Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư
Thủ Thuật Mới 🔰

Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư ❤️️ Mẫu Bài Giảng, Giáo Án

Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư ❤️️ Mẫu Bài Giảng, Giáo Án ✅ Chia Sẻ Những Bài Viết Hay Xoay Quanh Bài Thơ Nổi Tiếng Của Hạ Tri Chương.

Hồi Hương Ngẫu Thư

Hồi Hương Ngẫu Thư được đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông là bài đầu tiên trong chùm thơ đặc sắc viết về quê hương của tác giả Hạ Tri Chương.

Hồi hương ngẫu thư kỳ 1
Tác giả: Hạ Tri Chương

回鄉偶書其一
少小離家老大迴,
鄉音無改鬢毛摧。
兒童相見不相識,
笑問客從何處來。

Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vấn, khách tòng hà xứ lai?

Dịch nghĩa:
Tuổi trẻ ra đi, già mới về,
Giọng nhà quê vẫn không đổi, râu tóc đã rụng hết.
Trẻ con trong thấy, không nhận ra,
Cười hỏi, khách từ phương nào đến?

Cùng với Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư, gửi đến bạn 🍃 Tương Tư Nguyễn Bính 🍃 ý nghĩa.

Soạn Văn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư

Soạn Văn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư sẽ cung cấp cho bạn đọc những thông tin hữu ích xoay quanh bài thơ này.

Câu 1:

  • Lí do để bài thơ ra đời là một nghịch lí ngậm ngùi bị gọi là khách ngay trên chính quê hương mình trong ngày đầu tiên trở về.
  • Khác với Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch ở xa quê nhớ quê nên mới viết về quê.

Câu 2:

Hai câu đầu của bài thơ này có hình thức tiểu đối: Thiếu tiểu li gia / lão đại hồi, Hương âm vô cải / mấn mao tồi. Hai câu đối, mỗi câu hai vế, mỗi vế có hai bộ phận đối nhau rất chỉnh. “Li gia” đối với “hồi”, “hương âm” đối với “mấn mao” là chỉnh cả ý lẫn lời; “thiếu tiểu” đối với “lão đại”, “vô cải” đối với “tồi”.

Tuy có hơi chênh về lời song về ý rất chỉnh (thiếu tiểu: còn nhỏ; lão đại: về già; vô cải: không thay đổi; tồi: chỉ sự thay đổi). Xét về ý nghĩa ngữ pháp, “thiếu tiểu” và “lão” đều là chủ ngữ cũng như “vô cải” và “tồi” đều là vị ngữ, hai câu đối đọc lên nghe rất hài hoà.

Hình thức tiểu đối trong hai câu này đã giúp nhà thơ thể hiện những ý nghĩa rất khái quát trong một lượng câu chữ ít ỏi. Câu thơ đầu nói về quãng thời gian gần suốt cả cuộc đời xa quê đồng thời hé lộ tình cảm quê hương của nhà thơ.

Câu thơ thứ hai dùng một yếu tố thay đổi (mái tóc) để làm nổi bật yếu tố không thay đổi (tiếng nói quê hương). Nói “hương âm vô cải” là đã động đến phần tinh tế trong sâu thẳm tâm hồn (người thấy tiếng nói quê hương không thay đổi qua mấy chục năm trời hẳn là người luôn nghĩ về quê hương).

Câu 3:

Phương thức biểu đạtTự sựMiêu tảBiểu cảmBiểu cảm qua tự sựBiểu cảm qua miêu tả
Câu 1XXX
Câu 2XXX

Tuỳ từng cách giải thích (căn cứ và dấu hiệu ngôn ngữ hoặc căn cứ vào tình cảm và mục đích biểu hiện của bài thơ) mà có thể đưa ra cách lựa chọn theo ý kiến của mình.

Câu 4: Sự khác nhau về giọng điệu biểu đạt ở hai câu trên và hai câu dưới:

  • Hai câu trên:

Trẻ đi, già trở lại nhà
Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu

Giọng điệu miêu tả, tự sự và thoáng chút ngậm ngùi, tâm sự của người con xa quê lâu ngày nay mới được trở về.

  • Hai câu dưới:

Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?

Giọng điệu hóm hỉnh, bi hài:
Sự ngây thơ, hồn nhiên của trẻ thơ.
Hoàn cảnh trớ trêu, bị gọi là khách ngay trên quê nhà.
Cảm giác bơ vơ, lạc lọng khi trở về quê không còn người thân thích, quen biết, nỗi ngậm ngùi đau xót.
Câu hỏi hồn nhiên của các em nhỏ làm cho tác giả vừa vui, vừa buồn.

Xem nhiều hơn chùm 🍀 Thơ Ý Nhi 🍀 độc đáo và thú vị.

Soạn Văn 7 Hồi Hương Ngẫu Thư

Soạn Văn 7 Hồi Hương Ngẫu Thư chia sẻ những video soạn bài và bài giảng hay nhất để bạn có thêm cho mình những kiến thức bổ ích.

Cùng với Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư, gửi tặng bạn 💕 Thơ Tố Hữu 💕 hay và ý nghĩa.

Bài Giảng Hồi Hương Ngẫu Thư

Bài Giảng Hồi Hương Ngẫu Thư được biên soạn rõ ràng và khoa học sẽ mang lại cho bạn những cảm nhận mới về bài thơ.

I/ MỤC TIÊU:

  • Thấy được tính độc đáo trong việc thể hiện tình cảm quê hương sâu nặng của nhà thơ.
  • Bước đầu nhận biết phép đối trong câu cùng tác dụng của nó.

II. Phương pháp và phương tiện dạy học

  • Đàm thoại,diễn giảng
  • SGK + SGV + giáo án

III. Nội dung và phương pháp lên lớp

1. Ổn định lớp1 phút

2. Kiểm tra bài cũ:5 phút.

2.1 Hai câu thơ đầu gợi tả gì? Cảnh đó như thế nào?

2.2 Tác giả nhìn trăng để làm gì? Thấy trăng tác giả ra sao?

2.3 Phép đối có tác dụng gì?

3. Giới thiệu bài mới

Hoạt động của thầy và tròNội dung
GV dựa vào SGK giới thiệu vài nét về tác giả.GV gọi HS đọc bài thơ.Bài thơ thuộc thể thơ nào?GV hướng dẫn HS tìm hiểu tình cảm quê hương thể hiện ở nhan đề.Tình quê hương thể hiện ngay từ lúc mới đặt chân tới quê nhà.Ý nghĩa của từ “ngẫu”?Ngẫu thư: ngẫu nhiên viếtà tác giả cảm thấy hụt hẫng nên viết bài thơ.Tình cảm của tác giả như thế nào đối với quê hương?Bài thơ có nghệ thật nào tiêu biểu?ĐốiLi gia >< đại hồi.Hương âm >< mấn mao.Thiếu tiểu >< lão.Vô cải >< tồi.Câu đầu giới thiệu về tác giả như thế nào?Câu đầu giới thiệu khái quát ngắn gọn quãng đời xa quê hé lộ tình cảm quê hương.Trong thời gian xa quê cái gì thay đổi cái gì không thay đổi?Câu hai giới thiệu sự thay đổi về mái tóc, không thay đổi về giọng nói.GV yêu cầu HS trả lời câu hỏi 3 ( Đọc hiểu văn bản SGK trang 127 )Chi biết hình thức kiểu câu trong bài?Câu 1: kể, câu 2: tảPhương thức biểu đạt toàn bài là tình cảm trực tiếp.So sánh giọng điệu của 2 câu trên và 2 câu dưới?Hai câu trên bình thản nhưng phản phất buồn.Hai câu dưới giọng điệu hài sau những lời hóm hỉnh.I. Giới thiệu._ Hạ Tri Chương (659 – 744) tự Qúy Chân, hiệu Tứ Minh cuồng Khách, quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu (Chiết Giang)_ Bài thơ thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.II. Đọc hiểu._ Qua đề bài nhà thơ cho thấy tình cảm quê hương sâu nặng, luôn thường trực trong tâm hồn nhà thơ._ Hai câu đầu sử dụng phép đối:Li gia >< đại hồi.Hương âm >< mấn mao.Thiếu tiểu >< lão.đạiVô cải >< tồi.Câu đầu giới thiệu khái quát ngắn gọn quãng đời xa quê làm quan của tác giả, làm nổi bật sự thay đổi về vóc người; tuối tác. Câu thứ hai dùng yếu tố thay đổi (mái tóc) để làm nổi bật yếu tố không thay đổi (giọng nói quê hương) qua đó cho thấy tình cảm gắn bó của tác giả đối với quê hương._ Tình cảm của tác giả đối với quê hương thể hiện qua các giọng điệu khác nhau của:+ Hai câu đầu dường như bình thản nhưng ẩn chứa nỗi buồn.+ Hai câu cuối bi hài thấp thoáng ẩn hiện sau những lời tường thuật hóm hỉnh.III. Kết luậnBài thơ biểu hiện một cách chân thực mà sâu sắc, hóm hỉnh mà ngậm ngùi tình yêu quê huơng thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân về quê cũ.

Bình giảng bài thơ Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương.

Hạ Tri Chương (659 – 744) là một trong những thi sĩ lớn đời Đường, là bạn vong niên của Thi tiên Lý Bạch. Quê ông ở Cối Kê, thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Đậu tiến sĩ năm 36 tuổi, là đại quan của triều Đường, được hoàng đế Đường Thái Tông và quần thần trọng vọng.

Thơ của Hạ Tri Chương thanh đạm, nhẹ nhàng, gợi cảm, biểu lộ một trái tim hồn hậu đáng yêu. ‘Hồi hương ngẫu thư’ là bài thơ xuất sắc của ông, được nhiều người truyền tụng. Tình yêu quê hương là cảm xúc chủ đạo của bài thơ thất ngôn tứ tuyệt này:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,

Hương âm vô cải, mấn mao tồi.

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,

Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?

Câu thơ thứ nhất dùng thủ pháp tiểu đối nêu lên một cảnh ngộ: phải ly biệt gia đình từ ấu thơ, sống nơi đất khách quê người, mãi đến lúc về già mới được trở về thăm cố hương:

‘Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi’

(Khi đi trẻ, lúc về già)

‘Thiếu tiểu’ với ‘lão đại’, ‘li gia’ với ‘hồi’ hương, đối nhau. Với Hạ Tri Chương, thời gian ly biệt quê hương gia đình không chỉ 3 năm, 15 năm mà hơn nửa thế kỉ, gần suốt một đời người, sao không thương nhớ? Cảnh ngộ ấy là bi kịch của vị đại quan đời Đường trên con đường công danh? Với Hạ Tri Chương, công danh thì thành đạt, nhưng suốt cuộc đời phải ‘li gia’. Nỗi sầu ‘ly gia’ là một trong những nỗi đau của đời người xưa nay.

Câu thơ thứ hai, tác giả một lần nữa sử dụng tiểu đối tương phản rất đặc sắc, để nói lên sự gắn bó thiết tha với quê nhà:

‘Hương âm vô cải mấn mao tồi’

(Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu)

Suốt một đời xa quê, khách ly hương giờ đây mái tóc đã bạc phơ, tóc mai đã rụng, nhưng ‘giọng quê’ (hương âm) vẫn không đổi thay! Chi tiết ‘hương âm vô cải’ (giọng quê không đổi) là một biểu hiện cảm động về tấm lòng tha thiết gắn bó với quê hương. Dòng sữa ngọt ngào, tiếng ru, tình thương của mẹ hiền, công ơn của mẹ cha, đã thấm sâu vào tâm hồn mỗi đứa con. ‘Giọng quê’ chính là tâm hồn của mỗi con người yêu thương, gắn bó với đất mẹ quê cha. Chỉ có kẻ mất gốc, kẻ bạc tình mới thay đổi ‘giọng quê’, mới coi thường tiếng mẹ đẻ!

Trong cái biến đổi ‘mấn mao tồi’ và cái không thể biến đổi ‘hương âm vô cải’, nhà thơ chân thành thổ lộ tấm lòng son sắt thủy chung, sự gắn bó thiết tha của khách ly hương đối với nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Tình cảm ấy rất đẹp, rất đáng tự hào đối với Hạ Tri Chương. Hơn nửa thế kỉ làm quan tại kinh đô Tràng An, đứng trên đỉnh cao danh vọng, sống trong cảnh vàng son, thế mà tình cố hương của ông vẫn vơi đầy trong trái tim, ‘giọng quê’ vẫn đậm đà như xưa. Đó là một sự kỳ diệu của tấm lòng đôn hậu đáng trân trọng ngợi ca.

Hai câu cuối rất hóm hỉnh ghi lại một tình huống nói về một nghịch lí trong cuộc đời. Có câu hỏi và nụ cười hồn nhiên khi gặp ‘người khách lạ’:

‘Nhi đồng tương kiến bất tương thức,

Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?’

Kẻ đi xa, nay trở về làng đã trở thành khách lạ. Trẻ con gặp mà không biết. Thời gian xa quê dài dằng dặc bao năm tháng. Bạn bè tuổi thơ ngày xưa, ai còn ai mất? Vì thế mới có chuyện lạ đời:

‘Trẻ con nhìn lạ không chào,

Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?’

Một câu hỏi hồn nhiên ngây thơ của nhi đồng để lại bao man mác, bâng khuâng trong lòng li khách. Vì cảnh ngộ mà phải xa quê. Tuổi già sức yếu vẫn trở lại cố hương. Tình yêu quê hương của Hạ Tri Chương mới thắm thiết biết bao! Tình cảm ấy rất đẹp, rất chân thành: son sắt và thủy chung. Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:

‘Ngày đi, tóc hãy còn xanh,

Mai về, dù bạc tóc anh, cũng về!’

(‘Nước non ngàn dặm’)

‘Hồi hương ngẫu thư’ của Hạ Tri Chương là một bài thơ hay, cho ta nhiều xúc động. Tác giả sử dụng tiểu đối rất thành công, tạo nên những vần thơ hàm súc, nói ít mà gợi nhiều, đem đến cho người đọc bao liên tưởng về bi kịch và nỗi lòng của khách ly hương. Một hồn thơ thâm trầm, nhẹ nhàng và hồn hậu. Tình yêu thương và tấm lòng son sắt thủy chung của nhà thơ đối với quê hương thấm đẫm trên từng vần thơ.

‘Thơ là tiếng lòng trang trải…’, ‘Hồi hương ngẫu thư’ là tiếng lòng của Hạ Tri Chương. Tiếng lòng ấy mới hồn hậu và đằm thắm biết bao!

Có thể nói, bài thơ “Hồi hương ngẫu thư” đã biểu hiện một cách chân thực sâu sắc mà hóm hỉnh tình yêu quê hương thắm thiết, tinh tế, đáng trân trọng của một viên quan lớn ở đời Đường trong khoảnh khắc vừa đặt chân về quê cũ. Cũng là tiến nói của tình quê, nhưng nếu Lí Bạch từ nơi xa vọng về, nhớ quê, thì Hạ Tri Chương đứng ngay trên mảnh đất quê nhà mà giãi bày tấm lòng tha thiết đối với quê hương. Yêu quê hương, cũng chính là yêu Tổ quốc. Tâm hồn của hai thi sĩ ấy thật cao đẹp.

Ngoài Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư, giới thiệu với bạn tuyển tập 🌨 Thơ Lưu Trọng Lư 🌨

Giáo Án Hồi Hương Ngẫu Thư

Chia sẻ toàn bộ Giáo Án Hồi Hương Ngẫu Thư để bạn chuẩn bị cho mình những giờ dạy và học thật hiệu quả.

I. Mục tiêu bài học

1. Kiến thức

  • Thấy được tính độc đáo trong việc thể hiện tình cảm quê hương sâu nặng trong bài thơ.
  • Bước đầu nhận biết phép đối trong câu cùng tác động của nó.

2. Kĩ năng

  • Đọc và phân tích thơ tứ tuyệt Đường luật.

3. Thái độ

  • Bồi dưỡng lòng yêu quê hương, đất nước, tình cảm gắm bó với quê hương ở học sinh

II. Chuẩn bị tài liệu

  1. Chuẩn bị của Giáo viên
  • Soạn bài, SGK, SGV, đọc sách tham khảo,tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng,các tài liệu: kiến thức cơ bản và bài tập nâng cao.

2. Chuẩn bị của học sinh

  • Chuẩn bị bài,tư liệu liên quan đến bài học,đọc bài, xem trước bài.

III. Tiến trình tổ chức dạy học

1. Ổn định tổ chức

  • Kiểm tra sĩ số:

2. Kiểm tra đầu giờ

  • Kiểm tra vở ghi.
  • Đọc thuộc lòng và diễn cảm bài thơ“Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh”(cả dịch thơ và phần âm)
  • Phân tích mối quan hệ giữa cảnh và tình trong bài thơ để chỉ ra tình cảm của nhà thơ?

3. Bài mới

Hạ Tri Chương (659- 744) không thuộc về nhà thơ hàng đầu đời Đường như Lí Bạch, Đỗ Phủ nhưng ông cũng rất nổi tiếng với bài tứ tuyệt “Hồi hương ngẫu thư”, tình cờ viết nhân lần về quê 744, khi ông đã 86 tuổi và đã xa quê hương nửa thế kỷ.

Hoạt động của GV và HSKiến thức cần đạt
HĐ 1. HD đọc và tìm hiểu chú thích:- GV yêu cầu đọc, GV đọc mẫu, HS đọc lạiI. Đọc và tìm hiểu chú thích1. Đọc:- Giọng chậm, buồn, C3 hơi ngạc nhiên- Nhịp 4/3 => C4: 2/5=> Cả hai bản dịch theo thể lục bát.Bản hai dịch sát hơn
? Đối chiếu dịch thơ và phiên âm?? Tóm tắt vài nét chính về tác giảHạ Tri Chương- HS đọc thầm nhanh các chú thích SGK2. Chú thích:* Tác giả: Hạ Tri Chương (659 – 744)- Tự: Quý Châu, hiệu Tứ Minh.- Quê: Vĩnh Hưng, Việt Châu (Triết Giang – Trung Quốc)- Đỗ tiến sĩ năm 695, làm quan trên 50 năm.- TP: Ông để lại 20 bài thơ* Từ khó:
HĐ 2. HD tìm hiểu văn bản:? Bài thơ thuộc phương thức biểu đạt nào? Thể thơ nào?II. Tìm hiểu văn bản:1. Kiểu văn bản:- Biểu cảm- Thất ngôn tứ tuyệt đường luật
? Văn bản được chia bố cục như thế nào?2. Bố cục:- Hai câu đầu- Hai câu cuối
– HS đọc 2 câu thơ đầu.?Chỉ ra biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu một?4. Phân tích.a. Hai câu thơ đầu* Câu thơ đầu:- Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi.- Nghệ thuật:+ Tiểu đối: .Thiếu – lão.tiểu – đại.li gia – hồi=>Đối chỉnh cả ý và lời
H:Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó trong việc bộc lộ tình cảm của nhà thơ?=> Tác giả khái quát được cuộc đời của mình một cách ngắn gọn: xa quê từ nhỏ, già mới được trở về quê  hé mở tình cảm đối với quê hương của tác giả.
? Khi trở về quê hương, con người của tác giả có điều gì đổi thayH:Cái gì thay đổi và cái gì không thay đổi?– Khi trở về tác giả có sự thay đổi: Tóc bạc, tuổi cao => Tuổi già .- Giọng quê không thay đổi (hương âm vô cải)=> NT đối rất chỉnh về ý:+ Vô cải (không đổi) – tồi (cái thay đổi)
? Cách nói ấy có tác dụng gì? Biểu đạt tính cách gì của nhà thơ?=> Tác giả sử dụng cái thay đổi (mái tóc) để làm nổi bật cái không thay đổi (tiếng nói của quê hương). Đó vừa là chi tiết chân thực, vừa có ý nghĩa tượng trưng làm nổi bật tình cảm gắn bó với quê hương.=> Tác giả là một người yêu quê, gắn bó sâu nặng với quê hương, kể cả lúc ở xa quê.
? Hai câu thơ đầu nói lên điều gì?- HS đọc diễn cảm 2 câu thơ cuối? Khi trở về quê tác giả được đón tiếp như thế nào? (hãy chỉ ra điều đó ở 2 câu thơ cuối)?Tình huống đó có hợp lý không? Vì sao?b. Hai câu thơ cuối- Khi trở về quê tác giả gặp lớp nhi đồng => hỏi: “Khách ở đâu đến ?”=> Một tình huống độc đáo mang tính bi kịch (trở về quê mình lại bị coi là khách)-Thái độ bên ngoài: Vui vẻ, nhưng ẩn chứa bên trong một nỗi buồn, xót xa.
? Em có nhận xét về giọng thơ và thái độ của tác giả ở đây?- GV có thể bình thêm: về nỗi vui và buồn ở đây?H: Hai câu thơ nói lên tâm trạng gì của nhà thơ?=> Tâm trạng đau xót, ngậm ngùi, kín đáo trước những thay đổi của quê nhà. Sự lạc lõng của tác giả.
? Rút ra giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ?- GV gọi 2 HS đọc phần ghi nhớ4. Tổng kết: Ghi nhớ: SGK
HĐ 3. HD luyện tập:- GVgọi HS đọc bài tập phần luyện tập.- Lớp chia nhóm và thảo luận theo nhóm mình.- GV nhận xét, sửa chữa, cho điểmIII. Luyện tập:*Gợi ý:+ So sánh 2 bản dịch thơ+ So sánh về thể thơ (từng câu thơ so với phiên âm)=> Bản dịch thơ của Trần Trọng San hay hơn, sát với phiên âm hơn.

4. Củng cố, luyện tập

  • Cảm nghĩ của em sau khi học xong bài này?

5. Hướng dẫn về nhà

  • Học thuộc lòng bài thơ (phần âm – dịch nghĩa- dịch thơ) và nội dung phân tích bài thơ.
  • So sánh tình yêu quê hương trong 2 bài thơ: “Tình dạ tứ” của (Lí Bạch) và “Hồi hương ngẫu thư” của (Hạ Tri Chương).
  • Chuẩn bị bài :Từ trái nghĩa: Xem trước và trả lời các câu hỏi bài tập.

Bên cạnh Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư còn có Chùm 💌 Thơ Xuân Quỳnh 💌 đặc biệt được chọn lọc dành cho bạn.

Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư Lớp 7

Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư Lớp 7 với những kiến thức và những ý nghĩa mới về bài thơ đặc sắc này.

I. Đôi nét về tác giả Hạ Tri Chương (659 – 744)

  • Tên tự Quý Chân, hiệu Tứ Minh cuồng khách, quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc huyện Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc).
  • Cuộc đời:

Ông đỗ tiến sĩ năm 695
Sau đó ông rời quê hương đến sinh sống, học tập và làm quan trên 50 năm ở kinh đô Trường An, rất được Đường Huyền Tông vị nể.
Đến khi về già, ông xin từ quan về quê làm đạo sĩ – lúc ông rời đi vua có làm thơ ban tặng, các quan lại và hoàng tử đều đến đưa tiễn

  • Con người:

Ông là bạn vong niên của thi hào Lí Bạch, thường gọi Lí Bạch là “trích tiên” (tiên bị đày)
Ông thích uống rượu, tính tình hào phóng, được mọi người yêu quý, kính trọng

  • Sự nghiệp văn chương:

Ông có sở thích làm thơ
Ông để lại cho đời sau 20 bài thơ, trong đó bài thơ Hồi hương ngẫu thư là nổi tiếng nhất

II. Đôi nét về tác phẩm Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê

1. Hoàn cảnh ra đời

  • Sau hơn 50 năm sống và cống hiến cho đất nước ở kinh đô Trường An, Hạ Tri Chương quyết định từ quan trở về quê nhà. Năm 744, ông về đến quê nhà khi đã 86 tuổi. Vô cùng xúc động, nhà thơ đã sáng tác nên bài thơ nổi tiếng Hồi hương ngẫu thư.
  • Hồi hương ngẫu thư là tên chung của những bài thơ được Hạ Tri Chương sáng tác lúc trở về quê nhà. Bài thơ được in trong sách giáo khoa là bài Hồi hương ngẫu thư số 1.

2. Thể thơ

  • Bản gốc do Hạ Tri Chương sáng tác được viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật.
  • Bản dịch thơ của Phạm Sĩ Vĩ và Trần Trọng San đều được viết bằng thể thơ lục bát – thể thơ tiêu biểu của văn học dân gian nước ta → Những người dịch thơ đã thổi hồn dân tộc vào tác phẩm thơ.

3. Phương thức biểu đạt

  • PTBĐ tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm
  1. Giá trị nội dung bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê

Bài thơ thể hiện một cách chân thực mà sâu sắc, hóm hỉnh mà ngậm ngùi tình yêu quê hương thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân trở về quê cũ

  1. Giá trị nghệ thuật bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê
  • Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt
  • Giọng thơ hóm hỉnh, ngậm ngùi
  • Phép đối
  • Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và biểu cảm
  • Sử dụng ngôn ngữ giản dị, mộc mạc
  1. Ý nghĩa nhan đề bài thơ Hồi hương ngẫu thư

Hồi hương nghĩa là trở về quê hương. Đây là lần trở về quê hương sau hơn 50 năm sinh sống, làm quan ở Trường An của tác giả. Đây là chuyến đi cuối cùng của cuộc đời ông, khi ông định cư ở quê hương mình cho đến cuối đời (dù thời gian không lâu). Ngẫu thư nghĩa là ngẫu nhiên viết, sáng tác một cách bất ngờ, không có sự chuẩn bị dự đoán trước. Như vậy nhan đề bài thơ đã hé lộ được tình huống, bối cảnh, những cảm xúc thôi thúc nhà thơ viết nên tác phẩm.

III. Dàn ý phân tích tác phẩm Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê

  1. Mở bài
  • Giới thiệu khái quát về tác giả Hạ Tri Chương (những nét chính về cuộc đời, các sáng tác chính…)
  • Giới thiệu về bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật…)
  1. Thân bài

a. Hai câu thơ đầu: Hoàn cảnh và tình yêu quê hương của tác giả

“Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,

Hương âm vô cải, mấn mao tồi”

  • Câu thơ 1: Nhà thơ sử dụng các hình ảnh đối:

Tiểu (nhỏ, trẻ) – lão – (lớn, già)
Li (rời đi, rời xa) – hồi (trở về, trở lại)
→ Cặp từ đối đã tạo nên sự đăng đối, nhịp nhàng trong câu thơ

→ Đồng thời, kể ra được tình huống cảm động của nhà thơ: rời đi quê hương để xây nghiệp lớn từ khi còn rất trẻ, đến khi trở về quê được thì đã rất già rồi

→ Khoảng thời gian tác giả phải xa quê hương mình là rất lâu, nó dài gần bằng cả một đời người

→ Chính vì thế, giây phút được đặt chân lại trên mảnh đất quê hương trở nên thiêng liêng, cảm động hơn bao giờ hết

→ Cả 2 bản dịch thơ vẫn giữ được cặp hình ảnh đối này.

  • Câu thơ 2: Bức chân dung tự họa về mình của nhà thơ:

Hương âm vô cải – giọng nói quê hương vẫn thế, không có gì thay đổi
Mấn mao tồi – tóc mai đã rụng rồi
→ Cả 2 hình ảnh này đều mang ý nghĩa tượng trưng:

Giọng nói tượng trưng cho những hình ảnh, dấu vết, tình cảm cho quê hương của tác giả – dù nhiều năm như vậy cũng không phai mờ – chỉ nội tâm nhân vật trữ tình
Tóc mai rụng là hình ảnh tượng trưng cho sự chuyển dời của thời gian, ý chỉ thời gian đã trôi qua rất lâu rồi, từ một chàng trai trẻ tuổi trở thành một ông lão rụng cả tóc – gần một đời người đã trôi qua – chỉ ngoại hình nhân vật trữ tình.
→ Hai hình ảnh được đặt cạnh nhau đã bổ trợ ý nghĩa và tôn nhau lên: tuy thời gian đã qua rất lâu, ngoại hình đã thay đổi rất nhiều so với trước đây, nhưng những tình cảm dành cho quê hương thì vẫn vẹn nguyên như thế.

→ Câu thơ khẳng định tình cảm yêu thương tha thiết mà nhà thơ dành cho quê hương của mình.

→ Hai câu thơ đầu như một lời kể, một lời thở dài đầy thỏa mãn, chứa đựng những tình cảm thầm kín, sâu nặng của người con xa quê nay được trở về.

b. Hai câu còn lại: Tình huống và tâm trạng của tác giả khi về thăm quê

“Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,

Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?”

  • Câu thơ diễn tả một tình huống vô cùng trớ trêu mà nhân vật trữ tình gặp phải lúc về quê:

Nhi đồng: chỉ nhũng đứa trẻ nhỏ tuổi, thế hệ mới của ngôi làng, các em sinh ra và lớn lên khi nhà thơ đã rời quê hương lên kinh đô Trường An rất lâu rồi
Bất tương thức: không nhận ra → Những đứa trẻ đang vui chơi không ai nhận ra được tác giả là ai, đối với chúng ông là một người xa lạ
Tiếu vấn: cười hỏi → Hành động thể hiện sự ngây thơ, vui vẻ, niềm nở của những đứa trẻ thơ
Khách tòng hà xứ lai: Khách từ nới nào đến chơi – câu hỏi đưa tác giả từ vị thế một người con về thăm quê trở thành một vị khách đến ghé chơi
→ Câu hỏi và thái độ của những đứa trẻ rất lễ phép, thân thiện và vui vẻ – đối lập hoàn toàn với tâm trạng của nhà thơ, bởi trong tình huống éo le như thế, nhà thơ khó mà vui vẻ được:

Mảnh đất xưa vẫn vậy, nhưng mọi người lại không nhận ra ông
Ông trở thành một con người xa lạ, một vị khách ghé thăm
→ Lũ trẻ càng vui sướng, cười tươi bao nhiêu thì tâm hồn nhà thơ lại càng hụt hẫng, ngậm ngùi, xót xa bấy nhiêu.

→ Tác giả đã sử dụng âm thanh vui tươi, thơ ngây của những đứa trẻ để tạo sự tương phản, từ đó thể hiện sự đau buồn, chua xót của chính mình

→ Từ đó, khẳng định tình yêu quê hương sâu đậm, thiết tha của ông – tuy thời gian đã rất lâu, người dân đã không mấy ai còn nhớ đến ông nữa, và chính ông đã trở thành một người khách – những ông vẫn yêu thương, trân trọng quê hương mình như thuở ban đầu.

  • Bản dịch thơ của Phạm Sĩ Vĩ đã làm mất đi nét nghĩa hay của 2 câu thơ cuối: khi bỏ đi chi tiết tiếng cười của trẻ và tạo thành hình ảnh đứa trẻ không ngoan (thấy lạ nên không chào) → Bản dịch này không được sát nghĩa như bản dịch của Trần Trọng San.

III. Kết bài

  • Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản:

Nội dung: tình yêu quê hương tha thiết của một người sống xa quê lâu ngày trong khoảnh khắc vừa mới trở về
Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, nghệ thuật đối, kết hợp tự sự và biểu cảm

Như vậy là chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn bài Bài thơ: Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê – Nội dung bài thơ, Hoàn cảnh sáng tác, Dàn ý phân tích tác phẩm. Mời các bạn tham khảo thêm đề thi học kì 1 lớp 7 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh.

Hy vọng rằng tài liệu lớp 7 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới.

Ngoài Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư, xem nhiều hơn những bài thơ đặc sắc trong 🌹 Thơ Tản Đà 🌹

Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư Chi Tiết

Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư Chi Tiết và đầy đủ nhất tất cả nội dung kiến thức của bài thơ.

1. Tác giả

– Hạ Tri Chương (659 – 744), tự Qúy Chân, hiệu Tứ Minh cuồng khánh.
– Người Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc huyện Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang).
– Ông đỗ tiến sĩ năn 695, học tập và làm quan ở kinh đô Trường An trên 50 năm.
– Ông là bạn vong niên với Lí Bạch.
– Hạ Tri Chương tính tình phóng khoáng, thích uống rượu, làm thơ. Là thi sĩ lớn đời Đường.
– Tác phẩm còn để lại 20 bài, trong đó có bài “Hồi hương ngẫu thư” nổi tiếng.

2. Tác phẩm

– Thể thơ:

  • Nguyên tác: thất ngôn tứ tuyệt Đường luật .
  • Hai bản dịch thơ đều thành thể lục bát dân tộc: Nhịp lẻ: 4/3, câu cuối: 2/5. Gieo vần: Câu 1 và câu 2. Vần “ôi”.

– Phương thức biểu đạt: Tự sự, miêu tả, biểu cảm.

– Hoàn cảnh sáng tác: Năm 744 , lúc 86 tuổi, Hạ Tri Chương từ quan về quê và đã sáng tác bài thơ này sau trên 50 năm làm quan ở kinh đô Trường An.

3. Nội dung

– Từ niềm vui pha chút ngậm ngùi của người trở về cố hương sau bao năm xa cách, bài thơ cho thấy tình quê hương thầm kín mà sâu nặng của tác giả.

– Văn bản thơ này cho ta hiểu và thêm quý trọng tấm lòng quê bền chặt của tác giả.

4. Ý nghĩa

Tình yêu quê hương là một trong những tình cảm lâu bền và thiêng liêng nhất của con người.

5. Nghệ thuật

– Từ ngữ mộc mạc giản dị.

– Sử dụng phép đối.

– Giọng điệu vừa khách quan, hóm hỉnh, vừa ngậm ngùi.

Trả lời câu hỏi 1 trang 127 sgk Ngữ văn 7 tập 1

Qua tiêu đề bài thơ, có thể thấy sự biểu hiện tình quê hương ở bài thơ này có gì độc đáo?

(Gợi ý: so sánh với tình huống thể hiện tình quê hương trong bài Tĩnh dạ tứ.)

Trả lời:

– Qua tiêu đề bài thơ, có thể thấy sự biểu hiện tình quê hương ở bài thơ có sự độc đáo là: Nếu đọc nhan đề ta có thể nhận thấy tác giả lúc đầu không có ý định làm thơ khi vừa đặt chân về quê hương nhưng khi về đến nơi, tác giả bị coi là khách nên tác giả mới làm thơ. Vì vậy, bài thơ đã thể hiện tình yêu một cách rất khác đó là: tình yêu quê hương thể hiện ngay khi mới đặt chân về đến quê.

⟹ Tình yêu quê hương sâu nặng, luôn thường trực trong lòng tác giả nên ở bất cứ tình huống nào, nơi đâu thì nó cũng có thể bộc lộ được.

– Khác với Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch ở xa quê nhớ quê nên mới viết về quê.

Trả lời câu hỏi 2 trang 127 sgk Ngữ văn 7 tập 1

Chứng minh hai câu đầu đã dùng phép đối trong câu (còn gọi là tiểu đối, tự đối). Nêu tác dụng của việc dùng phép đối ấy.

Lưu ý: Ở thơ ngũ ngôn và thất ngôn, số chữ của hai vế đối nhau trong câu không bằng nhau, tuy vậy, xét về mặt từ loại và cú pháp, vẫn có thể đối rất chỉnh.

Trả lời:

– Hai câu đầu đã sử dụng phép đối trong câu (tiểu đối) khá chuẩn và chính xác: Thiếu tiểu li gia – lão đại hồi, hương âm vô cải – mấn mao tồi. Mỗi câu có 2 vế, mỗi bộ phận trong mỗi vế đối nhau rất chỉnh.

  • Li gia (rời nhà) đối với đại hồi (trở về).
  • Hương âm (giọng quê hương) đối với mấn mao (tóc mai).

⟹ Đối chỉnh cả lời và ý

  • Thiếu tiểu (lúc nhỏ) đối với lão (về già)
  • Vô cải (không thay đổi) đối với tồi (thay đổi)

⟹ Ý rất chỉnh, đọc lên rất hài hòa.

– Tác dụng của việc dùng phép đối đó là: đã cho ta thấy được ý nghĩa của cuộc đời xa quê của tác giả.

Trả lời câu hỏi 3 trang 127 sgk Ngữ văn 7 tập 1

Kẻ lại bảng sau vào vở và đánh dấu X vào ô mà em cho là hợp lí:

Phương thức biểu đạtTự sựMiêu tảBiểu cảmBiểu cảm qua tự sựBiểu cảm qua miêu tả
Câu 1
Câu 2

Sau khi đánh dấu, có thể dùng lời để giải thích thêm; cũng có thể dùng cách giải thích khác không có trong các ô.

Trả lời:

Phương thức biểu đạtTự sựMiêu tảBiểu cảmBiểu cảm qua tự sựBiểu cảm qua miêu tả
Câu 1XXX
Câu 2XXX

– Câu 1 là kể khái quát, ngắn gọn quãng đời xa quê, làm quan nổi bật sự thay đổi vóc dáng, tuổi tác, hé lộ những tình cảm quê hương của nhà thơ. Đó là cảm xúc buồn buồn , bồi hồi trước sự chay trôi của thời gian.

– Câu 2 là câu miêu tả: về sự thay đổi của mái tóc nhưng giọng quê, tình cảm sâu nặng với quê vẫn vậy.

– Phương thức diễn đạt toàn bài là biểu cảm nhưng là biểu cảm gián tiếp vì trong bài nói chung là có nhiều yếu tố miêu tả đặc biệt là rất nhiều yếu tố tự sự!

Trả lời câu hỏi 4 trang 127 sgk Ngữ văn 7 tập 1

Sự biểu hiện của tình quê hương ở hai câu trên và hai câu dưới có gì khác nhau về giọng điệu?

(Gợi ý: Phân tích xem vì sao chỉ có nhi đồng xuất hiện và sự xuất hiện đó cùng tiếng cười, câu hỏi hồn nhiên, thơ ngây của các em có làm tác giả vui lên không.)

Trả lời:

– Giọng điệu của hai câu đầu tuy nói về sự thay đổi của thời gian và của con người tuy có vẻ khách quan nhưng có gì đó phảng phất buồn.

– Hai câu sau thiên về tự sự và biểu cảm khi có sự xuất hiện của những đứa trẻ nhỏ. Đứa trẻ đó ngơ ngác không biết là ai, chúng coi ông như là một người khách lạ. Xa quê hương của mình và giờ trở về không ai nhận ra mình, tác giả đã sử dụng giọng điệu có chút hóm hỉnh nhưng chứa đựng nỗi buồn trong lòng.

Luyện tập

Trả lời câu hỏi trang 128 sgk Ngữ văn 7 tập 1
Căn cứ vào bản dịch nghĩa bài Hồi hương ngẫu thư và những điều cảm nhận được qua việc học bài thơ, hãy so sánh hai bản dịch thơ của Phạm Sĩ Vĩ và Trần Trọng San.

Trả lời:

So sánh hai bản dịch thơ của Phạm Sĩ Vĩ và Trần Trọng San:

– Giống nhau: đều sử dụng thể thơ lục bát và dịch rất sát nghĩa.

– Khác nhau:

  • Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ không có tiếng cười tếu của trẻ em.
  • Bản dịch của Trần Trọng San các chữ cuối không vần với nhau và âm điệu câu cuối không được mềm mại.

Cùng với Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư, tặng bạn 💔 Sóng Xuân Quỳnh 💔

Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư Bố Cục

Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư Bố Cục để nắm được cấu trúc và nội dung chính của bài thơ.

Bài thơ thể hiện một cách chân thực mà sâu sắc, hóm hỉnh mà ngậm ngùi tình yêu quê hương thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân trở về quê cũ.

Bố cục: 2 phần

STTGiới hạnNội dung
Phần 12 câu thơ đầuHoàn cảnh và tình yêu quê hương của tác giả
Phần 22 câu thơ cuốiTình huống và tâm trạng của tác giả khi về thăm quê

Hai câu thơ đầu

  • Sử dụng từ trái nghĩa tạo nên tiểu đối trong câu thơ: trẻ – già, đi – trở về

⇒ Khắc họa thời gian xa quê của tác giả đã lâu lắm rồi

  • Hình ảnh của nhà thơ khi quay trở lại quê hương:
  • Mấn mao tồi: tóc mai đã rụng, thể hiện dấu hiệu của tuổi tác, mái tó abcj đi theo thời gian
  • Hương âm vô cải: giọng quê không đổi, giọng nói chính là nét đặc trưng của từng vùng miền, là hồn quê, nét quê thể hiện trong sắc điệu giongj nói của con người

⇒ Câu thơ với hai về đối rất chỉnh, qua đó biểu hiện tình cảm gắn bó với quê hương của tác giả, thời gian có trôi đi, tuổi già đi nhưng giọng quê, hồn quê vẫn còn mãi trong tác giả

⇒ Hai câu thơ với nghệ thuật đối đã nhấn mạnh tình cảm thủy chung, gắn bó sâu sắc của tác giả với quê hương của mình

Hai câu còn lại

  • Tình huống trớ trêu của tác giả khi về thăm quê:
  • Người con xưa trở thành người xa lạ, “trẻ con gặp lạ không chào”
  • Trẻ con gọi ông là “khách”
  • Tâm trạng của tác giả: ngạc nhiên, buồn tủi, ngậm ngùi, xót xa bởi mình đã trở thành khách, trở thành người lạ trên chính quê hương của mình

Cùng với Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư, SCR.VN tặng bạn tuyển tập 💧 Thơ Thế Lữ 💧 giàu cảm xúc!

Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư Ngắn Nhất

Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư Ngắn Nhất với những nội dung cơ bản và rút gọn để bạn nắm bắt nhanh được kiến thức trọn tâm.

I. Đôi nét về tác giả Hạ Tri Chương

  • Hạ Tri Chương (659-744), tự Quý Chân, hiệu Tứ Minh cuồng khách, quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc huyện Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc)
  • Ông đỗ tiến sĩ năm 695, sinh sống, học tập và làm quan trên 50 năm ở kinh đô Trường An, rất được Đường Huyền Tông vị nể. Sau đó, ông xin từ quan về làm đạo sĩ
  • Ông là bạn vong niên của thi hào Lí Bạch
  • Ông thích uống rượu, tính tình hào phóng, ông còn để lại 20 bài thơ

II. Đôi nét về tác phẩm Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê

  1. Hoàn cảnh ra đời

Bài thơ được viết nhân lần tác giả tình cờ về thăm quê vào năm 744, khi ông đã 86 tuổi

  1. Bố cục: 2 phần
  • Phần 1 (hai câu thơ đầu): Tình yêu quê hương của tác giả
  • Phần 2 (hai câu còn lại): Tâm trạng của tác giả khi về thăm quê
  1. Giá trị nội dung

Bài thơ thể hiện một cách chân thực mà sâu sắc, hóm hỉnh mà ngậm ngùi tình yêu quê hương thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân trở về quê cũ

  1. Giá trị nghệ thuật
  • Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt
  • Giọng thơ hóm hỉnh, ngậm ngùi
  • Phéo đối
  • Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và biểu cảm

❤️️ Ngoài -, khám phá tại SCR.VN nhiều nội dung thú vị khác ❤️️

👉 Quê Hương Tế Hanh👉 Xuân Diệu Huy Cận
👉 Bài Thơ Nhớ Rừng👉 Thơ Huy Cận
👉 Tiếng Thu Lưu Trọng Lư👉 Ghen Nguyễn Bính
👉 Thơ Nguyễn Du👉 Chân Quê Nguyễn Bính 
👉 Thơ Tình Nguyễn Bính👉 Mưa Xuân Nguyễn Bính

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *