Ca Dao Hài Hước Lớp 10 ❤️️ Soạn Bài Và Giáo Án Trọn Bộ

Ca Dao Hài Hước Lớp 10 ❤️️ Soạn Bài Và Giáo Án Trọn Bộ ✅ Tuyển Tập Những Bài Mẫu Đặc Sắc Và Đầy Đủ Kiến Thức Để Giúp Bạn Học Tốt Ngữ Văn.

Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Là Gì

Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Là Gì? Giải thích những kiến thức cơ bản trong chương trình học giúp học sinh học tập hiệu quả hơn.

– Khái niệm ca dao hài hước: Ca dao hài hước là những bài ca dao được sáng tác để giải trí và phê phán những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống. Ca dao hài hước thể hiện trí thông minh, khiếu hài hước, tâm hồn lạc quan, yêu đời của người lao động.

– Đặc điểm của ca dao hài hước thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, niềm tin vào cuộc sống của nhân dân lao động cho dù cuộc đời còn nhiều gian truân.

– Có hai loại ca dao hài hước gồm:

  • Tiếng cười hài hước tự trào (lấy cái nghèo của mình để tự cười mình, thi vị hóa cảnh nghèo để lạc quan vui sống) là tiếng cười rất cần trong cuộc sống, phù hợp với đặc tính hài hước, ưa trào lộng của nhân dân ta.
  • Tiếng cười giải trí: Chọn lọc những chi tiết điển hình, hư cấu dựng cảnh tài tình, cường điệu phóng đại… để tạo ra những nét hài hước, hóm hỉnh.

– Mục đích của ca dao hài hước là tạo ra tiếng cười giải trí nhưng có nhiều trường hợp dùng tiếng cười để chế giễu những thói hư tật xấu trong nhân dân cũng như phê phán, đả kích những hạng người xấu trong xã hội.

Cùng với Ca Dao Hài Hước Lớp 10, có thể bạn sẽ thích Tuyển tập 🌼 Ca Dao Dân Ca 🌼

Cảm Nhận Về Ca Dao Hài Hước Lớp 10

Chia sẻ bài Cảm Nhận Về Ca Dao Hài Hước Lớp 10 với những nội dung phân tích văn học đặc sắc.

Ca dao hài hước, châm biếm là một bộ phận không thể không thể thiếu của kho tàng ca dao Việt Nam. Những bài ca dao hài hước là tiếng cười mua vui, giải trí thỏa mãn về nhu cầu giải trí tinh thần của người lao động xưa. Bài ca dao còn thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân lao động, họ là những người lạc quan, yêu đời.

Bài ca dao thứ nhất là tiếng cười tự trào, mang ý vị hài hước, vui vẻ của người lao động trong cảnh nghèo. Lời đối đáp giữa chàng trai và cô gái trong việc thách cưới vô cùng lạ lùng, thú vị. Bài ca dao có lối kết cấu đối đáp, lượt lời đầu tiên là của chàng trai, bằng lối nói khoa trương, phóng đại, anh chàng đã nói về những lễ vật của mình.

Nhưng cách nói lại sử dụng biện pháp đối lập: tự nêu ra nhưng chính anh chàng lại tự phủ định: Cưới chàng anh toan dẫn voi/ Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn/ Dẫn trâu, sợ họ máu hàn/ Dẫn bò sợ nhà nàng co gân./ Miễn là có thú bốn chân./ Dẫn con chuột béo mười dân, mời làng.

Lí lẽ anh chàng đưa ra vô cùng hài hước: Dẫn voi thì sợ quốc cấm ; Dẫn trâu thì sợ họ máu hàn ; Dẫn bò thì sợ họ co gân. Và cuối cùng kết luận dùng con chuột béo mời dân mời làng, hi vọng con chuột béo ấy sẽ đủ để mời dân mời làng.

Đáp lại lời chàng trai cô gái cũng hết sức ý nhị, dỉ dỏm, cô thách cưới một nhà khoai lang. Số khoai lang được phân phát theo trình tự hết sức hợp lí : cho dân, cho làng, cho trẻ con và cho cả những con vật trong nhà. Những lời đối đáp ấy đã cho thấy sự chu đáo, biết lo toan, đồng thời cũng rất hồn nhiên, yêu đời của cô gái.

Bài ca dao thể hiện niềm lạc quan, yêu đời, ham sống của người lao động trong cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Đồng thời thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của những chàng trai, cô gái xưa : Chàng trai mang trong mình sự hài hước, lạc quan, vui vẻ, tình cảm chân thành, còn cô gái là sự bằng lòng, vui vẻ, đảm đang, tháo vát, tình cảm và sự chu đáo dành cho làng xóm, họ hàng xung quanh.

Bài ca dao số hai, số ba đều tập trung phê phán những người đàn ông yếu đuối, ươn hèn, vô tích sự. Câu thơ mở đầu bằng mô tip quen thuộc làm trai, nhưng có những điểm khác biệt: Làm trai cho đáng sức trai/ Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng. Câu thơ đầu cho thấy chí làm trai oai hùng đầy kiêu hãnh, như đang gánh vác việc to lớn, việc giang sơn xã tắc.

Nhưng câu thơ thứ hai đã cho thấy rõ công việc anh ta gánh vác gánh hai hạt vừng. Bài ca dao sử dụng biện pháp khoa trương, câu thơ đầu nâng cao rồi đột ngột hạ thấp, để phê phán chàng trai yếu đuối về thể xác, hèn yếu về tinh thần. Quả thật đáng lên án, phê phán.

Bài ca dao sau :
Chồng người đi ngược về xuôi,
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo.

Bài ca dao trên đã sử dụng thủ pháp đối lập giữa chồng người và chồng em, đồng thời gợi lên sự đối lập về không gian: đi ngược về xuôi còn chồng em không gian hoạt động chỉ ở nơi xó bếp, không gian bếp núc vốn của phụ nữ. Để hoàn chỉnh bức tranh về anh chồng nhu nhược, yếu đuối là hành động sờ đuôi con mèo. Qua đó tiếng cười bật lên, hướng vào những ông chồng vô tích sự, lười nhác.

Bài ca dao cuối cùng phê phán những người đàn bà lười biếng, cẩu thả, vô duyên. Trong truyện cười dân gian, các tác giả dân gian thường lấy đối tượng là nam để châm biếm, phê phán như tham lam, khoác lác, lười biếng nhưng người con gái lại rất ít khi trở thành đối tượng để châm biếm, đả kích. Ca dao đã hoàn thiện sự khuyết thiếu đó.

Hình ảnh người phụ nữ ẩu đoảng, lười biếng hiện lên vô cùng rõ nét: Lỗ mũi mười tám gánh lông/ Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho/…/ Trên đầu những rác cùng rơm/ Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu. Bài ca dao chế giễu những người đàn bà đỏng đảnh, vô duyên: Hình dáng thô kệch, xấu xí, có nhiều thói quen xấu: Luộm thuộm, bẩn thỉu.

Tiếng cười cất lên phê phán những người đàn bà đoảng vị đồng thời cũng phê phán những người chồng mù quáng, vì quá yêu vợ mà không phân biệt tốt – xấu, thực – hư.

Ba bài ca dao, tiếng cười ở đây tập trung phê phán cái xấu, cái chưa hoàn thiện trong nội bộ nhân dân. Tiếng cười có ý nghĩa giải trí, đồng thời cũng là cuộc đấu tranh của nhân dân với cái xấu, cái lạc hậu, bảo thủ trong xã hội.

Ca dao hài hước châm biến thành công đều nhờ việc xây dựng tình huống gây cười, hàm chứa những mâu thuẫn gây cười. Biện pháp khoa trương, phóng đại được sự dụng thành công ở cả bốn bài ca dao. Ngoài ra biện pháp nâng cao ở phía trước hạ thấp ở phía sau cũng phát huy tác dụng để phê phán những cái xấu, cái tiêu cực trong xã hội.

Bài ca dao là lời châm biếm hài hước, nhẹ nhàng những thói hư, tật xấu trong xã hội. Đồng thời bài thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người dân lao động xưa: sự lạc quan, yêu đời của họ trong cảnh đời còn nhiều khó khăn, vất vả.

Bên cạnh Ca Dao Hài Hước Lớp 10, mời bạn xem nhiều hơn 🌹 Thơ Ca Dao Hay Nhất 🌹

Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Ngắn Nhất

Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Ngắn Nhất nhưng vẫn đầy đủ những kiến thức cơ bản. Nội dung Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Siêu Ngắn dưới đây rất thích hợp giúp các bạn học sinh ôn tập.

Câu 1 (trang 91 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

  • Việc dẫn cưới và thách cưới không bình thường đó là màn tự trào về cảnh nghèo của người lao động.
  • Chàng trai dẫn cưới: voi, trâu, bò thế nhưng lại viện đủ lí do để khước từ.
  • Cô gái thách cưới “một nhà khoai lang”.

=>Lời thách cưới và dẫn cưới mang tính hài hước chứng minh họ yêu đời, lạc quan.

=>Thể hiện một triết lý nhân sinh: đặt tình nghĩa cao hơn của cải.

  • Bài ca dao có giọng hài hước, dí dỏm, đáng yêu vì có những yếu tố nghệ thuật đặc sắc sau:
  • Lối nói khoa trương, vui tươi: dẫn voi, trâu, bò, nhà khoai lang…
  • Cánh nói đối lập, phủ định: dẫn voi/sợ quốc cấm, dẫn trâu/sợ họ máu hàn, dẫn bò/ sợ họ co gân, dẫn gà lợn/khoai lang.

Câu 2 (trang 91 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

  • Tiếng cười ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả kích, châm biếm, phê phán xã hội.
  • Tiếng cười ở bài 1 là tiếng cười tự trào

Bài 2: – Làm trai … sức trai >< khom lưng … gánh 2 hạt vừng

-> Nghệ thuật phóng đại kết hợp với thủ pháp đối lập nhằm phê phán loại đàn ông yếu đuối không đáng sức trai.

Bài 3: Chồng người đi ngược về xuôi ><chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo

-> Hình ảnh người đàn ông hiện lên vừa hài hước vừa thảm hại: èo uột, lười nhác, ăn bám vợ, suốt ngày ru rú ở xó bếp, không còn phong độ của bậc nam nhi.

Bài 4:

  • Lỗ mũi…gánh lông >< râu rồng trời cho.
  • Ngáy o o >< cho vui nhà.
  • Hay ăn quà >< về nhà đỡ cơm.
  • Đầu ..rác… rơm >< hoa thơm rắc đầu.

-> Châm biếm nhẹ nhàng về loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên qua cái nhìn nhân hậu và cảm thông của dân gian.

Câu 3 (trang 91 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước:

  • Cường điệu, phóng đại, tương phản, đối lập.
  • Hư cấu dựng cảnh tài tình.
  • Dùng ngôn ngữ đời thường mà hàm chứa ý nghĩa sâu sắc.
  • Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú.
  • Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao.

Luyện tập:

Câu 1 (trang 92 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” là một lời ứng xử khôn khéo, thông minh.

  • Cô gái không mặc cảm mà bằng lòng với cảnh nghèo.
  • Cô gái tỏ ra vui vẻ, thích thú.
  • Cô gái vô tư, thanh thản, lạc quan, yêu đời.

=>Tiếng cười tự trào của người lao động đáng yêu và đáng trân trọng vì họ vô tư, hồn nhiên, lạc quan ngay trong cảnh nghèo.

Câu 2 (trang 92 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

  • Lấy chồng cho đỡ nắng mưa
    Chẳng ngờ chồng lại ngủ trưa đến giờ
  • Gái sao chồng đánh chẳng chừa,
    Đi chợ vẫn giữ cùi dừa bánh đa.
  • Sông bao nhiêu nước cũng vừa,
    Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng
  • Thầy cúng ngồi cạnh giường thờ
    Mồm thì lẩm bẩm tay sờ đĩa xôi

Ngoài Ca Dao Hài Hước Lớp 10, tại SCR.VN còn có 🦋 Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Xuân 🦋

Ca Dao Hài Hước Lớp 10

Ca Dao Hài Hước Châm Biếm Lớp 10 Nâng Cao

Ca Dao Hài Hước Châm Biếm Lớp 10 Nâng Cao – Tổng hợp những kiến thức bồi dưỡng học sinh giỏi để tham khảo và sưu tầm.

I– NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN

Ca dao hài hước, châm biếm là những bài ca dao để giải trí hoặc phê phán những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống. Cũng như truyện cười, vè, ca dao hài hước, châm biếm thể hiện tập trung các nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng Việt Nam như: đối lập, phóng đại, chơi chữ, ngoa dụ. Những bài ca dao hài hước đã chứng tỏ sự thông minh, tinh thần đấu tranh và lạc quan của người Việt Nam trong cuộc sống.

II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Đặc điểm về nội dung

Bài 1

Đây là tiếng cười tự trào (tự cười mình) mang ý vị hài hước, vui vẻ của người lao động trong cảnh nghèo. Lời đối đáp giữa chàng trai – cô gái về việc dẫn cưới và thách cưới có những điều lạ lùng. Cưới xin là những công việc quan trọng của một đời người nhưng ta hãy nghe họ nói với nhau những gì.

Bài ca có kết cấu hai vế đối đáp quen thuộc, vế đầu là lời chàng trai. Bằng lối nói khoa trưong, phóng đại, anh nói với nàng về lễ vật dẫn cưới mà mình lựa chọn để hỏi cưới nàng. Một loạt biện pháp đối lập : tự nêu ra, nâng lên rồi lại tự phủ định:

Cưới nàng, anh toan dẫn voi,
Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn.
Dẫn trâu, sợ họ máu hàn,
Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.
Miễn là có thú bốn chân,
Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng. 

Chàng trai đã khéo chọn lí do rất họp lí để phủ định những đồ dẫn cưới cao sang, để tạo nên sự giảm dần : voi -> trâu -> bò -> chuột. Chẳng ai đi dẫn cưới bằng chuột. Nếu bình thường, người nghe có thể cho đây là lối nói mĩ tự, ba hoa hoặc coi thường bạn gái, nhưng nghe lời đối đáp của cô gái thì chúng ta hiểu rằng họ đã rất hiểu nhau.

Cô gái đáp lại cũng bằng lối đùa vui như thế, không mĩ tự, không tự đề cao mà cũng theo lối nói giảm dần : củ to -> củ nhỏ -> củ mẻ -> củ rím, củ hà. Cách nói vui đùa thể hiện ngay ở câu đầu :

Chàng dẫn thế, em lấy làm sang,
Nỡ nào em lại phá ngang như là…
Người ta thách lợn thách gà,
Nhà em thách cưới một nhà khoai lang.

Chàng trai dẫn cưới bằng thú bốn chân (chuột) đã lạ đời. Ở đây cô gái lại thách cưới bằng một nhà khoai lang thì có lẽ trên đời chưa từng có. Cô lại phân loại cả “nhà khoai” ấy thành các loại trong sự tính toán tỉ mỉ, kĩ càng. Củ to mời làng ; củ nhỏ mời họ hàng ; củ mẻ cho trẻ ăn ; củ rím, củ hà thì cho gà, lợn ăn.

Đây là một chàng trai biết lo xa, biết tính toán và có trách nhiệm với nhà gái ; còn cô gái thì tỏ ra là một cô gái thật biết quán xuyến việc nhà, tằn tiện lo toan. Bài ca dao là tiếng cười vui, sảng khoái, cười cợt với cái nghèo của mình và của bạn. Họ không mặc cảm, tự ti khi nói ra cái nghèo của mình, và họ cũng tỏ ra bình thản, thông cảm với cái nghèo của bạn biết bao.

Phải chăng khi hai người đối đáp xong bài ca, cả hai cùng cười vui giòn giã. Quả là người Việt Nam có tâm hồn thật khoẻ khoắn, lạc quan, dẫu trong cảnh ngộ nào cũng có thể tìm thấy cái lẽ vui sống một cách lành mạnh, khiến cho họ dường như không bao giờ bị đè bẹp bởi hoàn cảnh mà luôn đứng cao hơn hoàn cảnh.

Nghệ thuật gây cười của bài ca là nghệ thuật nâng cao – hạ thấp, lựa chọn sự vật phù hợp với lập luận của mình để đưa ra các chi tiết hài hước nhất, làm điểm nhấn tạo nên cao trào bật ra tiếng cười :

– Miễn là có thú bốn chân,
Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.

– Bao nhiêu củ rím, củ hà,
Để cho con lợn, con gà nó ăn…

Thách cưới bằng khoai lang và còn phải lo cả củ rim, củ hà nửa thì thật nực cười. Thủ pháp gây cười là tạo nên chi tiết sinh động làm bật ra tiếng cười với chi tiết hài hước sinh động nhất.

Bài 2,3:

Hai bài ca dao này cùng có chung cảm hứng phê phán những người đàn ông yếu đuối, ươn hèn, vô tích sự. Nghệ thuật tạo dựng cái cười là biết đi vào khai thác những cái trái tự nhiên, trái với những quy luật của cuộc sống hằng ngày. Cái đáng cười là cái chứa đựng mâu thuẫn.

Mâu thuẫn trong cái đáng cười này là lẽ ra những người đàn ông trong con mắt người đời, đặc biệt là trong xã hội phong kiến phụ quyền thì rất đỗi oai phong. Họ thuộc phái mạnh, luôn là chỗ dựa để người phụ nữ nương tựa (người phụ nữ xưa lấy chồng luôn mong mỏi được có chỗ dựa vững chắc, được “núp bóng tùng quân”).

Đã có bao câu ca lưu truyền mở đầu bằng hai chữ “làm trai” hàm ý tôn vinh bậc nam nhi:

-Làm trai quyết chí tang bồng
Sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam.

-Làm trai cho đáng nên trai,
Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan.

-Làm trai cho đáng nên trai,
Phú Xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng.

Cùng hệ thống câu mở đầu, nhưng những bài ca dao sau đây lại chứa đựng ý nghĩa khác. Hai bài ca tạo nên tiếng cười trào phúng bởi chúng được xây dựng nhờ thủ pháp đối lập, nâng cao để hạ thấp, đột ngột tạo sự bất ngờ:

Làm trai cho đáng sức trai,
Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng.

Những chữ đầu phản ánh chí làm trai oai hùng đầy kiêu hãnh. Phải chăng chàng trai đang khom lưng chống gối gánh vác son hà ? Nhưng không, chàng trai này lại “khom lưng chống gối” để “gánh hai hạt vừng”. Bài ca dao sử dụng thủ pháp nâng cao rồi đột ngột hạ thấp, khoa trương phóng đại tối đa, phê phán chàng trai yếu đuối về thể xác và chắc chắn yếu đuối cả về tinh thần.

Chồng người đi ngược về xuôi,
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo.

Bài ca dao trên đã sử dụng thủ pháp đối lập giữa “chồng người” – “chồng ta”. Sự đối lập về không gian hoạt động “đi ngược về xuôi” <-> “ngồi bếp”. Ngồi bếp làm gì ? Chỉ rụt rè sờ đuôi con mèo -> có khác chi con mèo lười nơi xó bếp ? Qua đó tiếng cười hướng vào nhông “đức ông chồng” vô tích sự, lười nhác, ươn hèn, và còn rất nhiều những câu ca dao tương tự:

– Chồng người đi Hán về Hồ 
Chồng em ngồi bếp rang ngô cháy quần.

– Chồng người lội suối trèo đèo 
Chồng em cầm đũa đuổi mèo quanh mâm.

Bài 4:

Bài ca dao này phê phán những người đàn bà lười biếng, cẩu thả, bẩn thỉu, vô duyên. Có một điều đặc biệt là truyện cười dân gian hay lấy nhân vật nam giới làm đối tượng gây cười như tham lam, khoác lác, lười biếng, phụ nữ ít bị trở thành đối tượng gây cười. Ca dao hài hước đã làm nhiệm vụ cân bằng lại sự thiếu khuyết đó.

Trong ca dao trào phúng, không ít lần người phụ nữ bị phê phán, chê cười bởi những thói xấu của họ. Thủ pháp phóng đại, cường điệu được sử dụng tạo ấn tượng phê phán rất mạnh :

Lỗ mũi mười tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.
Đèm nằm thì ngáy o o …
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu!

Tiếng cười cất lên phê phán những người đàn bà đoảng vị, đồng thời cũng có ý phê phán những người chồng mù quáng, quá yêu vợ mà không phân biệt được tốt – xấu, thực – hư.

Nếu tiếng cười ở bài 1 là tiếng cười tự trào, hài hước có mục đích mua vui, giải trí, thể hiện nét đẹp lạc quan, vui sống, chấp nhận cái nghèo, cảm thông chia sẻ với những người cùng cảnh ngộ thì ba bài ca dao hài hước sau không có ý nghĩa như thế. Ba bài này, tiếng cười có ý nghĩa phê phán cái xấu, cái chưa hoàn thiện trong nội bộ nhân dân.

Tiếng cười có ý nghĩa giải trí, là hoa tặng cuộc đời, đồng thời là công cụ đấu tranh với những cái lạc hậu, bảo thủ trong nội bộ nhân dân và cả với kẻ thù của xã hội. Cái cười thường nhân danh cái đẹp để phê phán cái xấu vói hi vọng thanh lọc những điều chưa tốt đẹp và vươn tới sự hoàn thiện của cái tốt, cái đẹp.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

-Bốn bài ca đều thành công nhờ sự tạo dựng tình huống gây cười, hàm chứa các mâu thuẫn :

+ Việc có ý nghĩa trọng đại như cưới xin <-> với đồ dẫn cưới có tính chất đùa vui (bài 1).
+ Người đàn ông lẽ ra phải mạnh mẽ, giỏi giang <-> với người đàn ông lười nhác, ươn hèn, yếu ớt (bài 2) ; đối lập chồng người <-> chồng ta (bài 3).
+ Người đàn bà lẽ ra phải duyên dáng, sạch sẽ <-> với người đàn bà cẩu thả, luộm thuộm, vô duyên ; vợ xấu <-> chồng cho là đẹp (bài 4).

-Biện pháp phóng đại, khoa trương được sử dụng ở cả bốn bài ca :

+ Dần cưới bằng chuột, bằng khoai rím, khoai hà,… (bài 1).
+ “Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng…” (bài 2).
+ “Lỗ mũi mười tám gánh lông…” ; “Đêm nằm thì ngáy o o…” (bài 4).

-Biện pháp “nâng cao hạ thấp” tạo sự bất ngờ khiến tiếng cười vang lên giòn giã (bài 1, 2).

Cùng với Ca Dao Hài Hước Lớp 10, giới thiệu những thông tin mới có trong bài viết 🌟 Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Bạn 🌟

Ca Dao Hài Hước Lớp 10

Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Giáo Án

Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Giáo Án chuẩn xác. Cung cấp những mẫu bài soạn đầy đủ kiến thức giúp bạn chuẩn bị bài học một cách tốt nhất.

Trả lời câu 1 trang 91 SGK Ngữ văn 10, tập 1

– Việc dẫn cưới và thách cưới kì lạ, khác thường:

+ Cưới xin là việc trọng đại, lễ vật dẫn cưới và thách cưới thường sang trọng, đầy đủ, đúng lễ nghi, đúng phong tục.

+ Trong bài ca dao, anh dẫn cưới bằng con chuột béo còn nàng thách cưới một nhà khoai lang.

Lễ vật dẫn cưới và thách cưới kì lạ và buồn cười =>Đó đều là những vật quá đỗi tầm thường, bé nhỏ, giá trị ít ỏi, không xứng với đám cưới theo lẽ thường.

– Cách nói của chàng trai và cô gái:

+ Cách nói của chàng trai: khoa trương, phóng đại; cách nói đối lập (dẫn voi – sợ quốc cấm, dẫn trâu – sợ họ nhà gái máu hàn, dẫn bò – sợ họ nhà nàng co gân), lối nói đùa hài hước (Miễn là có thú bốn chân/Dẫn con chuột béo mời dân mời làng).

+ Cách nói của cô gái: lời thách cưới vô tư, vui vẻ (Nhà em thách cưới một nhà khoai lang), cách nói đối lập (lợn già – khoai lang).

+ Cả hai đếu sử dụng lối nói giảm dần: voi – trâu – bò – chuột (trong lời chàng trai), củ to – củ nhỏ – củ mẻ – củ rím, củ hà (trong lời cô gái).

=> Đây là tiếng cười tự trào của người lao động bình dân. Họ tự cười mình trong cảnh nghèo, điều đó thể hiện lòng yêu đời, tinh thần lạc quan, bản lĩnh sống và quan niệm sống coi trọng nghĩa tình hơn của cải ở họ.

Câu 2

Trả lời câu 2 trang 91 SGK Ngữ văn 10, tập 1

Bài ca daoĐối tượng cườiNghệ thuật gây cườiMục đích cườiThái độ
Bài 2Loại đàn ông yếu đuối, không đáng nên traiCách nói phóng đại và đối lập giúp dựng lên bức tranh châm biếm hài hướcTiếng cười trong nội bộ nhân dân nhằm nhắc nhở nhau tránh những thói hư tật xấu mà con người thường mắc phảiNhẹ nhàng, thân tình, mang tính giáo dục, nhắc nhở
Bài 3Loại đàn ông lười nhác, không có chí lớnMượn lời người vợ than thở về chồng, cách nói đối lập.
Bài 4Loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyênCách nói phóng đại và trí tưởng tượng phong phú giúp dựng lên bức tranh hư cấu hài hước

Câu 3

Trả lời câu 3 trang 91 SGK Ngữ văn 10, tập 1

– Lối nói phóng đại, khoa trương và tương phản đối lập.

– Sử dụng các chi tiết hài hước và kết cấu bất ngờ, thú vị.

– Dùng ngôn ngữ đời thường mà chứa hàm ý sâu xa.

– Hư cấu dựng cảnh tài tình, khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình với những chi tiết có giá trị khái quát cao.

Luyện tập

Câu 1 (trang 92 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

– “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” là một lời ứng xử khôn khéo, thông minh. cô gái không những không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, tỏ ra vui và thích thú trong lời thách cưới.

=> Lời thách cưới ấy là tiếng cười tự trào của người lao động. Nó tô đậm vẻ đẹp tâm hồn, sự vô tư, hồn nhiên và niềm lạc quan yêu đời của họ ngay trong cảnh nghèo nàn.

Câu 2 (trang 92 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

– Lấy chồng cho đỡ nắng mưa
Chẳng ngờ chồng lại ngủ trưa đến giờ

– Gái sao chồng đánh chẳng chừa,
Đi chợ vẫn giữ cùi dừa bánh đa.

Tiếp theo Ca Dao Hài Hước Lớp 10, tổng hợp nội dung dành cho bạn với ☔ Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương

Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Giáo Án Điện Tử

Để có những tiết học hiệu quả và bổ ích, bạn có thể tham khảo nội dung Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Giáo Án Điện Tử dưới đây.

Hoạt động của GV- HSNội dung cần đạt
Hoạt động 1: Khởi động
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập GV chia lớp thành 4 nhóm tham gia trò chơi: Đọc thuộc một số câu ca dao hài hước mà em biết
-Trong vòng 5 phút nhóm nào đọc được nhiều bài ca dao hơn nhóm đó sẽ thắng.
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập
Bước 3: HS trình bày bằng cách cử một bạn trong nhóm trả lời trực tiếp GV.
Bước 4: Dự kiến sp của HS, GV chốt ý
– GV dẫn dắt vào bài mới:Ca dao ra đời từ ngàn xưa, gắn bó với niềm vui, nỗi buồn, niềm tự hào, nỗi đắng cay của nhân dân lao động. Nếu những câu ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa phản chiếu đời sống tình cảm của người dân lao động, chứa đựng những đạo lí sâu sắc thì những câu ca dao hài hước phản chiếu tiếng cười hóm hỉnh, hồn nhiên, tâm hồn lạc quan, yêu đời của họ. Tiết học hôm nay, cô và các em sẽ tìm hiểu về ca dao hài hước để cảm nhận rõ hơn điều đó.
– Hs đọc đúng được các câu ca dao theo chủ đề yêu cầu của GV
– GV nhấn mạnh để chuyển hoạt động: Ca dao là thể loại trữ tình của văn học dân gian VN. Đây là thể loại có giá trị thẩm mĩ cao, tạo được sức hấp dẫn lâu dài với bạn đọc.
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức Thao tác 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu chung về ca dao hài hước – Mục tiêu: Giúp học sinh hiểu đặc điểm của ca dao hài hước, đặc điểm của ca dao hài hước. ­
– Phương tiện dạy học: bảng phụ, bút dạ. – Kĩ thuật dạy học: công não, thông tin – phản hồi.
– Hình thức tổ chức dạy học: học sinh làm việc độc lập.
– Các bước thực hiện:
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập Dựa vào sách giáo khoa và những hiểu biết của em về văn học dân gian, em hãy nêu cách hiểu về khái niệm ca dao hài hước và đặc điểm của ca dao hài hước?
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
HS: suy nghĩ, thảo luận, ghi vào bảng phụ. GV: Quan sát, hỗ trợ học sinh.
Bước 3: Báo cáo kết quả
HS mỗi nhóm cử đại diện, báo cáo kết quả thảo luận.
GV quan sát, hỗ trợ.
Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
GVnhận xét, chuẩn hóa kiến thức.  
I. Tìm hiểu chung          
1. Khái niệm ca dao hài hước
– Ca dao hài hước là những bài ca dao được sáng tác để giải trí và phê phán những hiện tượng đángcười trong cuộc sống . Ca dao hài hước thể hiện tríthông minh, khiếu hài hước, tâm hồn lạc quan, yêu đời của người lao động.
2. Đặc điểm của ca dao hài hước
a. Về nội dung
– Ca dao hài hước thể hiện tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào, tiếng cười lạc quan, yêu đời của người lao động trước cuộc sống còn nhiều vất vả, lo toan.
– Ca dao hài hước thể hiện tiếng cười phê phán, đả kích những thói hư tật xấu của một bộ phận người dân trong xã hội.
b. Nghệ thuật
– Nghệ thuật hư cấu, dựng cảnh tài tình, chọn lọc những chi tiết điển hình, cường điệu, phóng đại.
– Sử dụng ngôn ngữ đời thường mà hàm chứa ý nghĩa sâu sắc để tạo ra những nét hài hước, hóm hỉnh.
Thao tác 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu các bài ca dao hài hước
– Mục tiêu: Giúp học sinh cảm nhận được cười lạc quan trong ca dao qua nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh của người dân lao động xưa. ­
– Phương tiện dạy học: bảng phụ, bút dạ. – Kĩ thuật dạy học: công não, thông tin – phản hồi, phòng tranh.
– Hình thức tổ chức dạy học: học sinh làm việc độc lập kết hợp với thảo luận nhóm.1: Đọc hiểu khái quát văn bản
– Các bước thực hiện:
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập
GV: Các em vừa được nghe cô và các bạn đọc từng bài ca dao, trước khi đi vào tìm hiểu từng bài, em hãy phân loại những bài ca dao trên dựa trên đặc điểm nội dung của ca dao hài hước.
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
HS: suy nghĩ, thảo luận, ghi vào bảng phụ. GV: Quan sát, hỗ trợ học sinh.
Bước 3: Báo cáo kết quả
HS mỗi nhóm cử đại diện, báo cáo kết quả thảo luận.
GV quan sát, hỗ trợ.
Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
GV nhận xét, chuẩn hóa kiến thức, chuyển giao nhiệm vụ mới.
GV: Nhận xét, chốt lại kiến thức.
II. Đọc hiểu văn bản        1. Đọc hiểu khái quát văn bản 
– Phân loại:
+ Bài 1: Tiếng cười tự trào.
+ Bài 2,3,4: Tiếng cười phê phán.   
2: Tìm hiểu bài ca dao số 1: Tiếng cười tự trào
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập
GV chia HS thành 4 nhóm, chuyển giao nhiệm vụ: Câu hỏi chung:
– Bài ca dao đề cập đến phong tục gì của người Việt Nam? Phong tục ấy có vị trí và vai trò như thế nào trong đời sống của người Việt? Em hãy nêu những hiểu biết của em về phong tục ấy.
– Bài ca dao này được kết cấu theo hình thức nào? Hình thức ấy có vai trò gì trong việc biểu hiện nội dung của bài ca dao? Câu hỏi thảo luận nhóm:
Nhóm 1 – 2: Trong lời đối (lời dẫn cưới), chàng trai đã dự định dẫn cưới bằng những lễ vật gì? Trên thực tế, chàng trai đã dẫn cưới bằng lễ vật gì? Qua lễ vật đó, em hiểu gì về hoàn cảnh, tâm hồn của chàng trai?
Nhóm 3 – 4: Trong lời thách cưới, cô gái đã thách cưới bằng lễ vật gì? Cách nói của cô gái có gì đặc biệt? Qua lời thách cưới, em hiểu gì về tâm hồn của cô gái?
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
HS: suy nghĩ, thảo luận, ghi vào bảng phụ.
GV: Quan sát, hỗ trợ học sinh.
Bước 3: Báo cáo kết quả
HS mỗi nhóm cử đại diện, báo cáo kết quả thảo luận.
GV quan sát, hỗ trợ.                
Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
GVnhận xét, chuẩn hóa kiến thức                                             
3 – Tìm hiểu bài ca dao số 2: Tiếng cười phê phán.
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập
GV chia HS thành 2 nhóm, chuyển giao nhiệm vụ:
Nhóm 1: Bài ca dao số 2 chế giễu đối tượng nào trong xã hội? Thái độ của tác giả dân gian đối với những đối tượng đó như thế nào?
Nhóm 2: Tiếng cười bật ra trong bài ca dao này nhờ những thủ pháp nghệ thuật nào? Nêu tác dụng của thủ pháp nghệ thuật đó?
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
HS: suy nghĩ, thảo luận, ghi vào bảng phụ.
GV: Quan sát, hỗ trợ học sinh.
Bước 3: Báo cáo kết quả
HS mỗi nhóm cử đại diện, báo cáo kết quả thảo luận.
GV quan sát, hỗ trợ.
Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
GV nhận xét, chuẩn hóa kiến thức  
Thao tác 3: Tổng kết
– Mục tiêu: Giúp học sinh khái quát những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của ca dao hài hước
– Kĩ thuật dạy học: công não – thông tin phản hồi.
– Hình thức tổ chức dạy học: học sinh làm việc độc lập.
– Các bước thực hiện:
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập
GV: Em hãy khái quát những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của ca dao hài hước
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ – Học sinh suy nghĩ, ghi câu trả lời vào giấy nháp.
– Giáo viên quan sát, hỗ trợ học sinh.
Bước 3: Báo cáo kết quả thảo luận
– Học sinh trả lời. – Học sinh khác thảo luận, nhận xét.
– GV: Quan sát, hỗ trợ học sinh. Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
– Giáo viên nhận xét,chuẩn hóa kiến thức 
2. Đọc hiểu chi tiết văn bản
2. 1. Bài 1 – Tiếng cười tự trào
– Bài ca dao đề cập đến phong tục cưới hỏi của người Việt Nam. Đối với người Việt, cưới hỏi là một việc hệ trọng, thường được tổ chức linh đình. Lễ vật cưới hỏi thường là những lễ vật sang trọng, thể hiện thái độ tôn trọng giữa hai bên gia đình nhà trai và nhà gái.
– Bài ca dao được kết cấu theo hình thức đối đáp. Lời đối là lời dẫn cưới của chàng trai và lời đáp là lời thách cưới của cô gái. Kiểu kết cấu này giúp cho nhân vật trữ tình bộc lộ tình cảm một cách tự nhiên, hài hước, dí dỏm.
a. Lời dẫn cưới
– Ý định dẫn cưới:
+ Dẫn voi:
+ Dẫn trâu.
+ Dẫn bò.
=> Lễ vật trong dự định sang trọng, linh đình, hoành tráng, có giá trị, thể hiện rõ thái độ trân trọng của chàng trai đối với cô gái.
– Lí do không thể thực hiện ý định:
+ Dẫn voi: quốc cấm.
+ Dẫn trâu: sợ họ máu hàn.
+ Dẫn bò: sợ họ nhà nàng co gân.
=> Lí do khách quan, chính đáng, thể hiện rõ sự chu đáo của chàng trai đối với gia đình nhà gái, đồng thời cũng đã bộc lộ sự thông minh, hóm hỉnh của chàng trai này. Dù nghèo nhưng vẫn có cách nói để xua đi mặc cảm nghèo hèn, thể hiện tâm hồn lạc quan, yêu đời.
– Quyết định cuối cùng: “miễn là có thú bốn chân”
=> cách lập luận thông minh, dí dỏm, bất ngờ. Voi, trâu, bò và chuột dù khác nhau nhưng đều là “thú bốn chân”
=> “con chuột béo” là lễ vật khác thường, bất ngờ nhưng vẫn xứng đáng bởi nó đáp ứng được yêu cầu cơ bản của lễ vật đem ra dẫn cưới
=> Nghệ thuật khoa trương, phóng đại và cách lập luận tài tình, thông minh, hóm hỉnh, cách nói đối lập giữa ý định và việc làm thực tế, cách nói giảm dần đã tạo cho bài ca dao tiếng cười hài hước, dí dỏm, từ đó, thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời của người lao động trước cảnh nghèo. Chàng trai không hề mặc cảm mà vẫn tìm thấy niềm vui ngay trong hoàn cảnh nghèo khó của mình.
b. Lời thách cưới
– Người ta: thách lợn, thách gà
=> thách cưới bằng những lễ vật sang trọng, có giá trị.
– Cô gái thách cưới: một nhà khoai lang => lễ vật bình dị, gần gũi nhưng cũng là lễ vật khác thường, thể hiện sự thông cảm, thấu hiểu cùa cô đối với chàng trai.
– Lập luận:
+ Củ to: mời làng.
+ Củ nhỏ: họ hàng ăn.
+ Củ mẻ: con trẻ ăn.
+ Cù hà, củ rím: con lợn, con gà nó ăn.
=> Cách nói giảm dần, thể hiện rõ sự ân cần, chu đáo của cô gái, đồng thời, bộc lộ tiếng cười vui tươi, hóm hỉnh của cô trước cảnh nghèo.
=> Lời dẫn cưới và lời thách cưới đều thật hóm hỉnh, hài hước, vô tư mà chân thành. Cả chàng trai và cô gái đều không mặc cảm mà bằng lòng với cảnh nghèo, thấu hiểu, đồng cảm, chia sẻ với nhau. Tất cả đã khiến cho bài ca dao trở nên dí dỏm, đáng yêu thể hiện quan niệm nhân sinh cao đẹp của người lao động: đặt tình nghĩa cao hơn của cải.
2. 2. Bài 2: Tiếng cười phê phán
a. Bài ca dao số 2 – Đối tượng chế giễu: loại đàn ông yếu đuối, lười nhác trong xã hội.
+ Loại đàn ông yếu đuối, không đáng sức trai, không đáng nên trai: khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng.
– Nghệ thuật: phóng đại kết hợp đối lập:
+ Đối lập trong hình ảnh: khom lưng chống gối (ráng hết sức) chỉ để “gánh hai hạt vừng”.
+ Đối lập giữa “chồng người” – “chồng em”.
=> Chính sự phóng đại và đối lập ấy đã tạo nên tiếng cười một cách tự nhiên, hóm hỉnh.
=> Nghệ thuật trào lộng của người bình dân thật thông minh, hóm hỉnh nhưng không nhằm đả kích mà chỉ dùng tiếng cười để nhắc nhở một cách nhẹ nhàng.  
III. Tổng kết
1. Nội dung: tiếng cười tự trào và tiếng cười phê phán, thể hiện tâm hồn lạc quan, yêu đời của người dân lao động.
2. Nghệ thuật:
+ Hư cấu, dựng cảnh tài tình.
+ Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình với những chi tiết có giá trị khái quát cao.
+ Cường điệu, phóng đại, tương phản – đối lập.
+ Dùng ngôn ngữ đời thường mà hàm chứa ý nghĩa sâu sắc.    
Hoạt động 3: Luyện tập
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập
Hãy tìm những câu thơ, ca dao thể hiện việc coi trọng tình nghĩa hơn của cải và thể hiện chí hướng nam nhi?
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
– Học sinh suy nghĩ, ghi câu trả lời vào giấy nháp.
– Giáo viên quan sát, hỗ trợ học sinh.
Bước 3: Báo cáo kết quả thảo luận
– Học sinh trả lời.
– Học sinh khác thảo luận, nhận xét.
– GV: Quan sát, hỗ trợ học sinh.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
– Giáo viên nhận xét,chuẩn hóa kiến thức       
Câu thơ, ca dao thể hiện việc coi trọng tình nghĩa hơn của cải và thể hiện chí hướng nam nhi?
“Chồng em áo rách em thương   
người áo gấm xông hương mặc người” 
Làm trai cho đáng nên trai    
Lên Đông, Đông tĩnh, xuống Đoài, Đoài yên.  
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. 
Làm trai đứng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.  
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn
Lừng lẫy làm cho lở núi non 
Làm trai cho đáng nên trai Phú Xuân đã trải Đồng Nai cũng từng.
Hoạt động 4: Vận dụng
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập
Câu hỏi 1: Bài ca dao Cưới nàng anh toan dẫn .. có âm điệu như thế nào?
a. Hài hước, dí dỏm nhưng mang sự xót xa, cay đắng.
b. Hài hước, dí dỏm, đáng yêu.
c. Hài hước, dí dỏm pha chút mỉa mai.
d. Hài hước, giễu nhại, vui vẻ.
Câu hỏi 2: Bài ca dao Lỗ mũi mười tám gánh lông … phê phán:
a. Những người ưa nịnh.
b. Những người chồng lười nhác.
c. Những người phụ nữ tham ăn.
d. Những người phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên.
Câu hỏi 3:Đặc điểm nghệ thuật nào sau đây nói lên sự khác nhau giữa ca dao hài hước và ca dao yêu thương tình nghĩa?
a. Dùng nhiều ẩn dụ, so sánh.
b. Dùng nhiều cường điệu, phóng đại.
c. Dùng nhiều so sánh, hoán dụ.
d. Dùng nhiều ẩn dụ, hoán dụ.
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
– Học sinh suy nghĩ, ghi câu trả lời vào giấy nháp.
– Giáo viên quan sát, hỗ trợ học sinh.
Bước 3: Báo cáo kết quả thảo luận
– Học sinh trả lời.
– Học sinh khác thảo luận, nhận xét.
– GV: Quan sát, hỗ trợ học sinh.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
– Giáo viên nhận xét,chuẩn hóa kiến thức
                 
TRẢ LỜI 1=b 2= d 3=b             
Hoạt động 5: Mở rộng, sáng tạo
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập
Em hãy tìm những câu ca dao sử dụng những thủ pháp nghệ thuật hoặc môtip quen thuộc và có nội dung phê phán nam giới như bài ca dao trên?  
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
– Học sinh suy nghĩ, ghi câu trả lời vào giấy nháp.
– Giáo viên quan sát, hỗ trợ học sinh.
Bước 3: Báo cáo kết quả thảo luận
– Học sinh trả lời.
– Học sinh khác thảo luận, nhận xét.
– GV: Quan sát, hỗ trợ học sinh.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
– Giáo viên nhận xét,chuẩn hóa kiến thức
Gợi ý :
– Làm trai cho đáng nên trai
Ăn cơm với vợ lại nài vét niêu  
– Làm trai  cho đáng nên trai
Vót đũa cho dài ăn vụng cơm con  
– Làm trai cho đáng nên trai
Một trăm đám cỗ chẳng sai đám nào.  

Ngoài Ca Dao Hài Hước Lớp 10, khám phá tiếp 🍁 Ca Dao Về Vợ Chồng Hạnh Phúc 🍁

Ca Dao Hài Hước Lớp 10

Những Câu Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Facebook

Tổng hợp Những Câu Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Facebook di dỏm và giàu ý nghĩa được chia sẻ nhiều.

  • Bà Bảy đã tám mươi tư
    Ngồi trông cửa sổ gửi thư kén chồng.
  • Cái bống cõng chồng đi chơi
    Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng
    Chị em ơi, cho tôi mượn cái gàu sòng
    Để tôi tát nước múc chồng tôi lên
  • Còn duyên kén cá chọn canh
    Hết duyên ếch đực, cua kềnh cũng vơ
    Còn duyên kén những trai tơ
    Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng.
  • Ăn rồi nằm ngả nằm nghiêng
    Có ai lấy tớ thì khiêng tớ vào.
  • Lấy chồng từ thủa mười lăm
    Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi
    Đến khi mười tám đôi mươi
    Tối nằm dưới đất, chồng lôi lên giường
    Một rằng thương hai rằng thương
    Có bốn chân giường gãy một còn ba!
  • Học hành ba chữ lem nhem
    Thấy gái thì thèm như chửa thèm chua.
  • Rung rinh nước chảy qua đèo
    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng.
  • Hòn đất mà biết nói năng
    Thì thầy Địa lý hàm răng chẳng còn.
    Tử vi xem số cho người
    Số thầy thì để cho ruồi nó bâu.
  • Muốn ăn gắp bỏ cho người,
    Gắp đi gắp lại, lại rơi vào mình.
  • Cây cao bóng mát không ngồi
    Ra ngồi chỗ nắng trách trời không mây.
  • Gái chưa chồng hay đi chợ,
    Trai chưa vợ ruột tợ trái chanh.
  • Tuổi nàng đã chẵn hai mươi,
    Tuổi anh hăm mốt tốt tươi quá chừng.
  • Công anh chăn nghé đã lâu,
    Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày.
  • Sông bao nhiêu nước cho vừa,
    Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng.
  • Gió thu thổi ngọn phù dung,
    Dạ nàng dù sắt anh nung cũng mềm.

Bên cạnh Ca Dao Hài Hước Lớp 10, còn thêm những nội dung thú vị có trong bài viết ☘ Chơi Chữ Thả Thính

Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Trang 90

Chia sẻ bài giảng Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Trang 90 theo sách giáo khoa đầy đủ kiến thức cơ bản bằng video dưới đây. Mời bạn cùng theo dõi.

Bên cạnh đó, có thể bạn sẽ thích 🌼 Ca Dao Về Tình Cảm Gia Đình 🌼

Viết một bình luận