự nhân hóa để thể hiện nỗi buồn tiếc trong tâm hồn con người đã tràn sang vạn vật, thấm vào từng cảnh, từng giác quan của con người. Bởi vậy mà con người và vũ trụ đều buồn thê thiết.

Còn đang trong mùa xuân mà nhà thơ đã hình dung ra sự chia li của vũ trụ, sự rời xa của mùa xuân. Nỗi niềm nuối tiếc đã bật lên thành lời than và qua đó nhà thơ cũng gửi gắm lời nhắn nhủ tới muôn người muôn thế hệ rằng hãy sống hết mình vì tuổi trẻ, thời gian đời người là hữu hạn, một đi không trở lại.

III. Kết bài:

Khẳng định lại nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của đoạn thơ:

Đoạn thơ thứ hai trong bài thơ đã khẳng định khát khao cháy bỏng được sống hết mình với cuộc đời của nhân vật trữ tình, song cũng chính là tâm tư, nỗi lòng của nhà thơ Xuân Diệu. Ông nhờ thơ ca để giãi bày, tâm sự với người đọc để họ chia sẻ và hiểu ông hơn, trân trọng thời gian tuổi trẻ và sống hết mình với nó.

Cùng với Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng, tặng bạn 💔 Phân Tích Bài Thơ Đất Nước 💔

Cảm Nhận Của Anh Chị Về Khổ 2 Vội Vàng

Cảm Nhận Của Anh Chị Về Khổ 2 Vội Vàng với nỗi ám ảnh về thời gian và lòng ham mến cuộc sống đến cuốn quýt của tác giả Xuân Diệu.

Trong “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng khẳng định: “Thơ Xuân Diệu là một nguồn sống dạt dào chưa từng có ở chố nước non lặng lẽ này.”. Nhắc tới Xuân Diệu, ta không thể không nhắc tới một bài thơ in đậm dấu ấn, phong cách của ông – Vội vàng.

Được rút ta từ tập “Thơ thơ”, “Vội vàng” là nỗi ám ảnh thời gian và lòng ham yêu, khát sống đến cuống quýt của Xuân Diệu. Nếu phần đầu tiên của bài thơ là ước muốn táo bạo cùng vẻ đẹp độc đáo của mùa xuân thì sang phần thơ thứ hai, nhà thơ giải thích lí do phải sống vội vàng.

Tại sao Xuân Diệu lại vội vàng tiếc nuối mùa xuân ngay khi xuân còn đang thắm. Có lẽ vì thi sĩ có quan niệm rất mới về thời gian:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian.

Nếu người xưa luôn yên tâm bình thản trước sự trôi chảy của thời gian bởi họ quan niệm thời gian là tuần hoàn thì Xuân Diệu lại quan niệm thời gian, mùa xuân, tuôi trẻ một đi không trở lại.

Thế nên Xuân Diệu luôn hốt hoảng lo âu khi thời gian trôi mau. Thi sĩ không chỉ tiếc mùa, tháng, ngày mà tiếc từng khoảng khắc, từng phút giây. Ở một bài thơ khác, nhà thơ cũng từng nói:

Tôi từ phút ấy trôi qua phút này

Diều thi sĩ sợ là tuổi trẻ qua đi, tuổi già mau tới bới thời gian như một dòng chảy mà mỗi một khoảnh khắc trôi qua là mất đi vĩnh viễn. Cách sử dụng cặp từ đối lập “tới – qua”, “non – già” đã cho thấy sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước bước đi của thời gian.

Cùng với hàng loạt câu thơ văn xuôi theo lối định nghĩa cùng sự lặp lại liên tiếp điệp ngữ “nghĩa là”, Xuân Diệu đã khẳng định chắc nịch một sự thật hiển nhiên không gì phủ nhận: Dù xuân đương tới, xuân còn non nhưng xuân sẽ qua, sẽ già, sẽ hết và tuổi trẻ cũng mất.

Đối diện với sự thật hiển nhiên mà phũ phàng ấy, Xuân Diệu không khỏi thảng thốt. Liên tiếp các dấu phẩy được huy động tạo nên điệu thơ ngậm ngùi, nghẹn ngào.

Để tăng sức thuyết phục mọi người tin vào chân lí: mùa xuân tuổi trẻ là tuyến tính, Xuân Diệu đã chủ động đối thoại, tranh luận bác bỏ ý nghĩ cố hữu của mọi người là mùa xuân vẫn tuần hoàn:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Với Xuân Diệu, tuổi trẻ không thắm lại nên cũng không thể nói mùa xuân là tuần hoàn. Thế là Xuân Diệu tiếc mùa xuân mà thực chất là tiếc tuổi trẻ. Và đó là nguyên cớ xâu xa khiến thi sĩ vội vàng một nửa khi xuân mới bắt đầu:

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuân tôi tiếc cả đất trời

Đúng vậy, giữa cái mênh mông của vũ trụ, vô cùng, vô tận của thời gian, tuổi trẻ, sự sống của con ngừoi bống trở nên quá ngắn ngủi, mong manh chỉ như bóng câu qua cửa sổ, như cái chớp mà thôi. Suy ngẫm về điều đó, day dứt về điều đó, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi mà mới mẻ trong thơ ca Việt

“Với quan niệm một đi không trở lại và bằng tâm hồn rất đỗi nhạy cảm tới mức có thể nghe thấu cả sự mơ hầu” (Thế Lữ), Xuân Diệu cảm nhận thấm thía sự phôi pha, phai tàn đang âm thầm diễn ra trong lòng vũ trụ trên cả hai trục không gian và thời gian.

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàm sắp sửa.

Thời gian thì rớm vị chia phôi, khắp không gian đâu đâu cũng vọng lên khúc chia li, lời than thầm tiễn biệt. Gió đùa trong lá không phải là những âm than vui tươi, sống động của thiên nhiên mà vì hờn tủi trước sự trôi chảy của thời gian.

Chim hót những bản nhạc chào xuân rộn ràng bỗng ngừng bặt, chẳng có mối nguy hiểm hiểm nào cả, mà vì chúng sợ độ tàn phai, héo úa . Vậy là vạn vật không thể cưỡng lại quy luật tàn phai nghiệt ngã của tạo hóa.

Chịu ảnh hưởng sâu sắc thuyết tương giao trong tượng trưng Phá, Xuân Diệu chẳng những đã đem đến những cảm nhận tinh tế rất mới, rất Tây, rất hiện đại về thời gian:

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.

Thời gian vốn vô hình, vô ảnh, không mùi, không vị, đi vào thơ Xuân Diệu bỗng có mùi, có vị chia phôi. Thơ trung đại, kể cả thơ mới cũng hiếm có câu thơ nào có cách cảm nhận như vậy.

Khép lại phần thơ thứ nhất – phần lí giải vì sao phải sống vội vàng là dòng thơ tràn ngập cảm xúc:

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm

Đến đây thi sĩ đã vỡ lẽ chẳng bao giờ có thể tắt nắng buộc gió, níu giữ mãi tuổi trẻ mùa xuân ở lại. Khát vọng cháy bỏng, ước muốn táo bạo đã tan thành mấy khói. chỉ còn lại nỗi bàng hoàng, thảng thốt còn in dấu trong dấu chấm cảm giữa dòng thơ và dấu chấm lửng cuối dòng thơ.

Không thể buộc gió, chẳng thể tắt nắng để níu giữ mãi hương sắc mùa xuân, Xuân Diệu đã hối thúc mình và mọi người hãy sống vội vàng, hãy chạy đua cùng thời gian: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.” Lời giục giã hối thúc mang sắc điệu mạnh mẽ, quyết liệt bởi kiểu câu cầu khiến có sử dụng dấu chấm cảm giữa dòng.

Có thể nói câu thơ “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm” rẩt điển hình, tiêu biêu cho hồn thơ vội vàng cuống quýt của Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8. Không chỉ ở “Vội vàng”, Xuân Diệu luôn hối thúc giục giã mọi người cần sống mau, sống vội:

Mau với chứ! Thời gian không đứng đợi
– Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai
Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn
– Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ
Em, em ơi tình non sắp già rồi!

“Mùa chưa ngả chiều hôm” là một cách kết hợp từ mới lạ, thú vị. Xuân Diệu đã dùng từ chỉ thời gian cuối ngày để chỉ thời điểm cuối mùa. “Mùa chưa ngả chiều hôm” là mùa chưa tàn, chưa úa, vì thế hãy vội vàng mau chóng tận hưởng hương sắc của nó.

Có thể thấy, Xuân Diệu có cách cảm nhận về thời gian khác lạ như vậy là nhờ vào “sự ý thức sâu xa về sự sống của cá thể”. Quan niệm mới mẻ ấy của Xuân Diệu đã khiến cho ta phải trâng trọng từng phút giây của cuộc đời, tận hưởng một cuộc sống trọn vẹn và đầy ý nghĩa.

Quan đoạn thơ, ta đã thấy được niềm khát khao sống mãnh liệt, cháy bỏng của ông Hoàng thơ tình Việt nam. Từ đó, chúng ta thêm trân trọng quan niệm nhân sinh, tích cực, tiến bộ.

Cũng như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh từng nói: “Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Nhưng đằng sau những tình cảm ấy, có một quan niệm nhân sinh mới mẻ chưa thấy trong thơ ca truyền thống”.

Tiếp theo Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng, mời bạn đọc nhiều hơn với trọn bộ 🔥 Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ 🔥 đặc sắc và ý nghĩa.

Dàn Ý Khổ 2 Bài Vội Vàng

Dàn Ý Khổ 2 Bài Vội Vàng chi tiết và đầy đủ sẽ là chìa khoá giúp các bạn học sinh ôn tập tốt nhất.

Xuân Diệu là một nhà thơ trữ tình nổi tiếng của Việt Nam. Ông được biết đến qua các bài thơ về tình yêu thiên nhiên, yêu con người và yêu cuộc sống hiện tại.

Cuộc sống của ông trước cách mạng là dạy chữ, còn sau cách mạng thì ông tham gia vào sáng tác các tác phẩm thơ văn nhằm phục vụ cách mạng. ông được mệnh danh là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới.

Trong tất cả các tác phẩm của Xuân Diệu, một tác phẩm thơ có sự kết hợp nhuần nhuyễn và độc đáo về mạch cảm xúc và triết lí sâu sắc là bài thơ Vội vàng. Bài thơ thể hiện niềm say mê cái đẹp của thiên nhiên, niềm yêu thiên nhiên sâu sắc của tác giả trong cuộc sống.

Bên cạnh niềm say mê thiên nhiên và cuộc sống thì tác giả còn thể hiện nỗi lo lắng của mình trước thời gian và cuộc đời, hình ảnh này được thể hiện rõ qua đoạn 2 của bài thơ Vội Vàng.

I. Mở bài: giới thiệu về đoạn 2 bài thơ Vội vàng

Ví dụ:

Trong tất cả các tác phẩm của Xuân Diệu, một tác phẩm thơ có sự kết hợp nhuần nhuyễn và độc đáo về mạch cảm xúc và triết lí sâu sắc là bài thơ Vội vàng. Bài thơ thể hiện niềm say mê cái đẹp của thiên nhiên, niềm yêu thiên nhiên sâu sắc của tác giả trong cuộc sống.

Bên cạnh niềm say mê thiên nhiên và cuộc sống thì tác giả còn thể hiện nỗi lo lắng của mình trước thời gian và cuộc đời, hình ảnh này được thể hiện rõ qua đoạn 2 của bài thơ. Chúng ta cùng đi tìm hiểu đoạn 2 của bài thơ để hiểu rõ về nổi lo lắng và bang khoăng của tác giả về cuộc sống và thời gian.

II. Thân bài: phân tích đoạn 2 của bài thơ Vội vàng

1. Mở đầu đoạn thơ:

  • Nổi vui sướng vội vàng và chớp nhoáng của nhà thơ
  • Sự đam mê về thiên nhiên, cuộc sống hòa lẫn sự lo lắng về qua nhanh của thời gian, của bộn bè cuộc sống

2. Tác giả ý thức về sự hữu hạn của thời gian:

  • Thời gian ngày càng trôi đi
  • Con người, mọi vật đều sẽ thay đổi theo thời gian
  • Tác giả cảm thấy lo lắng, sợ hãi trước sự trôi đi của thời gian

3. Tình yêu cuộc sống cuồng nhiệt của tác giả:

Khát vọng sống vô cùng để cùng hòa nhịp với cuộc sống của tác giả
Yêu cuộc sống đến nồng nàn, tha thiết
Niềm ham sống, ham được sống và chưa toại nguyên cuộc sống mình đang sống

III. Kết bài: nêu cảm nhận về đoạn 2 bài thơ Vội Vàng

Ví dụ:

Đoạn 2 bài thơ Vội vàng thể hiện nỗi lo lắng của tác giả về thời gian và cuộc sống. đồng thời đoạn 2 còn thể hiện mong muốn cuộc sống, mong muốn được sống hòa cũng thiên nhiên của tác giả.

❤️️ Ngoài Cảm Nhận Khổ 2 Bài Vội Vàng, mời bạn tiếp tục đón đọc những nội dung hấp dẫn khác được biên soạn riêng có tại SCR.VN ❤️️

👉 Cảm Nhận Về Bài Thơ Nhàn👉 Cảm Nhận Bài Thơ Ánh Trăng
👉 Cảm Nhận Về Bài Thơ Đồng Chí 👉 Phân Tích Bài Thơ Chiều Tối
👉 Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ👉 Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Ánh Trăng
👉 Thơ Lê Anh Xuân👉 Thơ Quang Dũng 
👉 Thơ Phan Thị Thanh Nhàn 👉 Dàn Ý Bếp Lửa 

Viết một bình luận