Thuyết Minh Về Tác Giả Phạm Ngũ Lão [22+ Bài Văn Hay Nhất]

Thuyết Minh Về Tác Giả Phạm Ngũ Lão ❤️️ 22+ Bài Văn Hay Nhất ✅Tuyển Tập Văn Mẫu Đặc Sắc Giới Thiệu Về Tác Giả Phạm Ngũ Lão Hay Nhất.

Dàn Ý Thuyết Minh Về Tác Giả Phạm Ngũ Lão

Cùng tham khảo mẫu Dàn ý thuyết minh về tác gỉa Phạm Ngũ Lão chi tiết và đầy đủ giúp các em có thể hoàn thiện bài văn của mình.

I. Mở bài: Giới thiệu sơ lược về Phạm Ngũ Lão

II. Thân bài:

* Giới thiệu chung: Là viên tướng kiệt suất của quân ta dưới thời nhà Trần.

* Tiểu sử – Cuộc đời

  • Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên).
  • Thuở nhỏ ông đã có chí khí khác thường, tính tình khẳng khá
  • Là con rể (lấy con gái nuôi) của Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. 
  • Ông có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên
  • Là võ tướng nhưng ông thích đọc sách -> là người văn võ song toàn.
  • Phạm Ngũ Lão là vị tướng luôn có mặt ở những trận quyết chiến quan trọng và luôn tự mình xông lên giết giặc làm gương cho ba quân tướng sĩ. Cuộc đời ông là cuộc đời gắn liền với chiến trận và những chiến công vang dội.
  • Ông là người luôn lấy công danh, lấy sự nghiệp của Tổ quốc với nhân dân lên hàng đầu. 

* Sự nghiệp văn học: Tác phẩm của ông hiện còn hai bài thơ là: 

  • Tỏ lòng ( Thuật hoài ) 
  • Viếng Thượng tướng quốc công Trần Hưng Đạo ( Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương).

=> Ông là vị tướng văn võ song toàn, được nhân dân ta đời đời kính ơn.

III. Kết bài: Nêu cảm nghĩ của bản thân về tác giả Phạm Ngũ Lão.

Bài Thuyết Minh Về Tác Giả Phạm Ngũ Lão Chi Tiết – Bài 1

Đón đọc bài văn thuyết minh về tác giả Phạm Ngũ Lão chi tiết với những gợi ý thú vị giúp các em học sinh hoàn thành tốt bài viết của mình.

Cùng với Dã Tượng, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão là một trong những vị. tướng xuất sắc của triều đại nhà Trần. Ông còn được người đời sau biết đến trong tư cách một nhà thơ khi sáng tác Thuật hoài.

Phạm Ngũ Lão (1255 — 1320), người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Theo sách Tông phả bì yếu tân biên của Phạm Côn Sơn, Phạm Ngũ Lão là cháu tám đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh. 

Người đời sau vẫn lưu truyền một giai thoại về Phạm Ngũ Lão: Tương truyền, Hưng Đạo Vương cùng tuỳ tùng đi ngang qua Đường Hào thấy Phạm Ngũ Lão ngồi bên vệ đường đang đan sọt. Quân lính kéo đến, dẹp lối đi Phạm Ngũ Lão vẫn ngồi thản nhiên, như không để ý đến ai cả. Quân lính cầm giáo đâm vào đùi chảy máu mà ông vẫn không nhúc nhích. Thấy vậy Vương dừng lại hỏi, bấy giờ Phạm Ngũ Lão mới trả lời rằng đang nghĩ một câu trong binh thư nên không để ý. Biết người có tài, Trần Hưng Đạo cho ông ngồi cùng kiệu đưa về kinh. Từ đó Phạm Ngũ Lão trở thành môn khách của Trần Hưng Đạo.

Trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên (lần thứ hai và lần thứ ba), Phạm Ngũ Lão lập được nhiều chiến công. Năm 1285,ông cùng với Trần Quang Khải tiến đánh Chương Dương, Hàm Tử, đập tan đội binh khuyển khổng lồ của giặc và diệt quân Nguyên chiếm đóng Thăng Long. Sau đó, Phạm Ngũ Lão được lệnh mang ba vạn quân phục kích đán địch ở Vạn Kiếp, chặn đường địch rút chạy lên biên giới phía bắc và diệt được hai phó tướng địch là Lí Quán và Lí Hằng.

Tướng quân họ Phạm đã bốn lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm, quấy nhiễu của quân Ai Lao; hai lần Nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành, buộc vua Chiêm là Chế Chí phải xin hàng.

Phạm Ngũ Lão được Trần Hưng Đạo tin yêu, mến phục và gả con gái nuôi là quận chúa Anh Nguyên. Năm 1290, vua Trần Nhân Tông giao cho ông cai quản quân Thánh Dực, phong chức Hữu Kim ngô Đại tướng quân. Đến đời vua Trần Anh Tông, ông được thăng tới chức Điện suý Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu.

Không chỉ có tài về quân sự, Phạm Ngũ Lão còn có năng khiếu và chương. Ông rất thích đọc sách, ngâm thơ và từng viết nhiều bài thơ về chí làm trai, lòng yêu nước nhưng hiện nay tác phẩm của ông chỉ còn lại Thuật hoài và Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương.

Ngày mùng 1 tháng 11 năm 1320, Phạm Ngũ Lão mất, hưởng thọ 66 tuổi. Vua Trần Minh Tông nghỉ chầu năm ngày để tỏ lòng thương tiếc. Nhân dân xã Phù Ủng dựng đến thờ Phạm Ngũ Lão ngay trên nền nhà cũ của ông. Ông cũng được phối thờ tại đền Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương tại đền thờ Trần Hưng Đạo.

Với những chiến công hiển hách và với Thuật hoài, Phạm Ngũ Lão đã trở thành nhân vật ưu tú của thời đại nhà Trần. Ông xứng đáng được muôn đời ngợi ca, tôn vinh. 

Đọc thêm văn❤️️ Thuyết Minh Về Tác Giả Nam Cao ❤️️ 10 Bài Văn Mẫu Hay

Thuyết Minh Về Tác Giả Phạm Ngũ Lão Hay – Bài 2

Tham khảo bài văn thuyết minh về tác giả Phạm Ngũ Lao hay thể hiện qua từng câu văn, cách dùng từ ngữ sinh động và sáng tạo.

Phạm Ngũ Lão được biết đến là một con người văn võ toàn tài. Ông là một trong những tác giả nổi tiếng của thời đại nhà Trần. Phạm Ngũ Lão sinh năm 1255, mất năm 1320. Ông là người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Theo sách “Tông phả kỷ yếu tân biên” của Phạm Côn Sơn dẫn gia phả họ Phạm, ông là cháu đời thứ tám của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh.

Từ khi còn nhỏ, cậu bé Ngũ Lão đã tỏ ra khác thường, tính tình khẳng khái. Khi ở làng có người đỗ Tiến sĩ (Bùi Công Tiến) tổ chức ăn mừng, cả làng kéo đến, riêng ông thì không. Đến khi người mẹ hỏi, Ngũ Lão thưa với mẹ: “Chí làm trai phải lập công danh rạng rỡ non sông mà con chưa lập được bằng người, đi mừng người ta nhục lắm”.

Cũng thời gian ấy, Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn có việc quân qua vùng đất Phù Ủng. Phạm Ngũ Lão đang ngồi đan sọt ngoài đường mải nghĩ về binh thư nên không biết quan quân trảy đến. Một người lính dẹp đường quát mãi, chàng trai đan sọt vẫn cứ ngồi yên. Người lính bèn dùng giáo xuyên vào đùi kẻ cản đường, vậy mà ông vẫn không có phản ứng gì. Thấy lạ, Hưng Đạo Vương mới đến hỏi. Qua lời đối đáp, Hưng Đạo Vương nhận thấy tài năng của Phạm Ngũ Lão. Ông sai lính lấy thuốc trị vết thương rồi cho mời về triều.

Sau này, Phạm Ngũ Lão còn trở thành con rể (lấy con gái nuôi) của Trần Hưng Đạo, được giữ đội quân hữu vệ. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông, ông thể hiện là một vị tướng tài ba, đã có công lao vô cùng lớn góp phần vào chiến thắng của quân đội nhà Trần.

Tuy Phạm Ngũ Lão là một tướng võ nhưng lại thích đọc sách, ngâm thơ và được người đời ca ngợi là văn võ toàn tài. Các tác phẩm của ông hiện còn hai bài thơ là “Tỏ lòng” (Thuật hoài) và Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương). Nhưng chỉ với hai bài thơ này, ông được sử gia Ngô Sĩ Liên đánh giá: “Các tướng giỏi đời Trần như Hưng Đạo Vương thì học vấn tỏ ra ở bài Hịch, còn Phạm Điện Súy thì hiện ra ở câu thơ”.

Đặc biệt hơn cả là bài thơ Tỏ lòng, được sáng tác sau chiến thắng quân Nguyên – Mông của quân đội nhà Trần. Đây là bài thơ thuộc loại thơ “nói chí tỏ lòng”. Bài thơ “Tỏ lòng” (Thuật hoài) của ông đã khắc họa đã khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh cũng như lý tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại. Đồng thời, qua đó, tác giả muốn bày tỏ nỗi lòng cũng như chí hướng của bản thân:

“Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

Theo tư tưởng Nho giáo, “công danh” chính là lập công để lưu danh vào sử sách, để lưu lại tiếng thơm cho đời sau. Đó chính là một món nợ lớn của bất kì đấng nam nhi nào thời xưa. “Công danh” đã trở thành lý tưởng đối với họ dưới trong triều đại phong kiến. Phạm Ngũ Lão là một người văn võ song toàn, nhưng vẫn luôn thấy bản thân còn mắc nợ – món nợ “công danh”. Nhà thơ đã mượn điển tích về nhân vật Vũ Hầu – một bề tôi trung thành nhất nhì trong lịch sử Trung Quốc để nói chí tỏ lòng. Khi nhắc đến điển tích này, Phạm Ngũ Lão tự cảm thấy “thẹn” – hổ thẹn với lòng khi chưa lập được công danh với đời. Qua đó, ta thấy được một nhân cách cao đẹp của nhà thơ, với hoài bão to lớn đáng ngưỡng mộ.

Phạm Ngũ Lão chính là một trong những con người vĩ đại trong thời đại nhà Trần. Các tác phẩm của ông để lại tuy không nhiều, nhưng đều có ý nghĩa.

Xem thêm văn ❤️️Thuyết Minh Về Tác Giả Nguyễn Dữ ❤️️ 10 Bài Văn Mẫu Hay

Thuyết Minh Về Tác Giả Phạm Ngũ Lão Ngắn Gọn – Bài 3

Cùng đón đọc bài văn mẫu Thuyết minh về tác giả Phạm Ngũ Lão ngắn gọn dưới đây, đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích để các em có thể ôn tập thật tốt cho kì thi của mình.

Phạm Ngũ Lão  là danh tướng nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là người góp công rất lớn trong cả hai cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1288. Đương thời, danh tiếng của ông chỉ xếp sau Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn – người được xem như vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử quân sự phong kiến Việt Nam.

Phạm Ngũ Lão là người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Hải Dương (nay là làng Phù Ủng xã Phù Ủng huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), Việt Nam. Theo sách Tông phả kỷ yếu tân biên của Phạm Côn Sơn dẫn gia phả họ Phạm, ông là cháu 8 đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh. Ngay từ thuở nhỏ, cậu bé Ngũ Lão đã tỏ ra khác thường, tính tình khẳng khái.

Cũng thời gian ấy, Hưng Đạo Vương có việc quân qua vùng đất Phù Ủng. Phạm Ngũ Lão đang ngồi đan sọt ngoài đường mải nghĩ về cuốn sách Binh thư nên không biết quan quân trảy đến. Một người lính dẹp đường quát mãi, chàng trai đan sọt vẫn cứ ngồi yên. Người lính bèn dùng giáo xuyên vào đùi kẻ cản đường, vậy mà người đan sọt cứ như không. Tướng công thấy vậy bèn ra nói chuyện với chàng trai. Qua đối đáp trôi chảy của chàng trai nông dân, Tướng công thầm hiểu đây sẽ là một vị lương tướng của triều đình. Ông sai lính lấy thuốc trị vết thương rồi cho mời về triều.

Sau khi về kinh đô, Hưng Đạo Vương tiến cử Phạm Ngũ Lão lên Triều đình với chức cai quản quân Cấm vệ. Vệ sĩ biết ông là nông dân thì không phục bèn xin tâu được cùng ông thử sức. Phạm Ngũ Lão bằng lòng, nhưng trước khi vào đấu sức, ông xin về quê 3 tháng. Về quê, ngày nào Phạm Ngũ Lão cũng ra cái gò lớn ngoài đồng, đứng cách một tầm mà nhảy lên, nhảy mãi cho đến khi cái gò bị sạt mất một nửa. Hết hạn, ông trở về cấm thành, cùng các vệ sĩ so tài. Thấy ông tiến thoái như bay, tay đấm, chân đá thoăn thoắt, xem ra sức có thể địch nổi cả vài chục người. Từ đó, quân vệ sĩ bái phục ông.

Không chỉ có tài về quân sự, mà ông còn để lại nhiều bài thơ về chí trai, lòng yêu nước. Tiếc là hiện nay tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài là Thuật hoài (Tỏ lòng) và Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương). Ngoài ra ông còn được Trần Hưng Đạo gả con gái (con gái nuôi) là quận chúa Anh Nguyên.

Ngày 1 tháng 11 năm 1320, Phạm Ngũ Lão mất, hưởng thọ 66 tuổi. Vua Trần Minh Tông nghỉ chầu 5 ngày và phong ông là Thượng Đẳng Phúc Thần, đây là một đặc ân của nhà vua đối với ông. Nhân dân xã Phù Ủng dựng đền thờ ngay trên nền nhà cũ của ông. Ông cũng được phối thờ tại đền Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương tại đền thờ Trần Hưng Đạo.

Tham khảo bài ✅Thuyết Minh Về Tác Giả Nguyễn Trãi Lớp 10✅ Hay nhất

Thuyết Minh Về Tác Giả Văn Học Phạm Ngũ Lão Điểm Cao – Bài 4

Scr.vn chia sẻ cho các em học sinh bài Thuyết minh về tác giả văn học Phạm Ngũ Lão điểm cao dưới đây để tham khảo cách hành văn đặc sắc và áp dụng nó vào bài văn trên lớp của mình.

Phạm Ngũ Lão là một trong những vị tướng xuất sắc của triều đại nhà Trần. Ông còn được người đời sau biết đến trong tư cách một nhà thơ khi sáng tác bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài).

Phạm Ngũ Lão sinh năm 1255, người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Theo sách “Tông phả bì kỷ yếu tân biên” của Phạm Côn Sơn, Phạm Ngũ Lão là cháu tám đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh.

Tương truyền, Hưng Đạo Vương cùng tuỳ tùng đi ngang qua Đường Hào thấy Phạm Ngũ Lão ngồi bên vệ đường đang đan sọt. Quân lính kéo đến, dẹp lối đi nhưng ông vẫn ngồi thản nhiên. Quân lính cầm giáo đâm vào đùi chảy máu mà ông vẫn không nhúc nhích. Thấy vậy Hưng Đạo Vương lại gần hỏi, bấy giờ Phạm Ngũ Lão mới trả lời rằng đang nghĩ một câu trong binh thư nên không để ý. Biết người có tài, Trần Hưng Đạo cho ông ngồi cùng kiệu đưa về kinh. Từ đó Phạm Ngũ Lão trở thành môn khách của Trần Hưng Đạo.

Trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên (lần thứ hai và lần thứ ba), Phạm Ngũ Lão đã lập được nhiều chiến công. Năm 1285, ông cùng với Trần Quang Khải tiến đánh Chương Dương, Hàm Tử, đập tan đội binh khuyển khổng lồ của giặc và diệt quân Nguyên chiếm đóng Thăng Long. Sau đó, Phạm Ngũ Lão được lệnh mang ba vạn quân phục kích đánh địch ở Vạn Kiếp, chặn đường địch rút chạy lên biên giới phía bắc và tiêu diệt được tướng địch của giặc.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba, Phạm Ngũ Lão cùng các tướng bày trận phục kích đường rút lui của giặc trên sông Bạch Đằng. Trận này quân nhà Trần bắt sống các tướng giặc Phàn Tiếp, Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhị. Phạm Ngũ Lão tiếp tục truy kích cánh quân của Thoát Hoan trên đường bộ. Ông đã có những đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông.

Phạm Ngũ Lão được Trần Hưng Đạo tin yêu, mến phục và gả con gái nuôi là quận chúa Anh Nguyên. Năm 1290, vua Trần Nhân Tông giao cho ông cai quản quân Thánh Dực, phong chức Hữu Kim ngô Đại tướng quân. Đến đời vua Trần Anh Tông, ông được thăng tới chức Điện súy Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu.

Không chỉ có tài về quân sự, Phạm Ngũ Lão còn có năng khiếu và chương. Ông rất thích đọc sách, ngâm thơ và từng viết nhiều bài thơ về chí làm trai, lòng yêu nước nhưng hiện nay tác phẩm của ông chỉ còn lại Thuật hoài và Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương.

Năm 1320, Phạm Ngũ Lão mất, hưởng thọ sáu mươi lăm tuổi. Khi ông mất, via Trần Minh Tông đã ra lệnh nghỉ chầu năm này để tỏ lòng thương nhớ. Nhân dân xã Phù Ủng dựng đến thờ Phạm Ngũ Lão ngay trên nền nhà cũ của ông.

Với những chiến công hiển hách và với Thuật hoài, Phạm Ngũ Lão đã trở thành nhân vật ưu tú của thời đại nhà Trần. Ông xứng đáng được muôn đời ngợi ca, tôn vinh.

Đọc thêm văn mẫu ✅Thuyết Minh Về Tác Giả Nguyễn Du

Bài Văn Thuyết Minh Về Tác Giả Phạm Ngũ Lão Ngắn Nhất – Bài 5

Bài văn thuyết minh về tác giả Phạm Ngũ Lão ngắn nhất được nhiều bạn đọc quan tâm và chia sẻ trên các diễn đàn văn học nổi tiếng sau đây.

Phạm Ngũ Lão sinh năm Ất Mão (1255), tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là Ân Thi, Hưng Yên, mất năm Canh Thân (1320), thọ 65 tuổi. Khi Phạm Ngũ lão mất, Vua Trần Minh Tông vô cùng thương tiếc thương tiếc nên nghỉ chầu đến năm ngày. Đó là một ân điển đặc biệt mà đương thời, ngay cả quý tộc họ Trần cũng không mấy ai có được.

Về việc Phạm Ngũ Lão được hưởng ân huệ đặc biệt này, sách Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ, quyển 6, tờ 38 a – b) chép rằng: “Ngũ Lão xuất thân trong hàng quân ngũ nhưng rất thích đọc sách, sống phóng khoáng, có chí lớn thích ngâm thơ, xem qua có vẻ như không để ý đến việc võ bị nhưng quân do ông chỉ huy thực là đội quân trên dưới như cha con, hễ đánh là thắng”.

Ông là danh tướng giỏi của triều Trần, là chỗ dựa tin cậy của 3 triều vua nhà Trần. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên lần thứ hai (1285-1287) và lần thứ ba (1288) ông lập được nhiều chiến công lớn tại các trận: Tây Kết, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, Nội Bàng, Lạng Sơn… Từ năm 1294 đến 1318, Phạm Ngũ Lão đã bốn lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm, quấy nhiễu của quân Ai Lao, hai lần Nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành, buộc vua Chiêm là Chế Chí phải xin hàng. Năm 1302, nghịch thần Biếm nổi lên chống lại triều đình, cũng bị Phạm Ngũ Lão đập tan.

Năm 1290, vua Trần Nhân Tông giao cho ông cai quản quân Thánh Dực, phong chức Hữu Kim ngô Đại tướng quân. Đến đời vua Trần Anh Tông, ông được thăng tới chức Điện suý Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu.

Không chỉ có tài về quân sự, mà còn để lại nhiều bài thơ về chí trai, lòng yêu nước. Hiện nay tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài là Thuật hoài (Tỏ lòng) và Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương  (Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương). Tuy chỉ còn tồn tại 2 bài ít ỏi nhưng giá trị của hai tác phẩm này là vô giá với người đời.

Xem thêm ❤️️Thuyết Minh Về Tác Giả Nguyễn Trãi ❤️️ Cuộc Đời Và Sự Nghiệp

 Thuyết Minh Về Tác Giả Phạm Ngũ Lão Và Tác Phẩm Tỏ Lòng Đặc Sắc – Bài 6

Hướng dẫn các em học sinh cách thuyết minh về tác giả Phạm Ngũ Lão và tác phẩm Tỏ Lòng đặc sắc thông qua bài văn mẫu gợi ý dưới đây.

Tác giả Phạm Ngũ Lão là người con được sinh ra trên mảnh đất Phù Ủng (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) vào năm Ất Mão – 1255. Ông sinh vào thời vương triều nhà Trần đang cùng quân dân cả nước đứng lên chống lại quân xâm lược Nguyên – Mông lần thứ 2. Xuất thân của ông đã là một huyền thoại đối với dân gian, con người làng Phù Ủng ấy với tính tình khẳng khái, ý chí khác người, luôn phấn đấu không ngừng trên con đường công danh của mình.

Có thể thấy được một người có xuất thân từ miền quê bình thường, nhưng lại lọt vào con mắt của vị đại tướng triều Trần, điều này đã chứng tỏ được tài chí của Phạm Ngũ Lão cũng như khả năng dùng người của các thánh tướng thời bấy giờ. Với tài năng thiên bẩm của mình, lại được sự chỉ dạy của đích thân thánh tướng Trần Quốc Tuấn đã giúp ông mau chóng trở thành người vị tướng kiệt xuất trong cả hai lần cùng dân tộc đánh dậy đánh bại quân Nguyên – Mông.

Những ngày tháng sau đó, ông trở thành phò tá đắc lực cho ba đời vua Trần, lập không ít chiến công, đánh dẹp quân Chiêm Thành và Ai Lao, cũng như dẹp loạn tại các vùng biên giới. Là người đức độ tài cao, Phạm Ngũ Lão đã là nhân vật đi vào lịch sự được các thế hệ mến mộ, kính trọng, những con người quê hương Phù Ủng luôn thờ và nhớ ơn ông. Cho đến ngày nay, trên khắp cả nước có rất nhiều nơi lập đền thờ để thờ danh tướng Phạm Ngũ Lão, để đời đời con cháu ghi nhớ công ơn của ông.

Chính bởi Phạm Ngũ Lão là người chinh chiến trên chiến trường nhiều năm, nên ông luôn đề cao vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng dân tộc, anh dũng, hiên ngang với tư tưởng lớn lao, thế nên ngay trong hai câu thơ đầu bài Tỏ Lòng tác giả đã thể hiện hình ảnh người anh hùng với khí chất hùng dũng:

“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
Tam quốc tì hổ khí thôn ngưu”

Phạm Ngũ Lão không hề chỉ định rõ chủ ngữ là ai, nhưng khi đọc ai cũng có thể liên tưởng đến ông đang nói về một người anh hùng dân tộc – những con người không phân biệt bất kể thời gian, không gian hoàn cảnh như thế nào, học chỉ cần biết rằng dù là nơi đâu trên mảnh đất này đều là tình yêu của họ, và rồi dù có phải “trải mấy thu” thì họ vẫn luôn như vậy, vẫn luôn một lòng yêu nước đến bất tận, và từ những con người trân quý như vậy, đạo tạo ra một quân đội hùng mạnh.

Cả cuộc đời của Phạm Ngũ Lão, ông luôn muốn được làm gì đó cho nước, cho dân. Sự bày tỏ sự hổ thẹn của mình càng khiến cho người đọc cảm nhận được nhân cách cao cả của ông, ông có một lý tưởng thực sự của một người anh hùng, xứng đáng trở thành một đấng nam nhi ở thiên hạ.

Thế nhưng đối với ông, như thế vẫn là chưa đủ, ông vẫn luôn cảm thấy sự cống hiến của bản thân dành cho đất nước là quá ít. Từ đó ông luôn tự nhủ với bản thân mình phải thật sự cố gắng hơn nữa, cống hiến nhiều hơn nữa. Những lời văn, ý thơ, từ ngữ được ông sử dụng với giọng điệu đầy hào hùng, dứt khoát đã góp phần không nhỏ thể hiện lòng quyết tâm cùng với tâm tư tình cảm của Phạm Ngũ Lão, người đọc hoàn toàn có thể thấy ông là một vị tướng “văn võ song toàn”.

Qua tác phẩm Tỏ Lòng, Phạm Ngũ Lão đã để lại cho các thế hệ sau này một bài học quý báu, sâu sắc về lý tưởng sống, ông hướng cho các thế hệ mai sau một suy nghĩ sống là phải không ngừng phấn đấu, không ngừng vươn lên, luôn hướng bản thân đến những điều tốt đẹp, luôn cố gắng phấn đấu hết sức mình để góp phần bảo vệ quê hương, tổ quốc, non sông thân yêu.

Với biện pháp tu từ “Thậm xưng” được tác giả sử dụng chính trong bài thơ đã tăng thêm phần sáng tạo, chính vì vậy những hình tượng thơ trong bài luôn mang một tầm vóc vũ trụ. Những hình ảnh được tác giả mang ra so sánh trong bài thơ cũng hết sức độc đáo, nó không chỉ khơi nguồn cảm hứng trong thơ ca mà còn thể hiện sức mạnh dân tộc to lớn, trở thành một thành tích thơ ca sáng gia trong nền văn học nước nhà thời bấy giờ.

Qua bài bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão sẽ thấy rằng tác giả đã thể hiện thành công, nổi bật hình ảnh người chiến sĩ anh hùng với những khao khát, ước mơ cháy bỏng có thể lập được chiến công để báo nợ đất nước, báo đáp ơn vua. Khát vọng ấy, thể hiện rực rỡ tấm lòng kiên trung, ái quốc của người anh hùng dân tộc.

Bài thơ được ông viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, với giọng điệu oai vệ, hùng tráng, ngôn ngữ, ý thơ lại mạnh mẽ, hàm súc, bài thơ như một khúc tráng ca, nêu cao hình ảnh của những người chiến sĩ đời Trần.

Gợi ý ❤️️Thuyết Minh Về Tác Giả Trương Hán Siêu ❤️️12 Bài Văn Hay

Thuyết Minh Về Tác Phẩm Tỏ Lòng Của Tác Giả Phạm Ngũ Lão Ấn Tượng – Bài 7

Bài thuyết minh về tác phẩm Tỏ Lòng của tác giả Phạm Ngũ Lão ấn tượng sau đây sẽ gợi ý cho các em thêm nhiều ý văn đặc sắc để hoàn thiện bài văn thật tốt.

 Triều đại nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử gia ngợi ca là “Hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt, chẳng hạn như tác phẩm “Thuật hoài” ( Tỏ lòng ) của Phạm Ngũ Lão.

Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán: “Thuật hoài” và “Vãn Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương”.

Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó là bức chân dung tự hoạ của danh tướng Phạm Ngũ Lão.

Hoành sóc giang san kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang dũng mãnh. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn kháp kỷ thu” là một câu thơ có hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, vừa mang tầm vóc không gian (giang sơn) vừa mang kích thước thời gian chiều dài lịch sử (kháp kỷ thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý.

Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo (tỳ hổ) quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời. Hoặc có thể hiểu : ba quân thế mạnh nuốt trôi trâu. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, vũ trụ: “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”.

Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” đánh đâu thắng đấy mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc.

Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Trần Quốc Toản) – “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng” (Trần Quốc Tuấn)…

Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên đang gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về những chiến tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự nghiệp anh hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng một điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã:

“Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

 “Công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân.

Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm. Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu “Khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai,…” để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non sông nghìn thuở vững âu vàng”.

Thuật hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm, mang phong vị anh hùng ca. Nó mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời “hào khí Đông-A”.

Trọn bộ 🍃Thẻ Cào Miễn Phí🍃 các nhà mạng, thẻ game mới nhất

Viết một bình luận